1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY SẮN KHU VỰC BÌNH TRỊ THIÊN

233 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 233
Dung lượng 8,33 MB

Cấu trúc

  • PHẦN I. MỞ ĐẦU (14)
    • 1. Tính cấp thiết của đề tài (14)
    • 2. Mục tiêu nghiên cứu (16)
    • 3. Câu hỏi nghiên cứu (16)
    • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (16)
    • 5. Những đóng góp mới của luận án (0)
    • 6. Kết cấu của luận án (18)
  • PHẦN II. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY SẮN (19)
    • 2. Tình hình nghiên cứu phát triển bền vững cây sắn trên thế giới (21)
    • 3. Tình hình nghiên cứu phát triển bền vững cây sắn ở Việt Nam (0)
    • 4. Những nhận xét rút ra từ tình hình nghiên cứu về phát triển bền vững cây sắn (0)
  • PHẦN III. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (31)
    • CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY SẮN (0)
      • 1.1. Lý luận về phát triển bền vững và phát triển nông nghiệp bền vững (31)
        • 1.1.1. Lý luận về phát triển bền vững (31)
        • 1.1.2. Phát triển nông nghiệp bền vững (39)
      • 1.2. Lý luận về phát triển bền vững cây sắn (44)
        • 1.2.1. Khái niệm và tầm quan trọng (0)
        • 1.2.2. Nội dung và hệ thống các chỉ tiêu về phát triển bền vững cây sắn (45)
      • 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững cây sắn (51)
        • 1.3.1. Ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô (51)
        • 1.3.2. Ảnh hưởng của các yếu tố vi mô (52)
      • 1.4. Giới thiệu về cây sắn và tình hình phát triển bền vững cây sắn trên thế giới và ở Việt Nam (54)
        • 1.4.1. Giới thiệu về cây sắn (54)
        • 1.4.2. Tình hình phát triển bền vững cây sắn trên thế giới và ở Việt Nam (56)
    • CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (64)
      • 2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế và xã hội khu vực Bình Trị Thiên (64)
        • 2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên và môi trường khu vực Bình Trị Thiên (64)
        • 2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực Bình Trị Thiên (66)
        • 2.1.3. Những thuận lợi và khó khăn thách thức để phát triển bền vững cây sắn ở (71)
        • 2.1.4. Đánh giá tiềm năng phát triển cây sắn ở khu vực Bình Trị Thiên (72)
      • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (73)
        • 2.2.1. Cách tiếp cận và khung phân tích (73)
        • 2.2.2. Chọn điểm nghiên cứu (76)
        • 2.2.3. Phương pháp thu thập thông tin (79)
        • 2.2.4. Phương pháp phân tích (80)
    • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY SẮN Ở KHU VỰC BÌNH TRỊ THIÊN (85)
      • 3.1. Thực trạng phát triển bền vững cây sắn ở khu vực Bình Trị Thiên (0)
        • 3.1.1. Chủ trương và quy hoạch phát triển cây sắn ở các tỉnh thuộc khu vực BTT (85)
        • 3.1.2. Thực trạng phát triển bền vững cây sắn sắn về mặt kinh tế (0)
        • 3.1.3. Thực trạng phát triển bền vững cây sắn về mặt xã hội và môi trường (117)
      • 3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững cây sắn ở khu vực Bình Trị Thiên (0)
        • 3.2.1. Nhóm chỉ tiêu đánh giá ảnh hưởng của cơ chế, chính sách đến phát triển bền vững cây sắn (127)
        • 3.2.2. Nhóm chỉ tiêu đánh giá ảnh hưởng của áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ đến phát triển bền vững cây sắn (130)
      • 3.3. Đánh giá chung thực trạng phát triển bền vững cây sắn ở khu vực Bình Trị Thiên (133)
        • 3.3.1. Những thành công trong phát triển bền vững cây sắn ở khu vực BT Thiên (133)
        • 3.3.2. Những mặt hạn chế trong phát triển bền vững cây sắn ở khu vực BT Thiên (0)
    • CHƯƠNG 4. ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY SẮN Ở KHU VỰC BÌNH TRỊ THIÊN (0)
      • 4.1. Quan điểm định hướng phát triển bền vững cây sắn ở khu vực Bình Trị Thiên (138)
        • 4.1.1. Bối cảnh phát triển bền vững cây sắn ở khu vực Bình Trị Thiên (138)
        • 4.1.2. Phân tích SWOT về phát triển bền vững cây sắn ở khu vực Bình Trị Thiên (139)
      • 4.2. Quan điểm và định hướng phát triển bền vững cây sắn đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2035 (142)
        • 4.2.1. Quan điểm phát triển bền vững căy sắn của Việt Nam (0)
        • 4.2.2. Định hướng, mục tiêu phát triển bền vững cây sắn ở khu vực BT Thiên (143)
      • 4.3. Một số giải pháp nhằm phát triển bền vững cây sắn ở khu vực Bình Trị Thiên (146)
        • 4.3.1. Nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất sắn của hộ nông dân và lợi ích của các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị sắn (146)
        • 4.3.2. Quy hoạch vùng nguyên liệu sắn tập trung, xây dựng nhà máy chế biến (147)
        • 4.3.3. Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái, giảm tác hại đến môi trường tại khu vực trồng, nhà máy chế biến và các vùng lân cận (148)
        • 4.3.4. Đa dạng thị trường tiêu thụ, tăng dần tỷ lệ thị trường tiêu thụ nội địa; nâng (149)
        • 4.3.5. Hoàn thiện cơ chế, chính sách (thuế, tín dụng, đầu tư, bảo hiểm…) khuyến khích thu hút đầu tư để phát triển bền vững cây sắn (0)
        • 4.3.6. Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn (151)
        • 4.3.7. Giải pháp cụ thể theo các tỉnh và từng vùng sinh thái (152)
  • PHẦN IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (154)
    • 1. Kết luận (154)
    • 2. Kiến nghị (156)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (159)
  • PHỤ LỤC (93)
    • qua 3 năm 2015-2017 (0)

Nội dung

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY SẮN

Tình hình nghiên cứu phát triển bền vững cây sắn trên thế giới

Sắn là một cây trồng quan trọng, vì vậy có nhiều nghiên cứu trên toàn thế giới về phát triển bền vững cây sắn Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào việc phân tích và đánh giá sự phát triển của cây sắn từ các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường.

Trong lĩnh vực kinh tế, các nhà nghiên cứu đã tập trung phân tích sự phát triển của ngành hàng sắn qua chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng Nghiên cứu của Collinson và cộng sự (2000), Kimathi và cộng sự (2008), cũng như Kaplinsky và cộng sự (2010) cho thấy việc nâng cao tính thanh khoản trong chuỗi kinh doanh sắn khô có thể cải thiện hiệu quả toàn chuỗi, trong khi chi phí vận chuyển giữa các trang trại và điểm thu mua chiếm tỷ trọng lớn trong giá bán Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các liên kết trong chuỗi giá trị sản phẩm sắn hiện không bền vững và thiếu ổn định, với cấu trúc hợp tác chưa rõ ràng Mặc dù vậy, lợi ích cho các tác nhân trong chuỗi vẫn khá cao Hơn nữa, chuỗi cung sản phẩm sắn vào thị trường Châu Âu và Trung Quốc cho thấy sự dịch chuyển thay thế lẫn nhau khi có sự thay đổi trong chính sách và quy định Do đó, sự hợp tác và liên kết giữa nhà cung cấp và nhà nhập khẩu thông qua hợp đồng là rất quan trọng, giúp giảm thiểu rủi ro biến động giá cả và đảm bảo tính bền vững cho chuỗi cung sản phẩm sắn.

Một nghiên cứu của Quỹ Sáng kiến Hợp tác ở Đồng bằng Sông Niger (PIND, 2011) đã cung cấp thông tin chi tiết về chuỗi sản phẩm sắn tại Nigeria, nhằm thúc đẩy đầu tư trong tương lai Nghiên cứu chỉ ra rằng sản xuất, chế biến và tiêu thụ sắn có nhiều cơ hội phát triển, nhưng cần sự hỗ trợ từ các tổ chức và khung pháp lý phù hợp Các giải pháp được đề xuất nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững cho ngành hàng sắn trong khu vực Hộ sản xuất sắn quy mô nhỏ vẫn chiếm ưu thế, với khoảng 95% nông dân trồng sắn canh tác từ 0,2 đến 1 ha, đạt năng suất từ 8 tấn.

Hộ trồng sắn quy mô lớn (từ 10 ha trở lên) chiếm tỷ lệ khá ít trong khu vực, với năng suất đạt khoảng 10 tấn/ha Đáng chú ý, chi phí lao động trong sản xuất sắn lên tới 70% tổng chi phí, chủ yếu là do công lao động.

8 làm lãi Vì vậy, sản xuất sắn quy mô lớn cần đầu tư máy móc thiết bị và không khả thi với nông dân nghèo ở khu vực này.

Các nghiên cứu cho thấy thu nhập từ sản xuất sắn đóng góp đáng kể cho hộ gia đình, khu vực và quốc gia, nhưng vẫn còn sự liên kết lỏng lẻo trong chuỗi sản phẩm và thị trường tiêu thụ sắn Việc áp dụng công nghệ cao gặp khó khăn cho nông dân nghèo trồng sắn Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa tập trung nhiều vào hiệu quả kinh tế của sản xuất sắn hộ gia đình và các yếu tố ảnh hưởng đến nó.

Các tác giả Akpan, S B và cộng sự (2013) [63], Ehinmowo, O O và cộng sự

Nghiên cứu của Onubuogu và cộng sự (2014) cho thấy hiệu quả kinh tế của hộ trồng sắn không đạt mức cận biên, với các yếu tố như trình độ nông dân, khả năng dự đoán lượng mưa, kinh nghiệm, quy mô diện tích, kỹ thuật canh tác, bón phân, vốn và lao động ảnh hưởng đáng kể đến năng suất Ngoài ra, giáo dục và số người trong hộ gia đình cũng tác động đến hiệu quả sản xuất Nghiên cứu chỉ ra rằng chế biến sắn theo phương pháp địa phương không hiệu quả và khuyến nghị cần có chính sách để nâng cao trình độ nông dân, khuyến khích đầu tư tư nhân Hơn nữa, quy mô đất canh tác hạn chế, hệ thống dịch vụ đầu vào và tiêu thụ, cơ sở hạ tầng, cùng với việc áp dụng kỹ thuật sản xuất sắn chưa được chính quyền địa phương quan tâm đúng mức.

Nghiên cứu chỉ ra rằng phương pháp chế biến sắn hiện tại chưa hiệu quả do người dân thiếu hiểu biết về tiến bộ khoa học, vì vậy cần nâng cao trình độ và đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến sắn gần vùng nguyên liệu Các nghiên cứu đã phân tích rõ các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất sắn, tạo cơ sở cho việc nghiên cứu tại Việt Nam Tuy nhiên, yếu tố lao động trong sản xuất sắn chưa được đánh giá đầy đủ, đặc biệt khi lao động nông nghiệp ở Việt Nam chủ yếu là dồi dào và thường được hoán đổi Hơn nữa, chuỗi giá trị và các tác nhân dọc theo chuỗi giá trị sắn cũng chưa được làm rõ trong nghiên cứu này.

Nghiên cứu của Girei, A A và cộng sự (2014) cùng với Ademiluyi, I O và cộng sự (2017) đã phân tích năng suất và hiệu quả kỹ thuật sản xuất sắn thông qua việc thu thập dữ liệu từ nông dân trồng sắn bằng bảng câu hỏi thiết kế sẵn Sử dụng phương pháp thống kê mô tả và ước lượng khả năng tối đa (MLE) cho các thông số của hàm sản xuất cận biên ngẫu nhiên, kết quả cho thấy lao động làm thuê là yếu tố quan trọng nhất trong sản xuất sắn, tiếp theo là quy mô trang trại, phân bón và hóa chất nông nghiệp Ngoài ra, các yếu tố ảnh hưởng đến sự kém hiệu quả kỹ thuật như tuổi người lao động, giáo dục, kinh nghiệm canh tác, khả năng tiếp cận tín dụng và quy mô hộ gia đình cũng có ý nghĩa quan trọng.

Nghiên cứu cho thấy nông dân sản xuất sắn đạt hiệu quả kỹ thuật cao hơn mức trung bình, mang lại lợi nhuận đáng kể cho hộ gia đình Các tác giả đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật trong sản xuất sắn, giúp nông dân điều chỉnh để nâng cao hiệu suất Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện tại chưa phân tích rõ ràng về sự phân bổ chi phí và lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị sắn.

Ajayi, C O và cộng sự (2018) đã tiến hành nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến an ninh lương thực và hiệu quả kỹ thuật của nông dân trồng sắn tại Bang Ondo, Nigeria Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định các yếu tố quyết định giúp nâng cao năng suất và đảm bảo an ninh lương thực cho người nông dân trong khu vực.

Nghiên cứu sử dụng các chỉ số an ninh lương thực, phân tích màng bao dữ liệu (DEA) và mô hình Heckman probit trên 120 hộ trồng sắn cho thấy chỉ 43% người tham gia khẳng định đảm bảo an ninh lương thực Kết quả từ DEA cho thấy khoảng 80% người được hỏi có hiệu quả kỹ thuật trên 0,5, với hiệu quả kỹ thuật trung bình đạt 0,83 Mô hình Heckman probit chỉ ra rằng các yếu tố như kinh nghiệm canh tác, giáo dục, tuổi nông hộ, số lượng người phụ thuộc, khả năng tiếp cận tín dụng, tiếp cận đại lý khuyến nông, khoảng cách đến vùng trồng sắn và quy mô diện tích đều ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật và an ninh lương thực Do đó, nâng cao hiệu quả kỹ thuật cho nông dân trồng sắn là cần thiết để cải thiện an ninh lương thực thông qua việc cải thiện dịch vụ khuyến nông, nâng cao trình độ dân trí và chính sách tín dụng nông nghiệp.

Nghiên cứu về sản xuất sắn tại một số tỉnh Trung Quốc cho thấy hiệu quả kỹ thuật tổng thể (OTE) của các tỉnh như Quảng Tây, Hải Nam, Phúc Kiến, Vân Nam và Giang Tây đều dưới 1, cho thấy sự không hiệu quả trong sản xuất Trong đó, Quảng Tây là tỉnh trồng sắn lớn nhất nhưng lại có hiệu quả quy mô (SE) thấp nhất với chỉ số 0,551 và hiệu quả kỹ thuật thuần túy (PTE) gần mức tối thiểu là 0,344, dẫn đến OTE thấp nhất chỉ đạt 0,190 Do đó, nghiên cứu khuyến nghị cần thúc đẩy công nghiệp hóa và sản xuất sắn quy mô lớn, đồng thời tăng cường hợp tác với các quốc gia ASEAN và Châu Phi để cải thiện nguồn cung sắn tại Trung Quốc.

Cách tiếp cận đánh giá hiệu quả kinh tế trong ngành sản xuất sắn rất đa dạng, bao gồm chuỗi giá trị, vai trò của các tác nhân và quy trình chế biến, tiêu thụ Các nghiên cứu đã chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất sắn, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo an ninh lương thực và nguồn cung sắn trong bối cảnh công nghiệp chế biến sắn phát triển mạnh Tuy nhiên, mỗi nghiên cứu chỉ tập trung vào một khía cạnh nhất định, và chưa có một nghiên cứu nào tổng quát và đầy đủ về hiệu quả và lợi ích kinh tế của ngành này.

Sắn là cây trồng lý tưởng cho người nghèo, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm và ổn định cộng đồng nông thôn.

Theo nghiên cứu của Kazuo Kawano (2001), sắn đang chuyển mình từ nguồn thực phẩm cho con người sang thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu chế biến tinh bột, góp phần tạo ra thu nhập quan trọng cho các hộ gia đình Trong những năm gần đây, diện tích và sản lượng sắn đã tăng nhanh chóng ở nhiều quốc gia châu Á, đóng góp đáng kể vào việc cải thiện thu nhập cho nông hộ và người sản xuất nhỏ.

Những nhận xét rút ra từ tình hình nghiên cứu về phát triển bền vững cây sắn

LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY SẮN

1.1 Lý luận về phát triển bền vững và phát triển nông nghiệp bền vững

1.1.1 Lý luận về phát triển bền vững

Phát triển được định nghĩa là sự gia tăng dần theo hướng tiến bộ hơn, mạnh hơn, theo Từ điển Oxford Từ điển Bách khoa Việt Nam cũng chỉ ra rằng phát triển là phạm trù triết học phản ánh những biến đổi trong thế giới Sự phát triển không chỉ đơn thuần là thay đổi, mà còn hướng tới sự tiến bộ, tốt đẹp hơn Báo cáo Phát triển con người (1996) của Chương trình phát triển LHQ nhấn mạnh rằng "Phát triển con người là mục đích cuối cùng, trong khi tăng trưởng kinh tế là phương tiện".

Theo Amartya Sen (2002), phát triển là quá trình mở rộng quyền tự do của con người, trong đó tăng trưởng kinh tế, tiến bộ công nghệ và thay đổi chính trị được đánh giá dựa trên sự đóng góp của chúng vào việc nâng cao quyền tự do, đặc biệt là quyền thoát khỏi nạn đói và suy dinh dưỡng Các quyền tự do không chỉ là phương tiện mà còn là mục tiêu của sự phát triển Đến cuối thập kỷ 80, Chương trình phát triển của LHQ nhấn mạnh rằng mục đích của phát triển là tạo ra môi trường thuận lợi cho con người có cuộc sống lâu dài, khỏe mạnh và sáng tạo.

Mục tiêu của mỗi quốc gia là đạt được sự tiến bộ toàn diện, trong đó tăng trưởng kinh tế đóng vai trò quan trọng Sự tiến bộ này được đánh giá qua hai khía cạnh: tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội Tăng trưởng kinh tế không chỉ thúc đẩy sự phát triển xã hội mà còn tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý Phát triển kinh tế mang ý nghĩa rộng hơn, bao gồm cả sự thay đổi về số lượng lẫn chất lượng cuộc sống Do đó, phát triển kinh tế có thể được hiểu là một quá trình gia tăng mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định.

NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế và xã hội khu vực Bình Trị Thiên

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên và môi trường khu vực Bình Trị Thiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình

Khu vực Bình Trị Thiên bao gồm ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế Năm 1976, ba tỉnh này được sáp nhập thành một tỉnh với tỉnh lỵ tại thành phố Huế Tuy nhiên, vào ngày 30 tháng 6 năm 1989, Quốc hội khóa VIII đã quyết định tách ba tỉnh này trở lại như cũ, trong đó tỉnh Thừa Thiên mang tên mới là Thừa Thiên Huế Hiện nay, khu vực Bình Trị Thiên có tổng diện tích 17.838,3 km², chiếm 5,38% diện tích tự nhiên của cả nước.

Khu vực BTT nằm trong tọa độ địa lý từ vĩ độ 16 0 đến 18 0 vĩ độ Bắc, kinh độ

Vùng đất nằm giữa 105°30' đến 108°40' kinh độ Đông, thuộc vành đai nhiệt đới gió mùa, phía Bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Nam giáp tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng, còn phía Tây giáp Lào với các cửa khẩu Lao Bảo, Hồng Vân và A Đớt, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu kinh tế với Lào và các nước Đông Nam Á Phía Đông giáp biển Đông, với đường bộ ven biển và nhiều cảng nước sâu, trong đó Quảng Bình là nơi hẹp nhất chỉ 50km Đây là trung tâm kinh tế chính trị quan trọng của Việt Nam, nằm trên trục giao thông xuyên Việt, thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế với các tỉnh phía Bắc và phía Nam.

Khu vực BTT có địa hình phức tạp với độ cao giảm dần từ miền núi xuống gò đồi trung du, tiếp theo là các đồng bằng ven biển và các đảo Lãnh thổ chủ yếu là núi và đồi hướng ra biển, có độ dốc lớn và nước chảy xiết, thường xuyên xảy ra lũ lụt bất ngờ, gây khó khăn cho sản xuất và đời sống của người dân.

Khu vực BTT là vùng giáp biển với địa hình chủ yếu là đồng bằng ven biển và núi thấp, kéo dài theo hướng Đông - Tây với chiều ngang trung bình từ 40 đến 50km Diện tích đồng bằng không lớn do sự hiện diện của các dãy núi phía Tây, chúng trải dài theo hướng Nam và dần thu hẹp về phía biển Đồng bằng này chủ yếu được hình thành từ sự bồi đắp của sông và biển, thường nằm sát chân núi.

2.1.1.2 Khí hậu và tài nguyên thiên nhiên

- Về khí hậu, thời tiết

Khí hậu khu vực mang đặc trưng nhiệt đới gió mùa, với nhiệt độ trung bình năm đạt 22°C và lượng mưa trung bình 2.262 mm Có ba tiểu vùng khí hậu chính: Tiểu vùng Đông Trường Sơn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió mùa Đông Bắc, với nhiệt độ trung bình cao (24,9°C) vào mùa hè; Tiểu vùng chuyển tiếp có khí hậu ôn hòa, mang sắc thái á nhiệt đới với nhiệt độ trung bình năm là 22°C; và Tiểu vùng Tây Trường Sơn, nơi có khí hậu nhiệt đới rõ nét, với nhiệt độ trung bình năm lên tới 25,3°C.

Khu vực BTT nổi bật với khí hậu khắc nghiệt nhất Việt Nam, thường xuyên phải đối mặt với thiên tai như bão, lũ, gió Lào và hạn hán Những hiện tượng này chủ yếu xuất phát từ vị trí địa lý và cấu trúc địa hình của vùng Mặc dù khu vực này cũng chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc lạnh, nhưng mức độ tác động không đáng kể so với Bắc Bộ.

Khu vực BTT có điều kiện khí hậu và thời tiết đa dạng, phức tạp, điều này gây ra nhiều thách thức cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực trồng sắn.

Nghiên cứu lịch thời vụ trồng và thu hoạch sắn rải vụ, cùng với việc lập kế hoạch phòng chống dịch hại và bệnh cho cây sắn, là rất cần thiết Bên cạnh đó, cải tiến kỹ thuật chế biến sắn cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu tác động tiêu cực của khí hậu và thời tiết.

Vùng này sở hữu tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng, với trữ lượng đáng kể các loại khoáng sản như crômit, sắt, đá vôi xi măng, cát thủy tinh, sét dùng để sản xuất gạch và ngói, cùng với titan.

Diện tích đất cát, sỏi và đất bạc màu chiếm tỷ lệ lớn, bao gồm ba loại đất chính: đất đỏ vàng ở vùng trung du miền núi thích hợp cho cây công nghiệp dài ngày và khai thác lâm nghiệp; đất phù sa ven sông phù hợp với cây lương thực và hoa màu; và đất cát ven biển chất lượng thấp chỉ phù hợp cho một số loại cây hoa màu và cây chống gió như phi lao và bạch đàn Khu vực này cũng có diện tích rừng lớn, cung cấp gỗ và lâm sản hàng hóa quan trọng, góp phần vào xuất khẩu của đất nước.

Vùng biển này sở hữu chiều dài bờ biển lớn và độ sâu đáng kể gần bờ, cùng với nhiều eo biển, cửa sông, vũng và vịnh, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế biển, du lịch, giao thông hàng hải và đánh bắt cá Đặc biệt, vùng biển có sự đa dạng về các loài cá có giá trị như cá trích, mòi, nhồng, cá thu, cá mập và mối, góp phần thúc đẩy hoạt động khai thác hải sản.

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực Bình Trị Thiên

2.1.2.1 Tình hình dân số và lao động

Khu vực Bình Trị Thiên có tổng dân số trung bình năm 2017 là 2.664.091 người, chiếm 2,86% dân số cả nước, với mật độ dân số 160,0 người/km², thấp hơn mức trung bình quốc gia Tỷ lệ dân số thành thị là 24,1% và nông thôn là 75,9% Lực lượng lao động đạt 1.513.223 người, tăng 0,11% so với năm 2016, chiếm 56,8% tổng dân số khu vực Mặc dù cơ cấu dân số và lao động thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, nhưng dân số nông thôn đang giảm và dân số thành thị tăng do đô thị hóa và di dân từ nông thôn lên thành phố.

Bảng 2.1: Tình hình dân số, lao động khu vực Bình Trị Thiên giai đoạn 2015 – 2017

STT Chỉ tiêu Đơn vị 2015 2016 2017 2017/2016

3 Tỷ lệ lao % 57,5 57,0 56,8 động/dân số

Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam (năm 2018) [46]

Tỉnh Quảng Bình chủ yếu có cư dân là người Kinh, bên cạnh đó còn có các dân tộc thiểu số thuộc hai nhóm chính là Chứt và Bru-Vân Kiều, trong đó nổi bật là tộc người Khùa.

Mã Liềng, Rục, Sách, Vân Kiều, Mày và Arem là các dân tộc thiểu số chủ yếu sinh sống tại hai huyện miền núi Tuyên Hoá và Minh Hoá, cùng một số xã miền Tây Bố Trạch, Quảng Ninh và Lệ Thuỷ Dân cư của các dân tộc này phân bố không đồng đều, trong đó 80,3% cư trú ở khu vực nông thôn và chỉ 19,7% sống tại các khu vực đô thị.

5 lượng trong độ tuổi lao động của tỉnh Quảng Bình khá dồi dào, năm 2017 là 531.416 người chiếm 60,2% tổng dân số của toàn tỉnh [15], [60].

Cộng đồng các dân tộc tỉnh Quảng Trị gồm 3 dân tộc chính: Kinh, Vân Kiều và

Pa Cô là một vùng có khoảng 9,0% dân số là các dân tộc thiểu số, chủ yếu sinh sống tại các huyện miền núi phía Tây tỉnh Quảng Trị như Hướng Hóa và Đakrông Tỷ lệ dân số nông thôn chiếm 70,4%, trong khi dân số thành thị là 29,6% Năm 2017, lực lượng lao động trong độ tuổi tại Quảng Trị đạt 349.721 người, tương đương 55,8% tổng dân số của tỉnh.

KẾT QUẢ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY SẮN Ở KHU VỰC BÌNH TRỊ THIÊN

CÂY SẮN Ở KHU VỰC BÌNH TRỊ THIÊN

3.1 Thực trạng phát triển bền vững sắn ở khu vực Bình Trị Thiên

3.1.1 Chủ trương và quy hoạch phát triển cây sắn ở các tỉnh thuộc khu vực Bình Trị Thiên Để phát triển bền vững cây sắn ở khu vực BTT, các tỉnh quy hoạch vùng trồng sắn, nhà máy chế biến tinh bột sắn và ổn định diện tích trồng sắn đến năm 2020, cụ thể:

Quyết định số 933/QĐ-UBND ngày 25 tháng 4 năm 2011 của UBND tỉnh Quảng Bình phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển ngành nông nghiệp tỉnh đến năm 2020, trong đó tập trung hình thành các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa như lúa chất lượng cao, cao su, hồ tiêu và sắn nguyên liệu Đặc biệt, đối với cây sắn, mục tiêu là đến năm 2015, diện tích trồng sắn toàn tỉnh đạt 6.500 ha và duy trì ổn định trong những năm tiếp theo.

Đến năm 2020, vùng trồng sắn nguyên liệu đã mở rộng từ 5.500 ha năm 2015 lên 6.000 ha Sản lượng sắn đạt 112,65 ngàn tấn vào năm 2015 và tăng nhẹ lên 114,20 ngàn tấn vào năm 2020 Nhà máy Chế biến tinh bột sắn Sông Dinh - Bố Trạch cũng nâng công suất từ 16.000 tấn năm 2015 lên 20.000 tấn năm 2020.

Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐND ngày 25 tháng 4 năm 2014 của HĐND tỉnh Quảng Trị về quy hoạch phát triển ngành nông nghiệp tỉnh Quảng Trị đến năm

Đến năm 2020, quy hoạch phát triển vùng chuyên canh cây công nghiệp ngắn ngày đối với cây sắn tại tỉnh đã xác định duy trì diện tích trồng sắn là 10.500 ha Các huyện trọng điểm bao gồm Hướng Hóa, Vĩnh Linh, Hải Lăng, Cam Lộ, Đakrông, Triệu Phong và Gio Linh sẽ tập trung phát triển diện tích trồng sắn theo hướng thâm canh và xen canh phù hợp.

Quyết định số 795/QĐ-UBND ngày 21 tháng 4 năm 2016 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp nhằm nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững cho tỉnh trong giai đoạn 2016-2020 Mục tiêu chính của đề án là cải thiện hiệu quả sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy ứng dụng công nghệ mới và bảo vệ môi trường, từ đó góp phần vào sự phát triển kinh tế bền vững của tỉnh Thừa Thiên Huế.

Năm 2020, tỉnh tập trung phát triển các sản phẩm nông nghiệp hàng hóa chủ lực, khai thác lợi thế so sánh theo ba vùng sinh thái: vùng gò đồi, miền núi, và vùng đồng bằng ven biển Trong lĩnh vực nông nghiệp, việc tái cơ cấu và xác định các sản phẩm chủ lực bao gồm lúa, lạc, sắn công nghiệp, cao su và gỗ là rất quan trọng.

Đến năm 2020, diện tích trồng sắn công nghiệp tại Phong đạt từ 7.500 đến 8.000 ha, nhằm cung cấp nguyên liệu cho nhà máy chế biến tinh bột sắn Sự phát triển này không chỉ góp phần vào nguồn nguyên liệu cho ngành chế biến mà còn thúc đẩy nền kinh tế địa phương.

Tại Phong Điền và A Lưới, giá trị thu hoạch trên mỗi hecta đất trồng cây sắn ước đạt 45 triệu đồng Diện tích trồng sắn được duy trì ổn định nhằm cung cấp nguyên liệu cho hai nhà máy chế biến: Nhà máy tinh bột sắn Phong An tại Phong Điền với công suất 300 tấn/ngày và Nhà máy tinh bột sắn A Lưới có công suất 150 tấn/ngày.

Bảng 3.1: Tình hình diện tích trồng sắn so với quy hoạch của các tỉnh thuộc khu vực BTT Đơn vị tính: ha

Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2019 và tính toán của tác giả [46] Qua

Năm 2018, diện tích trồng sắn của khu vực BTT thấp hơn 2,3% so với quy hoạch đến năm 2020, tương đương 569 ha Trong đó, Quảng Trị vượt quy hoạch 13,3% với 1.400 ha, cho thấy cần điều chỉnh quy hoạch hoặc chuyển đổi cây trồng phù hợp Ngược lại, tỉnh TT Huế vẫn thấp hơn quy hoạch 24,9%, tương ứng 1.990 ha, cho thấy tiềm năng mở rộng diện tích trồng sắn còn lớn.

3.1.2 Thực trạng phát triển bền vững cây sắn về mặt kinh tế

Sắn là cây trồng chủ yếu để thu hoạch tinh bột, và trước khi xây dựng nhà máy ở khu vực BTT, sản phẩm sắn chủ yếu được sử dụng trong chăn nuôi cũng như làm lương thực và thực phẩm.

Kể từ năm 2004, sự phát triển của các nhà máy chế biến tinh bột sắn tại khu vực BTT đã thúc đẩy diện tích trồng sắn tăng nhanh chóng, từ 20,0 nghìn ha vào năm 2005 lên 25,4 nghìn ha vào năm 2017, tương ứng với mức tăng 27,0% Sản lượng sắn cũng ghi nhận sự tăng trưởng ấn tượng, từ 299,0 nghìn tấn năm 2005 lên 453,4 nghìn tấn vào năm 2017, tương đương với mức tăng 51,6% Mặc dù năng suất sắn có sự cải thiện nhẹ, đạt 17,9 tấn/ha vào năm 2017, nhưng vẫn thấp hơn mức trung bình toàn quốc là 19,2 tấn/ha.

Bảng 3.2: Tình hình diện tích, năng suất và sản lượng sắn khu vực Bình Trị Thiên giai đoạn 2013 - 2017

S Đơn Năm Tốc độ tăng

T Chỉ tiêu vị tính trưởng bình

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2018, trong giai đoạn 2013-2017, diện tích, năng suất và sản lượng sắn có sự gia tăng nhẹ, với tốc độ tăng trưởng bình quân diện tích đạt 2,1%, năng suất tăng 0,6% và sản lượng tăng 2,7% Tuy nhiên, diện tích trồng sắn năm 2017 so với năm 2016 đã giảm 4,1% do quy hoạch vùng trồng sắn tại khu vực BTT đang có xu hướng giảm diện tích.

Bảng 3.3: Tình hình diện tích trồng sắn và cây trồng cạn khu vực Bình Trị Thiên giai đoạn 2013 - 2017

- Cây có hạt 7.886 13.675 12.916 12.890 12.829 chứa dầu

Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam (năm 2018) [46]

Theo Bảng 3.3, vào năm 2013, diện tích trồng sắn tại khu vực BTT đạt 23.800 ha, chiếm tỷ trọng 45,7% so với tổng diện tích cây trồng cạn của khu vực.

Vào năm 2017, diện tích trồng sắn tại khu vực BTT đã tăng nhanh, đạt 25.400 ha, chiếm 43,7% tổng diện tích cây trồng cạn Điều này cho thấy cây sắn là cây trồng chủ lực không chỉ của khu vực mà còn của các hộ nông dân.

Diện tích trồng sắn tập trung chủ yếu ở các huyện Bố Trạch, Hướng Hóa và Phong Điền, chiếm tỷ lệ cao trong tổng diện tích trồng sắn của tỉnh Nguyên nhân là do khu vực này có nhà máy chế biến tinh bột sắn, cùng với đất đai phù hợp và thuận lợi cho việc vận chuyển, tiêu thụ sản phẩm.

Bảng 3.4: Diễn biến diện tích sắn vùng nghiên cứu ở khu vực

Bình Trị Thiên giai đoạn 2010 - 2017

ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY SẮN Ở KHU VỰC BÌNH TRỊ THIÊN

4.1 Quan điểm định hướng phát triển bền vững cây sắn ở khu vực Bình Trị Thiên

4.1.1 Bối cảnh phát triển bền vững cây sắn ở khu vực Bình Trị Thiên

4.1.1.1 Phát triển bền vững cây sắn trong điều kiện quan tâm của nhà nước về sử dụng nhiên liệu sinh học

Việc sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học đang trở thành xu thế toàn cầu nhằm tìm kiếm nguồn năng lượng tái tạo Tại Việt Nam, an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường ngày càng được chú trọng, với nhiều chính sách và quy định được ban hành để thúc đẩy ứng dụng thực tiễn Kể từ ngày 01/12/2017, xăng E10 (gồm 10% nhiên liệu sinh học) đã được áp dụng cho phương tiện giao thông trên toàn quốc Sự phát triển bền vững cây sắn tại khu vực BTT sẽ cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến xăng sinh học (ethanol), góp phần ổn định thị trường tiêu thụ và thúc đẩy tăng trưởng nhanh trong tương lai.

4.1.1.2 Phát triển bền vững cây sắn gắn với xây dựng nông thôn mới, đặc biệt là định canh định cư cộng đồng dân tộc thiểu số vùng cao, nông dân nghèo.

Khu vực BTT, với nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, có tiềm năng lớn trong sản xuất nhiên liệu sinh học và chế biến tinh bột từ nguồn nguyên liệu sắn phong phú Cây sắn đóng vai trò quan trọng, chiếm 43,7% diện tích canh tác cây trồng cạn và mang lại 47,7% thu nhập cho các hộ gia đình trong khu vực Loại cây này rất thích hợp với điều kiện khí hậu, thời tiết và thổ nhưỡng địa phương, đặc biệt là ở các vùng đồi núi và khu vực dân tộc thiểu số, nơi mà nông dân nghèo có thể tận dụng để cải thiện đời sống.

Khu vực BTT đang đối mặt với nhiều khó khăn về kinh tế, với thu nhập bình quân đầu người ở mức thấp và cơ sở hạ tầng chưa phát triển đồng bộ Các tỉnh trong khu vực đặc biệt chú trọng đến công tác xóa đói giảm nghèo và ổn định cuộc sống cho người dân Phát triển bền vững cây sắn không chỉ tạo việc làm và thu nhập cho nông dân mà còn nâng cao giá trị chuỗi cung ứng sắn, góp phần vào nền kinh tế địa phương Điều này cũng là một phần quan trọng trong chương trình xây dựng nông thôn mới Do đó, cần lồng ghép các dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn mới với hạ tầng vùng trồng sắn, đồng thời khai thác hiệu quả nguồn lực địa phương Cải thiện cơ sở hạ tầng sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, nâng cao thu nhập cho cộng đồng, đặc biệt là các vùng dân tộc thiểu số và vùng biên giới.

4.1.1.3 Phát triển bền vững cây sắn gắn với bảo vệ môi trường sinh thái tại vùng trồng và khu vực nhà máy chế biến tinh bột sắn

Cây sắn là cây trồng chủ lực tại các tỉnh BTT, đóng góp quan trọng vào kinh tế địa phương và thu nhập của hộ gia đình nông dân, đặc biệt nâng cao đời sống người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên, việc khai thác quá mức và thiếu đầu tư thâm canh đã dẫn đến tình trạng đất đai bạc màu và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại các nhà máy chế biến Do đó, phát triển cây sắn cần gắn liền với bảo vệ môi trường, cải tiến kỹ thuật, và đầu tư thâm canh để chống xói mòn đất Các nhà máy chế biến tinh bột sắn cũng cần nâng cấp hệ thống xử lý nước thải để đảm bảo tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.

Các cấp, ngành địa phương cần chú trọng vào việc tuyên truyền để người dân thực hiện đúng các yêu cầu kỹ thuật trong trồng sắn Đồng thời, cần thường xuyên kiểm tra và giám sát các nhà máy chế biến tinh bột sắn để đảm bảo tuân thủ các quy định hiện hành về tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.

4.1.2 Phân tích SWOT về phát triển bền vững cây sắn ở khu vực Bình Trị Thiên

Dựa trên kết quả điều tra và phân tích thực trạng, cùng với các nghiên cứu của các nhà khoa học về phát triển, có thể xác định một số điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong phát triển bền vững cây sắn ở khu vực BTT.

- Cây sắn là cây dễ trồng, ít chăm sóc, cho sản lượng và giá trị kinh tế cao Sắn là

124 cây trồng quen thuộc, người nông dân có kinh nghiệm sản xuất sắn lâu năm;

Sản lượng sắn xuất khẩu luôn là một trong mười mặt hàng nông sản xuất khẩu chính của Việt Nam trong giai đoạn gần đây;

Chính phủ và các tỉnh khu vực BTT đang chú trọng phát triển chuỗi giá trị cây sắn, nhằm xác định cây sắn là một cây công nghiệp quan trọng Cây sắn được xem như nguyên liệu đầu vào cho sản xuất xăng sinh học (ethanol) tại các nhà máy trong nước và khu vực BTT.

Mối liên kết giữa người trồng sắn và các nhà máy chế biến tinh bột sắn đang ngày càng được củng cố Nước thải từ quy trình chế biến tinh bột sắn được kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn quy định của quốc gia.

Thoái hóa đất ở khu vực trồng sắn và ô nhiễm môi trường sinh thái từ nhà máy chế biến sắn đã dẫn đến xung đột giữa người dân và nhà máy.

Sản lượng tiêu thụ sắn trong nước thấp, chủ yếu phục vụ xuất khẩu, dẫn đến ngành sắn Việt Nam, đặc biệt là khu vực BTT, bị ảnh hưởng nặng nề khi thị trường thế giới biến động Địa hình canh tác phức tạp tại các khu vực đồi núi, cùng với dân cư chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, gây khó khăn trong việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và cơ giới hóa trong sản xuất, chăm sóc và thu hoạch, bên cạnh đó là thiếu vốn đầu tư cần thiết.

Việt Nam và khu vực Biển Đông có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển cây sắn Điều này giúp cây sắn đạt năng suất cao, tỷ lệ độ bột và sản lượng cũng được nâng cao đáng kể.

Các chương trình và dự án trong và ngoài nước đang tập trung vào nghiên cứu cải tạo, chọn lọc và lai tạo giống sắn phù hợp với từng khu vực, nhằm nâng cao năng suất và khả năng chống chịu sâu bệnh hiệu quả.

Sắn có tiềm năng lớn trong việc phát triển và đa dạng hóa thị trường tiêu thụ, đặc biệt là tại thị trường nội địa cũng như các quốc gia Đông Nam Á và Châu Á.

Giống sắn KM94, hiện đang được trồng chủ yếu tại khu vực BTT, đã được đưa vào canh tác hơn 20 năm, dẫn đến tình trạng năng suất giảm dần và dễ mắc các bệnh như chổi rồng và virus khảm lá trắng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản lượng thu hoạch.

+ Phát triển diện tích trồng sắn không theo quy hoạch và hiện tượng diện tích chuyển đổi và chịu sự cạnh tranh của các cây trồng khác;

+ Sản xuất sắn chủ yếu ở nông hộ nhỏ lẻ nên việc cơ giới hóa trong hoạt động trồng và chăm sóc gặp nhiều khó khăn.

- Trong chế biến, thị trường xuất khẩu

Ngày đăng: 14/01/2022, 14:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w