1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

76 23 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đình Chỉ Xét Xử Phúc Thẩm Vụ Án Dân Sự
Tác giả Trần Thị Thảo
Người hướng dẫn ThS. Huỳnh Quang Thuận
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân sự
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2017
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,51 MB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÌNH CHỈ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ (13)
    • 1.1. Khái niệm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự (13)
    • 1.2. Đặc điểm pháp lý của đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự (14)
    • 1.3. Phân biệt đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự và đình chỉ giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm (16)
    • 1.4. Quy định về đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự của một số nước (19)
      • 1.4.1. Quy định về đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự của Liên bang Nga (19)
      • 1.4.2. Quy định về đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự của Cộng hòa Pháp (20)
  • CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ ĐÌNH CHỈ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ (24)
    • 2.1. Căn cứ đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự (24)
      • 2.1.1. Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế (24)
      • 2.1.2. Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó (27)
      • 2.1.3. Người kháng cáo rút kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút kháng nghị (29)
      • 2.1.4. Người kháng cáo đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt (31)
    • 2.2. Thẩm quyền đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự (33)
    • 2.3. Hình thức của việc đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự (0)
    • 2.4. Hậu quả pháp lý của việc đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự (36)
  • CHƯƠNG 3: NHỮNG BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CHỈ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ (39)
    • 3.1. Về cách thức giải quyết trong trường hợp nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó (39)
    • 3.2. Về căn cứ người kháng cáo rút kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút kháng nghị (44)
    • 3.3. Về căn cứ người kháng cáo được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt (49)
    • 3.4. Bộ luật Tố tụng dân sự chưa quy định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án đối với trường hợp đơn kháng cáo không hợp lệ (52)
    • 3.5. Về việc xác định thẩm quyền đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự (55)
    • 3.6. Về hiệu lực pháp luật của bản án, quyết định sơ thẩm khi Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự (58)
    • 3.7. Về hình thức của việc đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự (59)
  • KẾT LUẬN (23)

Nội dung

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÌNH CHỈ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

Khái niệm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

Theo từ điển tiếng Việt, “đình chỉ” là “ngừng lại hoặc làm cho phải ngừng lại trong một thời gian hoặc vĩnh viễn” 1

Xét xử, theo từ điển Luật học, là hoạt động đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra phán xét về tính chất và mức độ pháp lý của nó Từ đó, nhân danh Nhà nước, Tòa án sẽ đưa ra phán quyết tương ứng với bản chất và mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc Chức năng và thẩm quyền xét xử thuộc về Tòa án.

Phúc thẩm là quá trình xét lại các vụ án đã được Tòa án cấp dưới xử sơ thẩm nhưng chưa có hiệu lực pháp luật và bị kháng cáo hoặc kháng nghị Tòa án cấp trên thực hiện kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định từ Tòa án sơ thẩm Kiểm tra tính hợp pháp liên quan đến việc áp dụng đúng pháp luật, bao gồm cả pháp luật nội dung và tố tụng, trong khi kiểm tra tính có căn cứ tập trung vào việc xác minh chứng cứ và sự phù hợp của kết luận với hồ sơ vụ án Bản án và quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm sẽ có hiệu lực thi hành ngay sau khi được ban hành.

Theo từ điển luật học, vụ án dân sự được định nghĩa là sự việc phát sinh tại Tòa án, thuộc thẩm quyền xét xử dân sự Vụ án này có thể được khởi kiện bởi cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, hoặc tổ chức xã hội, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, của Nhà nước, của tập thể, hoặc của người khác.

Đình chỉ XXPT vụ án dân sự có thể hiểu là việc ngừng lại hoặc yêu cầu ngừng lại hoạt động xét lại và đánh giá lại bản chất pháp lý của vụ án, có thể là tạm thời hoặc vĩnh viễn.

1 Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng-Trung tâm từ điển học, Đà Nẵng, tr 450

2 Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, Từ điển Luật học, NXB Từ điển bách khoa, NXB Tư pháp, tr 869-870

3 Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, tlđd(2), tr 626

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), kháng cáo hoặc kháng nghị có thể được thực hiện đối với các bản án sơ thẩm của Tòa án cấp dưới, mặc dù những bản án này chưa có hiệu lực pháp luật.

Dưới góc độ khoa học pháp lý, các nhà nghiên cứu pháp luật đã đưa ra nhiều quan điểm tham khảo, trong đó nổi bật là một số ý kiến tiêu biểu.

Quan điểm thứ nhất cho rằng việc đình chỉ xét xử phúc thẩm là quyết định của tòa án, chấm dứt hoạt động tố tụng trong vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm Kết quả của quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm sẽ được công nhận, qua đó quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ được xác định trong bản án, quyết định sơ thẩm và sẽ được tôn trọng, có hiệu lực thi hành.

Quan điểm thứ hai cho rằng việc đình chỉ xét xử phúc thẩm không chỉ chấm dứt các hoạt động xét xử phúc thẩm mà còn làm phát sinh hiệu lực pháp luật của bản án và quyết định sơ thẩm Do đó, các quyền và nghĩa vụ trong bản án, quyết định sơ thẩm của các đương sự cần được tôn trọng và thi hành.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm là hành vi tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm, diễn ra khi có căn cứ pháp lý cho việc chấm dứt giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Khái niệm đình chỉ XXPT trong vụ án dân sự được hiểu là một hoạt động tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm, dựa trên các căn cứ luật định, nhằm chấm dứt việc giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm Điều này cũng đồng nghĩa với việc bản án và quyết định sơ thẩm sẽ có hiệu lực pháp lý.

Đặc điểm pháp lý của đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

Đình chỉ XXPT trong vụ án dân sự là một hành vi tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có quyền năng và trách nhiệm trong việc quyết định đình chỉ tiến trình XXPT.

Tòa án cấp sơ thẩm đã kết thúc vụ án, chuyển sang giai đoạn XXPT mới Tại giai đoạn này, các hoạt động tố tụng và quyền quyết định sẽ thuộc về Tòa án cấp phúc thẩm, bao gồm việc đình chỉ XXPT vụ án.

5 Nguyễn Thị Thu Hà (2010), “Đình chỉ xét xử phúc thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở Tòa án phúc thẩm”, Luật học, (7), tr 3

6 Tống Công Cường (2007), “Quy định về đình chỉ trong Bộ luật Tố tụng dân sự”, Khoa học pháp lý, số 4

Theo Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam của Nguyễn Thị Hoài Phương (2012), hành vi tố tụng dân sự được pháp luật quy định là một phần trong quá trình giải quyết vụ án Chỉ Tòa án cấp phúc thẩm, với vai trò là cơ quan tiến hành tố tụng, mới có thẩm quyền quyết định việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

Tòa án cấp phúc thẩm có quyền đình chỉ XXPT vụ án dân sự dựa trên các căn cứ pháp luật, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự Việc đình chỉ XXPT sẽ chấm dứt quá trình tố tụng, do đó, pháp luật TTDS quy định rõ về căn cứ, thẩm quyền, thủ tục và hậu quả pháp lý liên quan Tòa án cần đảm bảo tính khách quan, chính xác và tôn trọng quyền lợi của tất cả các bên liên quan, đồng thời phải thực hiện đình chỉ XXPT theo đúng quy định pháp luật, không được dựa vào ý chí chủ quan hay những đề nghị không có căn cứ pháp lý từ đương sự.

Tòa án cấp phúc thẩm có quyền đình chỉ xét xử phúc thẩm một phần hoặc toàn bộ vụ án, nhằm thực hiện nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự Theo BLTTDS 2015, việc đình chỉ này phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể mà pháp luật quy định Tòa án có thể đình chỉ toàn bộ vụ án hoặc một phần vụ án trong các tình huống như đương sự rút một phần kháng cáo, Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị, hoặc khi có nhiều người kháng cáo nhưng một số vắng mặt Quy định này giúp Tòa án cấp phúc thẩm linh động hơn trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, đồng thời thúc đẩy tiến độ và tiết kiệm thời gian cho quá trình xét xử.

Vào thứ tư, việc đình chỉ XXPT vụ án dân sự sẽ chấm dứt quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm và làm phát sinh hiệu lực của bản án, quyết định sơ thẩm Đình chỉ XXPT nhằm ngừng hẳn việc giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm, đồng nghĩa với việc Tòa án cấp phúc thẩm sẽ không xem xét vụ án hoặc phần vụ án bị đình chỉ nữa, dẫn đến việc các thủ tục phúc thẩm ngay lập tức dừng lại Điều này thể hiện bản chất của chế định “đình chỉ” trong pháp luật tố tụng Đặc biệt, việc đình chỉ XXPT không ảnh hưởng đến nội dung vụ án, nên bản án, quyết định sơ thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật và được thi hành.

Phân biệt đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự và đình chỉ giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm

Đình chỉ là một phương thức xử lý đặc biệt của Tòa án trong vụ án dân sự, với nhiều loại đình chỉ khác nhau theo từng giai đoạn tố tụng và căn cứ pháp lý Tại giai đoạn XXPT, Tòa án có thể ban hành quyết định đình chỉ XXPT vụ án dân sự hoặc đình chỉ giải quyết vụ án Cả hai loại đình chỉ này đều do Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện và dẫn đến việc chấm dứt hoạt động tố tụng, dễ gây nhầm lẫn Bài viết này sẽ làm rõ sự khác biệt giữa đình chỉ XXPT vụ án dân sự và đình chỉ giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, giúp người đọc hiểu rõ hơn về bản chất của hai chế định độc lập này.

Đình chỉ giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm và đình chỉ XXPT vụ án được thực hiện dựa trên các căn cứ khác nhau Quyết định đình chỉ của Tòa án cấp phúc thẩm sẽ phụ thuộc vào sự xuất hiện của từng căn cứ cụ thể.

Theo quy định tại Điều 311 BLTTDS 2015, Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành đình chỉ giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm trong hai trường hợp:

1/ Nếu trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, vụ án thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 217 Các căn cứ quy định tại Điều 217 là các căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm 8 Tuy nhiên, nếu các căn cứ

Theo Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, có 8 căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án, bao gồm: a) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ không được thừa kế; b) Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng; c) Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu hoặc vắng mặt lần thứ hai mà không có lý do chính đáng; d) Tòa án đã ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã liên quan; e) Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định.

Trong trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố, nếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng theo quy định, Tòa án sẽ đình chỉ việc giải quyết yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập Nếu tình huống này đã tồn tại trong quá trình Tòa án cấp sơ thẩm nhưng không được đình chỉ mà vẫn tiếp tục xét xử và ra bản án sơ thẩm, thì Tòa án cấp phúc thẩm sẽ phải đình chỉ giải quyết vụ án khi phát hiện ra sự việc.

2/ Trường hợp tại điểm b khoản 1 Điều 299: đây là trường hợp trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn rút đơn khởi kiện và bị đơn đồng ý

Còn các căn cứ đình chỉ XXPT vụ án được quy định tại Điều 289 và Điều 296 bao gồm:

1/ Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế;

2/ Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó;

3/ Người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị;

4/ Người kháng cáo rút một phần kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị;

5/ Người kháng cáo được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt; 6/ Những trường hợp pháp luật có quy định khác

Về thời điểm áp dụng:

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, việc đình chỉ giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm chỉ có thể được quyết định tại phiên tòa phúc thẩm nhằm đảm bảo tính thận trọng trong quyết định có ảnh hưởng đến số phận pháp lý của bản án sơ thẩm Mặc dù các căn cứ để đình chỉ có thể xuất hiện trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, nhưng Thẩm phán chủ tọa không có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ mà phải tiếp tục tiến hành các công việc cần thiết để mở phiên tòa Việc đình chỉ giải quyết vụ án sẽ được xem xét và quyết định tại phiên tòa Các đương sự có thể yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, và nếu thời hiệu khởi kiện đã hết, hoặc trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này mà Tòa án đã thụ lý, thì cũng sẽ được xem xét theo quy định của pháp luật.

Lê Thị Bích Huế (2015) trong luận văn Thạc sĩ luật học tại Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh đã nghiên cứu về quy trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm trong pháp luật tố tụng dân sự, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong các phiên tòa.

Đình chỉ XXPT chỉ có tác dụng chấm dứt các hoạt động tố tụng ở cấp phúc thẩm mà không ảnh hưởng đến số phận pháp lý của bản án sơ thẩm, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo quy định năm 2015, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền đình chỉ việc xét xử phúc thẩm (XXPT) trước hoặc trong phiên tòa Khi Tòa án tiếp nhận vụ án và tiến hành XXPT, quyền đình chỉ XXPT sẽ phát sinh Dù ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình XXPT, bao gồm chuẩn bị XXPT hay trong phiên tòa, nếu có căn cứ pháp luật, Tòa án cấp phúc thẩm vẫn có thẩm quyền đình chỉ vụ án.

Việc đình chỉ giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm chỉ có thể được quyết định tại phiên tòa phúc thẩm, do đó thẩm quyền này thuộc về Hội đồng xét xử phúc thẩm Bản án sơ thẩm được ban hành bởi Hội đồng XXST, vì vậy cá nhân Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không có quyền phủ quyết bản án của Hội đồng xét xử.

Thẩm quyền đình chỉ xét xử phúc thẩm thuộc về Thẩm phán chủ tọa phiên tòa hoặc Hội đồng xét xử, tùy thuộc vào thời điểm xuất hiện các căn cứ đình chỉ Nếu các căn cứ này xuất hiện trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa sẽ quyết định; còn nếu xuất hiện trong phiên tòa, Hội đồng xét xử sẽ đưa ra quyết định.

Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở cấp phúc thẩm dẫn đến hai hậu quả pháp lý quan trọng: chấm dứt toàn bộ hoạt động tố tụng và ảnh hưởng đến số phận pháp lý của bản án sơ thẩm Cụ thể, việc đình chỉ này không chỉ làm dừng lại các hoạt động tố tụng mà còn yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm phải hủy bỏ bản án, quyết định sơ thẩm Điều này đồng nghĩa với việc kết quả của quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm sẽ không được công nhận.

Đình chỉ XXPT vụ án không chấm dứt quyền và nghĩa vụ nội dung mà chỉ dừng thủ tục tố tụng phúc thẩm Điều này có nghĩa là việc đình chỉ XXPT sẽ kết thúc hoạt động tố tụng nhưng vẫn tạo ra hiệu lực pháp luật.

Quy định về đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự của một số nước

1.4.1 Quy định về đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự của Liên bang Nga

BLTTDS của Liên bang Nga không có quy định cụ thể về việc đình chỉ XXPT, mà chỉ đề cập đến vấn đề này trong một số điều khoản liên quan.

Tòa án cấp phúc thẩm có thể đình chỉ việc giải quyết theo thủ tục phúc thẩm khi có yêu cầu rút lại đơn kháng cáo hoặc khi đề nghị phúc thẩm được chấp nhận, miễn là bản án của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo bởi những người khác.

Theo Bộ luật Tố tụng Dân sự Liên bang Nga, nếu trong giai đoạn phúc thẩm, nguyên đơn hoặc bị đơn qua đời và quan hệ pháp luật tranh chấp không cho phép kế thừa quyền, nghĩa vụ, hoặc tổ chức đã hoàn thành việc giải thể, thì Tòa án cấp phúc thẩm có quyền hủy bỏ bản án của Tòa án cấp sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án Ngoài ra, việc người kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa không phải là lý do để đình chỉ thủ tục tố tụng như quy định trong pháp luật Tố tụng Dân sự Việt Nam.

BLTTDS Liên bang Nga không có quy định cụ thể cho trường hợp người kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa, mà chỉ đưa ra quy định chung áp dụng cho các trường hợp liên quan đến những người tham gia.

12 Nguyễn Ngọc Điệp, Đoàn Tấn Minh (2016), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, NXB Lao động, tr.252

13 Điều 345 BLTTDS Liên bang Nga

Điều 365 Bộ luật Tố tụng Dân sự Liên bang Nga quy định về việc vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa Tòa án sẽ không xem xét số lần vắng mặt mà chỉ chú trọng đến việc các bên đã được thông báo về thời gian và địa điểm phiên tòa hay chưa Nếu người tham gia tố tụng vắng mặt do không nhận được thông báo, Tòa án sẽ tạm hoãn giải quyết vụ án Ngược lại, nếu họ đã được thông báo, sự vắng mặt của họ không cản trở tiến trình giải quyết vụ án, tuy nhiên Tòa án vẫn có quyền tạm hoãn phiên tòa trong trường hợp này.

Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết vụ án dân sự với thành phần gồm 01 Thẩm phán chủ tọa và 02 Thẩm phán Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng Dân sự của Liên bang Nga chỉ quy định thẩm quyền đình chỉ việc giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm thuộc về Tòa án cấp phúc thẩm mà không làm rõ trường hợp nào thuộc về Thẩm phán chủ tọa và trường hợp nào thuộc về Hội đồng xét xử.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự Liên bang Nga, việc đình chỉ xét xử phúc thẩm sẽ dẫn đến việc chấm dứt quá trình giải quyết vụ án Tuy nhiên, việc này không được coi là lý do để Tòa án hủy bỏ bản án sơ thẩm.

Tòa án cấp phúc thẩm sẽ thực hiện việc đình chỉ XXPT thông qua một quyết định bằng văn bản, xác định rõ ràng việc đình chỉ giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

1.4.2 Quy định về đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự của Cộng hòa Pháp

BLTTDS của Cộng hòa Pháp không quy định cụ thể về việc đình chỉ xét xử vụ án dân sự Đình chỉ xét xử được hiểu là một trong những trường hợp có thể xảy ra trong quá trình tố tụng.

“chấm dứt thủ tục tố tụng” được quy định chung trong Chương IV Chấm dứt tố tụng thuộc Thiên XI Các tranh chấp phụ trong tố tụng

Theo quy định của BLTTDS Pháp, việc chấm dứt tố tụng không chỉ xảy ra khi bản án có hiệu lực, mà còn có thể do các bên hòa giải, thỏa thuận, rút đơn kiện, hoặc khi một bên đương sự qua đời trong các vụ việc liên quan.

15 Điều 354 BLTTDS Liên bang Nga

16 Khoản 2 Điều 14 BLTTDS Liên bang Nga

Theo Điều 362 và 365 của Bộ luật Tố tụng Dân sự Liên bang Nga, quyền tham gia tố tụng không thể chuyển nhượng cho người khác Tố tụng sẽ chấm dứt chủ yếu do hết thời hiệu, rút đơn kiện hoặc việc triệu tập ra Tòa bị vô hiệu.

Như vậy các trường hợp chấm dứt tố tụng bao gồm:

- Theo hiệu lực của bản án

- Hết thời hiệu tố tụng

- Rút đơn kiện (bao gồm rút đơn kiện ở cấp sơ thẩm và rút đơn kháng cáo hoặc kháng án)

- Các bên đã hòa giải, thỏa thuận được với nhau

- Việc triệu ra Tòa bị vô hiệu

- Một bên đương sự chết trong trường hợp những vụ việc không thể chuyển quyền tham gia tố tụng cho người khác được

- Chấp thuận (bao gồm chấp thuận yêu cầu 20 và chấp thuận bản án 21 )

Trong các trường hợp đình chỉ XXPT, chỉ có việc rút đơn kháng cáo hoặc kháng án được công nhận Khi rút đơn kháng án, điều này đồng nghĩa với việc chấp thuận bản án, và Thẩm phán sẽ xác nhận việc hoàn thành quá trình rút đơn.

Theo quy định của BLTTDS Cộng hòa Pháp, việc người kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa không phải là lý do để đình chỉ xét xử Nếu bị đơn không có mặt, Tòa án sẽ tiến hành xử vắng mặt trong trường hợp quyết định chung thẩm và nếu giấy triệu tập không được gửi đến tay bên bị Đối với những quyết định cuối cùng không thể kháng cáo, các bên vắng mặt do không nhận được giấy triệu tập sẽ được triệu tập lại Tuy nhiên, thẩm phán có quyền quyết định không triệu tập lại nếu việc triệu tập trước đó đã được thực hiện đúng quy trình.

Về thẩm quyền: BLTTDS Cộng hòa Pháp quy định thẩm chấm dứt tố tụng thuộc về Thẩm phán

Việc rút đơn kháng cáo dẫn đến việc chấm dứt tố tụng, đồng nghĩa với việc Tòa án không còn thẩm quyền xem xét vụ kiện nữa.

18 Điều 384 BLTTDS Cộng hòa Pháp

19 Điều 385 BLTTDS Cộng hòa Pháp

Điều 408 Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa Pháp quy định rằng việc chấp thuận yêu cầu đồng nghĩa với việc thừa nhận tính hợp lý của yêu cầu từ phía bên kia và từ bỏ quyền tham gia tố tụng Hành động chấp thuận yêu cầu chỉ áp dụng đối với những quyền mà đương sự có quyền tự do định đoạt.

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ ĐÌNH CHỈ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

Căn cứ đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

2.1.1 Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế Đây là căn cứ đình chỉ XXPT quy định tại điểm a khoản 1 Điều 289 BLTTDS

Năm 2015, Điều 217, khoản 1 đã chỉ ra một căn cứ để đình chỉ giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm Để hiểu rõ căn cứ này, cần làm rõ các khái niệm nguyên đơn, bị đơn, cũng như định nghĩa về “quyền, nghĩa vụ không được thừa kế.” Khi nguyên đơn hoặc bị đơn qua đời mà quyền và nghĩa vụ không được thừa kế, Tòa án cần tiến hành đình chỉ giải quyết vụ án.

Nguyên đơn và bị đơn là hai đương sự quan trọng trong tố tụng dân sự (TTDS), có quyền làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quá trình tố tụng Họ tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền lợi của chính mình, thực hiện các quyền tố tụng qua hành vi cá nhân hoặc thông qua người đại diện, góp phần làm thay đổi các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực TTDS.

Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người hoặc tổ chức khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm hại Ngoài cá nhân, các cơ quan, tổ chức cũng có thể khởi kiện theo quy định của pháp luật để bảo vệ lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước Hành vi khởi kiện của nguyên đơn không chỉ tạo ra quan hệ pháp luật dân sự mà còn dẫn đến sự tham gia của các chủ thể khác như bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Bị đơn trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức bị nguyên đơn khởi kiện, nhằm yêu cầu Tòa án giải quyết khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị xâm phạm Bị đơn tham gia tố tụng để trả lời các cáo buộc của nguyên đơn theo quy định của pháp luật Việc tham gia của bị đơn trong vụ án dân sự rất quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình xét xử và kết quả cuối cùng của vụ án.

28 Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tlđd (7), tr 78-79

30 Trường Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Kinh tế - Luật (2017), Giáo trình Luật

Tố tụng dân sự, Nguyễn Thị Hồng Nhung, NXB Đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh, tr 45

Theo Khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, bị đơn tham gia vào quá trình tố tụng một cách bị động, không chủ động như nguyên đơn Họ bị buộc phải tham gia do hành vi khởi kiện của nguyên đơn.

Nguyên đơn và bị đơn là hai bên có quyền lợi và nghĩa vụ trái ngược nhau trong một vụ án Quyền lợi của nguyên đơn chính là nghĩa vụ của bị đơn, vì vậy cả hai bên cần tham gia đầy đủ trong suốt quá trình giải quyết vụ án để đảm bảo vụ án được tiến hành hợp lệ.

Trong vụ án dân sự, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự có thể là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức Nếu một cá nhân tham gia tố tụng dân sự qua đời và quyền, nghĩa vụ tài sản của họ được kế thừa, người thừa kế sẽ tiếp tục tham gia tố tụng Người thừa kế được xác định theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005 Trong trường hợp có nhiều người thừa kế, tất cả phải tham gia tố tụng hoặc thỏa thuận bằng văn bản để cử một người đại diện Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án trong tình huống này.

Trong một số trường hợp, khi cá nhân là nguyên đơn hoặc bị đơn trong vụ án dân sự qua đời, quyền và nghĩa vụ của họ không được thừa kế Điều này xảy ra khi pháp luật không quy định những quyền và nghĩa vụ đó thuộc diện thừa kế Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn, bị đơn gắn liền với nhân thân của họ, không thể chuyển giao cho người khác Quyền nhân thân, là quyền dân sự đặc thù của mỗi cá nhân, chỉ có thể được thụ hưởng khi còn sống; do đó, khi nguyên đơn hoặc bị đơn chết, quyền này cũng chấm dứt.

Hậu quả của vụ án là thiếu vắng một bên đương sự đối lập về quyền và nghĩa vụ, dẫn đến bên còn lại không có đối tượng để yêu cầu Tòa án giải quyết Vì vậy, việc tiếp tục giải quyết vụ án sẽ không còn ý nghĩa, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

32 Khưu Thanh Tâm (2014), Căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tr 22

33 Theo khoản 1 Điều 68 thì đương sự trong vụ án dân sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

35 Nguyễn Triều Dương (2010), “Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự”, Luật học, (1), tr 28

Theo Nguyễn Đăng Hải (2006), pháp luật hiện hành quy định rằng nếu trong quá trình xét xử, nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã qua đời mà quyền và nghĩa vụ của họ không được thừa kế, Tòa án phải ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự Điều này dẫn đến việc dừng lại hoàn toàn quy trình giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trong trường hợp quyền và nghĩa vụ của đương sự đã chết liên quan đến tài sản, người thừa kế sẽ tham gia tố tụng Tuy nhiên, đối với các quan hệ nhân thân, quyền và nghĩa vụ không được kế thừa trong tố tụng dân sự Nếu quyền và nghĩa vụ mà Tòa án đang giải quyết là quyền nhân thân của nguyên đơn hoặc bị đơn đã chết trong quá trình xét xử, Tòa án phải ra quyết định đình chỉ vụ án Điều này thường xảy ra trong các vụ án hôn nhân gia đình như ly hôn, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, hoặc thay đổi người nuôi con Khi một bên đương sự là vợ hoặc chồng chết, mối quan hệ hôn nhân không còn, dẫn đến việc Tòa án có quyền đình chỉ xét xử Tương tự, nếu trong quá trình xét xử, một bên yêu cầu chấm dứt vi phạm quyền nhân thân nhưng bên đó đã chết, quyền và nghĩa vụ của họ không được pháp luật thừa kế, do đó Tòa án cũng phải ra quyết định đình chỉ vụ án.

Cần phân biệt trường hợp đương sự tham gia tố tụng chết mà không có người thừa kế, Tòa án không được đình chỉ giải quyết vụ án Quan điểm cho rằng nếu nguyên đơn hoặc bị đơn chết mà không có người thừa kế tham gia tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm thì Tòa án phải đình chỉ giải quyết vụ án, nhưng quan điểm này không phù hợp với quy định pháp luật Cả BLTTDS năm 2004 và BLTTDS 2015 đều không quy định cụ thể về trường hợp này Theo Điều 622 BLDS 2015, nếu không có người thừa kế, tài sản sẽ thuộc về Nhà nước Do đó, trong vụ án tranh chấp tài sản mà nguyên đơn hoặc bị đơn chết mà không có người thừa kế, các cơ quan có thẩm quyền vẫn tiếp tục tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, và vụ án sẽ không bị chấm dứt.

Trong trường hợp B chết trong quá trình giải quyết vụ án kiện A đòi nợ 800 triệu đồng, tài sản của B được định giá 2 tỷ đồng nhưng không có người thừa kế, Tòa án không thể đình chỉ vụ án mà chỉ có thể tạm đình chỉ theo Điều 288 BLTTDS 2015 Nếu xác định tài sản của B không có người thừa kế, tài sản sẽ thuộc về Nhà nước Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tham gia tố tụng để thực hiện nghĩa vụ tài sản của B đối với A, và sau khi hoàn thành nghĩa vụ này, phần tài sản còn lại sẽ được sung vào công quỹ.

2.1.2 Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó Đây là căn cứ đình chỉ XXPT quy định tại điểm a khoản 1 Điều 289 BLTTDS

2015 ,được dẫn chiếu đến điểm b khoản 1 Điều 217 – một trong những căn cứ để đình chỉ giải quyết vụ án ở giai đoạn XXST

Thẩm quyền đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

Thẩm quyền đình chỉ XXPT chỉ thuộc về Tòa án cấp phúc thẩm, theo quy định tại BLTTDS 2015 Cụ thể, thẩm quyền này được phân định giữa Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng XXPT thông qua các điều khoản tại khoản 3 Điều 284, khoản 2 và 3 Điều 289, khoản 3 Điều 296 và Điều 312.

Khi nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân qua đời mà quyền và nghĩa vụ của họ không được kế thừa, hoặc khi cơ quan, tổ chức bị giải thể hoặc tuyên bố phá sản mà không có tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng, sẽ phát sinh những vấn đề pháp lý phức tạp cần được giải quyết.

BLTTDS 2015 quy định rằng thẩm quyền xét xử thuộc về Tòa án cấp phúc thẩm, nhưng không chỉ rõ trường hợp nào thuộc thẩm quyền của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và trường hợp nào thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử.

Trong trường hợp người kháng cáo rút kháng cáo và Viện Kiểm sát rút kháng nghị, việc đình chỉ xét xử phúc thẩm sẽ được quyết định bởi Thẩm phán chủ tọa phiên tòa hoặc Hội đồng xét xử Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định cụ thể về việc rút toàn bộ hoặc một phần kháng cáo và kháng nghị, nhằm điều chỉnh các tình huống này.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nếu người kháng cáo hoặc Viện Kiểm sát rút toàn bộ kháng cáo trước khi Tòa án cấp phúc thẩm quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sẽ quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm Ngược lại, nếu việc rút kháng cáo diễn ra sau khi Tòa án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ có quyền đình chỉ xét xử Do đó, quyền đình chỉ xét xử phúc thẩm phụ thuộc vào thời điểm rút kháng cáo của người kháng cáo hoặc Viện Kiểm sát.

Khi người kháng cáo hoặc VKS rút một phần kháng cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thẩm quyền xem xét và quyết định đình chỉ xét xử phần kháng cáo, kháng nghị đó Theo quy định, Hội đồng sẽ nhận định về việc rút kháng cáo và kháng nghị, từ đó đưa ra quyết định trong bản án phúc thẩm.

Theo quy định tại BLTTDS 2015, nếu người kháng cáo không có mặt tại phiên tòa triệu tập lần thứ hai mà không phải do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, đồng thời không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và không còn ai kháng cáo hoặc kháng nghị, thì sẽ có những hậu quả pháp lý nhất định.

Theo Khoản 3 Điều 289 BLTTDS 2015, thẩm quyền đình chỉ vụ án thuộc về Hội đồng xét xử Trong trường hợp có nhiều người kháng cáo và một trong số đó không có mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, thẩm quyền đình chỉ sẽ thuộc về Hội đồng xét xử đối với phần kháng cáo của người kháng cáo vắng mặt.

Thẩm quyền quyết định việc đình chỉ XXPT vụ án được thực hiện theo nguyên tắc rằng mọi quyết định trước khi Tòa án cấp phúc thẩm đưa vụ án ra XXPT do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định Sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định, việc đưa vụ án ra XXPT sẽ do Hội đồng XXPT quyết định.

2.3 Hình thức của của việc đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

Theo quy định của BLTTDS 2015, việc đình chỉ tố tụng vụ án có thể được thực hiện dưới hai hình thức: ra quyết định đình chỉ tố tụng vụ án dân sự hoặc được quyết định trong bản án phúc thẩm Hình thức đình chỉ này phụ thuộc vào căn cứ, thời điểm và thẩm quyền liên quan.

Tòa án cấp phúc thẩm có quyền đình chỉ vụ án hoặc một phần vụ án trong các trường hợp sau: khi nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã qua đời mà quyền và nghĩa vụ của họ không được kế thừa; khi cơ quan, tổ chức bị giải thể hoặc tuyên bố phá sản mà không có tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng; khi người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị; hoặc khi người kháng cáo rút một phần kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị.

Trong trường hợp đình chỉ XXPT, mẫu quyết định sẽ khác nhau tùy thuộc vào thẩm quyền của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa hoặc Hội đồng XXPT Nếu thẩm quyền thuộc về Thẩm phán, quyết định đình chỉ sẽ sử dụng mẫu 69-DS Ngược lại, nếu thẩm quyền thuộc về Hội đồng XXPT, mẫu quyết định sẽ là 70-DS, theo Nghị quyết số.

64 Nguyễn Văn Cường, Đặng Thanh Hoa, Trần Anh Tuấn (2012), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, NXB Lao động – xã hội, tr 129

01/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 13 tháng

1 năm 2017 về ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự 66

Hội đồng XXPT sẽ quyết định đình chỉ XXPT trong bản án phúc thẩm khi người kháng cáo rút một phần kháng cáo hoặc VKS rút một phần kháng nghị Ngoài ra, trong trường hợp có nhiều người kháng cáo, nếu một người đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt mà không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, cũng sẽ dẫn đến việc đình chỉ.

2.4 Hậu quả pháp lý của việc đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

Đình chỉ XXPT sẽ chấm dứt thủ tục tố tụng phúc thẩm, đồng thời yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết hiệu lực pháp lý và án phí phúc thẩm BLTTDS 2015 đã quy định về thẩm quyền và hình thức đình chỉ XXPT, cũng như nêu rõ hậu quả pháp lý trong một số trường hợp đình chỉ XXPT.

Trong trường hợp nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã qua đời mà quyền và nghĩa vụ của họ không được kế thừa, hoặc khi cơ quan, tổ chức bị giải thể hoặc tuyên bố phá sản mà không có bên kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng, Bộ luật Tố tụng dân sự quy định đây là căn cứ để đình chỉ việc xét xử Tuy nhiên, quy định này không đề cập đến hiệu lực pháp lý của bản án sơ thẩm cũng như vấn đề án phí.

Hậu quả pháp lý của việc đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

Đình chỉ XXPT sẽ chấm dứt thủ tục tố tụng phúc thẩm, đồng thời Tòa án cấp phúc thẩm cần giải quyết hiệu lực pháp lý và án phí phúc thẩm BLTTDS 2015 đã quy định về thẩm quyền và hình thức đình chỉ XXPT, cũng như nêu rõ hậu quả pháp lý trong một số trường hợp đình chỉ XXPT.

Trong trường hợp nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân qua đời mà quyền và nghĩa vụ của họ không được kế thừa, hoặc khi cơ quan, tổ chức bị giải thể hoặc tuyên bố phá sản mà không có ai kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) quy định rằng đây là căn cứ để đình chỉ việc xét xử Tuy nhiên, BLTTDS không đề cập đến hiệu lực pháp lý của bản án sơ thẩm cũng như vấn đề án phí liên quan.

Khi người kháng cáo hoặc Viện Kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị, bản án sơ thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật từ thời điểm Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ Nếu đương sự rút kháng cáo trước khi phiên tòa phúc thẩm diễn ra, họ sẽ phải chịu 50% mức án phí dân sự phúc thẩm Trong trường hợp rút kháng cáo ngay tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự sẽ phải chịu toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm.

Khi người kháng cáo rút một phần kháng cáo và VKS rút một phần kháng nghị, Hội đồng XXPT sẽ đình chỉ phần kháng cáo và kháng nghị đó trong bản án phúc thẩm Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng Dân sự không quy định về hiệu lực của bản án sơ thẩm trong trường hợp này.

Theo Khoản 4 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí tòa án, trường hợp vụ án bị đình chỉ XXPT, người kháng cáo chỉ rút một phần kháng cáo, vẫn có kháng cáo yêu cầu Tòa phúc thẩm giải quyết Do đó, người kháng cáo vẫn phải chịu án phí phúc thẩm.

Khi người kháng cáo không có mặt tại phiên triệu tập hợp lệ lần thứ hai của Tòa án, Hội đồng XXPT sẽ đình chỉ xét xử phúc thẩm và giữ nguyên bản án sơ thẩm BLTTDS 2015 không quy định rõ thời điểm có hiệu lực của bản án sơ thẩm Nếu có nhiều người kháng cáo, trong đó có người vắng mặt tại lần triệu tập thứ hai mà không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng XXPT sẽ đình chỉ xét xử đối với phần kháng cáo của người vắng mặt, nhưng không quy định về hiệu lực của bản án sơ thẩm trong trường hợp này Việc đình chỉ xét xử phúc thẩm xuất phát từ nguyên nhân chủ quan của người kháng cáo, do đó họ vẫn phải chịu án phí phúc thẩm.

Theo nguyên tắc chung, bản án sơ thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật từ thời điểm có quyết định đình chỉ một phần hoặc toàn bộ vụ án Tuy nhiên, quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành chưa làm rõ hậu quả pháp lý cho từng trường hợp cụ thể.

BLTTDS 2015 đã có quy định về các khía cạnh của đình chỉ XXPT vụ án dân sự như căn cứ, thẩm quyền, hình thức, hậu quả pháp lý

Căn cứ đình chỉ XXPT vụ án dân sự theo quy định của BLTTDS 2015 bao gồm các trường hợp như: Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng; người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị; người kháng cáo rút một phần kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị; người kháng cáo được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt; và những trường hợp pháp luật có quy định khác.

Thẩm quyền quyết định đình chỉ XXPT vụ án được thực hiện theo nguyên tắc rằng mọi quyết định phải được Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đưa ra trước khi Tòa án cấp phúc thẩm quyết định đưa vụ án ra XXPT Sau đó, Hội đồng XXPT sẽ đưa ra quyết định cuối cùng về vụ án.

BLTTDS 2015 quy định rằng việc đình chỉ xét xử vụ án dân sự phụ thuộc vào căn cứ, thời điểm và thẩm quyền Việc đình chỉ này có thể được thực hiện qua hai hình thức: ra quyết định đình chỉ xét xử vụ án hoặc được quyết định trong bản án phúc thẩm.

Đình chỉ XXPT sẽ chấm dứt thủ tục tố tụng phúc thẩm, đồng thời giải quyết hiệu lực pháp lý của bản án sơ thẩm và án phí phúc thẩm trong từng trường hợp cụ thể Pháp luật tố tụng dân sự hiện hành quy định thời điểm có hiệu lực của bản án, quyết định sơ thẩm khi người kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị.

NHỮNG BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CHỈ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Ban biên tập tạp chí Tòa án nhân dân (2008), “Về trường hợp nguyên đơn trong vụ án ly hôn chết ở giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm”, Tòa án nhân dân, (10), tr.42-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về trường hợp nguyên đơn trong vụ án ly hôn chết ở giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm”, "Tòa án nhân dân
Tác giả: Ban biên tập tạp chí Tòa án nhân dân
Năm: 2008
13. Tống Công Cường, Quy định về đình chỉ trong Bộ luật Tố tụng dân sự, Khoa học pháp lý, số 4 (41), tr.44-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học pháp lý
14. Nguyễn Văn Cường, Đặng Thanh Hoa, Trần Anh Tuấn (2012), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, NXB Lao động – xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổ
Tác giả: Nguyễn Văn Cường, Đặng Thanh Hoa, Trần Anh Tuấn
Nhà XB: NXB Lao động – xã hội
Năm: 2012
15. Lưu Tiến Dũng (2008), “Đình chỉ trong Tố tụng dân sự”, Khoa học pháp lý, số 1 (44), tr.46-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đình chỉ trong Tố tụng dân sự”, "Khoa học pháp lý
Tác giả: Lưu Tiến Dũng
Năm: 2008
16. Nguyễn Triều Dương (2010), “Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự”, Luật học, (Đặc san về Bộ luât Tố tụng dân sự), tr.27-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự”, "Luật học
Tác giả: Nguyễn Triều Dương
Năm: 2010
17. Đỗ Văn Đại, Phan Nguyễn Bảo Ngọc (2015), “Về đơn kháng cáo phúc thẩm trong tố tụng dân sự”, Khoa học pháp lý, số 2 (87), tr.75-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đơn kháng cáo phúc thẩm trong tố tụng dân sự”," Khoa học pháp lý
Tác giả: Đỗ Văn Đại, Phan Nguyễn Bảo Ngọc
Năm: 2015
18. Nguyễn Ngọc Điệp, Đoàn Tấn Minh (2016), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
Tác giả: Nguyễn Ngọc Điệp, Đoàn Tấn Minh
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2016
19. Nguyễn Thị Thu Hà (2010), “Đình chỉ xét xử phúc thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở Tòa án phúc thẩm”, Luật học, (7), tr.3-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đình chỉ xét xử phúc thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở Tòa án phúc thẩm”," Luật học
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà
Năm: 2010
20. Nguyễn Đăng Hải (2006), “Những bất cập của pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự”, Khoa học lập pháp, số 12 (76), tr.56-57, 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bất cập của pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự”," Khoa học lập pháp
Tác giả: Nguyễn Đăng Hải
Năm: 2006
21. Lưu Thị Bích Hạnh (2001), Một số vấn đề về thủ tục phúc thẩm trong Tố tụng dân sự, Luận văn cử nhân luật, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về thủ tục phúc thẩm trong Tố tụng dân sự
Tác giả: Lưu Thị Bích Hạnh
Năm: 2001
22. Đặng Thanh Hoa (2007), “Đình chỉ xét xử phúc thẩm hay đình chỉ giải quyết vụ án?”, Tòa án nhân dân, (22), tr.18-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đình chỉ xét xử phúc thẩm hay đình chỉ giải quyết vụ án?”, "Tòa án nhân dân
Tác giả: Đặng Thanh Hoa
Năm: 2007
23. Lê Thị Bích Huế (2015), Chuẩn bị xét xử phúc thẩm trong pháp luật tố tụng dân sự, Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn bị xét xử phúc thẩm trong pháp luật tố tụng dân sự
Tác giả: Lê Thị Bích Huế
Năm: 2015
24. Duy Kiên (2012), “Một số vấn đề về chuẩn bị xét xử phúc thẩm theo Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011, Tòa án nhân dân, (18), tr.11-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về chuẩn bị xét xử phúc thẩm theo Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011, "Tòa án nhân dân
Tác giả: Duy Kiên
Năm: 2012
25. Tưởng Duy Lượng (2012), “Những vấn đề cơ bản về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự”, Tòa án nhân dân, (7), tr.1-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự”," Tòa án nhân dân
Tác giả: Tưởng Duy Lượng
Năm: 2012
26. Khưu Thanh Tâm (2014), Căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Tác giả: Khưu Thanh Tâm
Năm: 2014
27. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nguyễn Thị Hoài Phương, NXB Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam
Năm: 2012
28. Trường Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Kinh tế - Luật (2017), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự, Nguyễn Thị Hồng Nhung, NXB Đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng dân sự
Tác giả: Trường Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Kinh tế - Luật
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2017
29. Trần Anh Tuấn (2005), “Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự”, Nghiên cứu lập pháp, số 7 (55), tr.51-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự”, "Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Trần Anh Tuấn
Năm: 2005
30. Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng-Trung tâm từ điển học, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Viện Ngôn ngữ học
Nhà XB: NXB Đà Nẵng-Trung tâm từ điển học
Năm: 2006
31. Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thuật ngữ luật học
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 1999

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w