Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cho dược liệu nấm linh chi khô

Một phần của tài liệu xây dựng tiêu chuẩn cho nguyên liệu nấm linh chi khô (Trang 55 - 60)

Căn cứ vào các nội dung đã trình bày ở trên, xin được đề nghị tiêu chuẩn kiểm nghiệm dược liệu nấm Linh chi khô như sau:

Linh chi (Quả thể) Ganoderma lucidum

Mô tả

Nấm Linh chi là dạng quả thể, mũ nấm hình thận, bán tròn hoặc hơi tròn, đường kính từ 10-18 cm, dày từ 1-2 cm. Vỏ cứng, có màu vàng nâu đến nâu đỏ, bóng, mép nấm tròn và có nếp nhăn, cạnh mỏng và hơi cong. Phần ruột nấm có màu trắng đến nâu. Cuống nấm hình trụ, dài từ 7-15 cm, đường kính từ 1-3,5 cm, có màu từ nâu đỏ đến tím nâu. Bào tử nhỏ và mịn, màu vàng nâu. Mùi thơm nhẹ, vị đắng.

Soi bột

Bột màu nâu nhạt, nậu đậm hoặc vàng nâu. Sợi nấm phân tán hoặc theo nhóm, không màu hoặc màu nâu nhạt, mỏng, hơi cong, phân nhánh. Đường kính từ 2,5-6,5 m. Bào tử màu nâu, hình trứng, có 2 lớp màng. Lớp ngoài trong suốt, không màu và mỏng; lớp trong màu vàng, có nhiều gai nhỏ dạng bứu dài từ 8-12 m, rộng 5-8 m.

Định tính:

A. Bằng các phương pháp hóa học (như phần 3.2.3).

B. Thực hiện phương pháp sắc ký lớp mỏng Bản mỏng: Silica gel G.

Dung môi khai triển: Petroleum ether (60 – 90 C) : Ethyl formate : Formic acid (15 : 5 : 1).

Dung dịch thử: Lấy khoảng 2 gam bột dược liệu, thêm 30 ml methanol, đun hoàn lưu 30 phút, lọc, bốc hơi dịch lọc đến cắn, hòa tan cắn trong 2 ml methanol.

Dung dịch đối chiếu: chuẩn bị dung dịch đối chiếu của nấm Linh chi theo cách tương tự chuẩn bị dung dịch thử.

Tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 4 l mỗi dung dịch thử và dung dịch đối chiếu. Sau khi khai triển, làm khô trong không khí kiểm tra dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 365 nm. Tại chỗ huỳnh quang trong sắc ký đồ của dung dịch thử tương ứng về vị trí và màu sắc trong sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu.

Độ ẩm: Không quá 17%.

Tro toàn phần: Không quá 3,2%.

Tro không tan trong acid: Không quá 0,5%.

Bán định lượng kim loại nặng: Không quá 10 ppm chì.

Chất chiết được trong dược liệu: Thực hiện phương pháp chiết nóng để xác định chất chiết được trong dịch chiết nước. Không ít hơn 3%.

Cân chính xác khoảng 2-4 gam bột dược liệu cho vào bình nón 250-300 ml. Thêm chính xác 50-100 ml nước, đậy kín, cân để xác định khối lượng và để yên trong 1 giờ. Sau đó, đun sôi nhẹ dưới hồi lưu trong 1 giờ. Để nguội, lấy bình nón ra, đậy kín, cân để xác định lại khối lượng, thêm nước để bổ sung phần khối lượng bị giảm, lắc mạnh, lọc qua phễu lọc khô vào một bình hứng khô thích hợp. Lấy chính xác 25 ml dịch lọc vào cốc thủy tinh đã cân bì trước, cô trong cách thủy đến cắn khô. Cắn thu được sấy ở 105 C trong 3 giờ, lấy ra để nguội trong bình hút ẩm 30 phút. Cân nhanh để xác định khối lượng cắn.

Tính phần trăm lượng chất chiết được bằng nước theo dược liệu khô.

Định lượng Polysaccharides: không thấp hơn 0,5%.

Chế biến

Quả thể nấm Linh chi sau thu hái được vệ sinh sạch sẽ, phơi khô hoặc sấy ở 40 – 50 C, thường khoảng 3 kg nấm tươi thu được 1 kg nấm khô.

Bảo quản

Có thể đóng gói trong bao PA hút chân không. Bảo quản ở nơi mát, thoáng gió, khô ráo. Định kỳ phải theo dõi nấm mốc, sâu bọ.

Tính vị, quy kinh

Linh chi có vị ngọt hoặc đắng, tính bình, không độc. Quy vào các kinh Tâm, Can, Tỳ, Vị, Phế và Thận.

Công năng, chủ trị

Bổ sung khí huyết và giảm áp lực, làm giảm ho và hen suyễn. Chủ trị:

Chóng mặt, mất ngủ, hồi hộp đánh trống ngực, khó thở, ho, hen suyễn.

Sử dụng và liều lượng:

Ngày dùng 6-12 g dược liệu.

Kiêng kỵ

Không dùng Linh chi cùng với các vị thuốc “thường sơn”, “biển thanh”, “nhân trần”.

4.4.2 Giải thích tiêu chuẩn

Phần mô tả thực vật, soi bột, định tính bằng sắc ký lớp mỏng, độ ẩm, tro toàn phần, tro không tan trong acid, chất chiết được trong dược liệu, công năng, chủ trị, cách dùng, liều lượng vẫn giữ nguyên theo tiêu chuẩn của Dược điển Trung Quốc 2005.

Bổ sung thêm: Vấn đề nhiễm kim loại nặng trong dược liệu là vấn đề được quan tâm nên khi xây dựng tiêu chuẩn cho dược liệu nấm Linh chi khô đã bổ sung thêm phần Bán định lượng kim loại nặng (tính theo chì), đồng thời bổ sung các phương pháp định tính các nhóm hoạt chất chính, định lượng Polysaccharides thô, chế biến, bảo quản, tính vị, quy kinh, kiêng kỵ.

Trong phần thử độ tinh khiết:

Các chỉ tiêu trên là cần thiết để đảm bảo chất lượng, tính tinh khiết của dược liệu nấm Linh chi khô (không ẩm mốc và lẫn tạp chất), qua đó đánh giá được công tác chế biến, bảo quản đồng thời, tránh các sai số xảy ra khi định tính, định lượng các phần không phải là dược liệu.

Trong phần định tính:

Phần định tính các hoạt chất Triterpenoid, Alkaloid, Saponin, Acid hữu cơ được tiến hành bằng các thuốc thử hóa học theo những phương pháp thử cơ bản dựa vào các dấu hiệu nhận biết đặc trưng, các hoạt chất được xác định là có tồn tại trong nấm Linh chi. Việc xác định các chỉ tiêu này nhằm xác thực lại những hoạt chất có lợi trong nấm Linh chi, đảm bảo cả các loại nấm nghiên cứu đều có hoạt tính tốt khi dùng để làm thuốc và trị bệnh.

Trong phần định lượng:

Công tác xác định hàm lượng Polysaccharides thô trong nấm Linh chi là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng nấm, là một dữ liệu quan trọng cho công tác sử dụng nấm Linh chi làm thuốc. Qua việc khảo sát hàm lượng của 10 loại nấm Linh chi, ta rút ra được kết luận về loại nấm có chứa hàm lượng Polysaccharides cao, từ đó có thể ứng dụng vào việc chọn giống nuôi trồng và sản xuất.

Thực nghiệm được tiến hành theo Qui trình chiết suất polysaccharides từ nấm Linh chi (Theo Yihuai Gao và ctv, 2001) sử dụng cồn 80% ở nhiệt độ 70C.

Ngoài phương pháp chiết trên, Polysaccharide được tiến hành định lượng bằng phương pháp UV-VIS trong luận văn của bạn Lê Đăng Khoa.

Đồng thời, trong luận văn của bạn Bùi Thị Ngọc Hân cũng đã tiến hành định

lượng một hoạt chất quan trọng khác trong nấm Linh chi là Triterpenoid bằng phương pháp UV-VIS.

Một phần của tài liệu xây dựng tiêu chuẩn cho nguyên liệu nấm linh chi khô (Trang 55 - 60)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(68 trang)