Phân tích môi trường vĩ mô

Một phần của tài liệu QUẢN TRỊ CHIẾN lược KINH DOANH tại CÔNG TY TMDV THÀNH đạt VŨNG tàu (Trang 23 - 28)

CHƯƠNG III: XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC CÔNG TY CÔNG TY TMDV THÀNH

I. Phân tích môi trường vĩ mô

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao 7-8% hàng năm biểu hiện cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang phát triển theo chiều hướng tốt. Đây là một nền kinh tế vững chắc để kích thích các thành phần kinh tế vươn lên. Nhìn chung, đây là một thuận lợi cho Doanh Nghiệp đang đầu tư trên địa bàn Viêt Nam hiện nay.

Hình 11: Biểu đồ tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đọan 98 – 05

- Tỷ lệ lạm phát: Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao ( 7 - 8%), cùng với tình hình thế giới có nhiều bất ổn. Lạm phát có xu hướng tăng cao trong tương lai. Nhưng trong vòng một thập niên trở lại đây, lạm phát ở nước ta luôn được duy trì ở mức thấp (dưới hai con số) điều này cho thấy sự điều tiết của chính phủ là tốt. Rõ nét nhất là trước tình hình biến động phức tạp của giá xăng dầu trong năm qua và hiện nay, chính phủ vẫn duy trì được mức độ lạm phát dưới hai con số mà vẫn đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Đây

là một tín hiệu tốt cho các Doanh Nghiệp sản xuất và kinh doanh trong môi trường kinh tế của Việt Nam.

- Lãi suất ngân hàng: Với tình hình thế giới có nhiều bất ổn như hiện nay. Hơn nữa, dưới áp lực kiềm chế lạm phát và đảm bảo mục tiêu tăng trưởng đã đề ra. Lãi suất ngân hàng ở Việt Nam trong những năm qua có sự điều chỉnh đáng kể. Nếu năm 98 lãi suất ngân hàng là 5% thì đến năm 2005 là 7.4% ( xem hình13) tăng 2.7% trong vòng 5 năm.

Điều này ảnh hưởng, gây áp lực trả lãi đến các Doanh Nghiệp cũng như là sự mở rộng quy mô và đầu tư mới, đặc biệt là ngành xây dựng vì ngành này đang trong giai đọan chuyển đổi công nghệ.

Hình 12: Biểu đồ lạm phát ở Việt Nam giai đọan 98 – 05

Hình 13: Biểu đồ lãi suất ngân hàng ở Việt Nam giai đọan 98 – 05

- Cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng ngày càng được đầu tư, nâng cấp, cụ thể là: cầu Cần Thơ, Sân bay Trà Nóc, chung cư Dic 1, Dic 2, Dic 3,… tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế của vùng. Điều này, tạo ra nhiều cơ hội mới cho các Doanh nghiệp. Đặc biệt là ngành xây dựng có nhiều cơ hội để phát triển. Khi những công trình này xây xong, nhu cầu quảng cáo thương hiệu quanh các công trình này rất lớn. Hơn nữa, các công trình này sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế của cả khu vực phía Nam vũng Tàu nhờ đó mà Ngành xây dựng cũng sẽ phát triển theo.

- Tốc độ đô thị hoá: Hiện nay, tại thành phố Vũng Tàu và các vùng lân cận, tốc độ đô thị hoá diễn ra rất nhanh. Điều này tạo ra nhiều cơ hội cho ngành xây dựng. Các khu đô thị mới mọc lên thì nhu cầu xây dựng nhà ở là rất lớn.

2. Yếu tố chính trị - pháp luật

- Việt Nam hiện nay là được xếp vào những nước có nền chính trị ổn định cao. Điều này cho thấy sự bền vững của môi trường đầu tư. Từ đó tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, cũng như các doanh nghiệp muốn mở rộng qui mô sản xuất.

- Luật Doanh Nghiệp đã được sửa đổi và bổ sung ngày càng hoàn thiện, cơ chế thông thoáng khuyến khích Doanh Nghiệp đầu tư và phát triển. Đây là một sự thuận lợi đối với ngành cũng như là cho sự phát triển của doanh nghiệp trong tương lai.

- Thiên vị trong các quyết định của chính phủ : Tuy chính phủ luôn luôn quan tâm tạo ra sự công bằng giữa các thành phần kinh tế trong xã hội nhưng ở một mức độ nào đó còn có sự phân biệt. Trong các quyết định còn có sự thiên vị đối với thành phần kinh tế nhà nước điều này tạo ra áp lực đối với cả ngành.

- Mục tiêu số lượng Doanh nghiệp của chính phủ: Đây thực sự là một cơ hội rất lớn đối với ngành vì sự ra đời của nhiều doanh nghiệp làm cho qui mô thị trường ngày càng lớn.

3. Yếu tố xã hội

- Tính xu hướng : Ảnh hưởng bởi xu hướng chung của xã hội, khi mà doanh nghiệp ngày càng quan tâm đến việc marketing cho hình ảnh của chính doanh nghiệp đó. Việc Marketing này thường gắn liền với hoạt động quảng cáo ngoài trời, tuyên truyền, cổ động.

Doanh Nghiệp nào cũng cần phải truyền bá về sản phẩm về đó chính là cơ hội cho ngành xây dựng. Người dân ngày càng chấp nhận xu hướng quảng cáo như một kênh thông tin từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng

- Các chương trình về giáo dục của chính phủ : Chương trình của chính phủ về phổ cập giáo dục, cải tiến chương trình giáo dục bậc trung, đại học làm cho mặt bằng giáo dục chung của xã hội nâng lên một bước. Cơ bản ta đã xoá mù chữ trên 95% dân số, trình độ học vấn ngày càng được nâng cao qua các chương trình giáo dục của chính phủ làm cho sự nhận thức của người dân có nhiều sự thay đổi, họ chấp nhận Quảng cáo như là một kênh thông tin từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng. Đây là một thuận lợi cho tất cả các ngành phát triển trong tương lai.

- Mức độ quan tâm các sự kiện, các ngày lễ lớn của đất nước: Sau gần 20 năm chuyển đổi nền kinh tế, đất nước ta đạt được những thành tựu nhất định về kinh tế, mức sống của người dân được nâng lên một bước bên cạnh đó các hoạt động tinh thần cũng được quan tâm hơn. Các hoạt động tuyên truyền, động diễn ra rầm rộ hơn và có xu hướng

- Mối lo ngại về chất thải và cảnh quan đô thị: Đây là một vấn đề đáng quan tâm đối với ngành. Hiện tại áp lực từ vấn đề này chưa lớn nhưng với xu hướng phát triển trong tương lai thì đây là một vấn đề đáng quan tâm đòi hỏi các Doanh nghiệp phải có sự đầu tư và nghiên cứu đúng mức về vấn đề này.

- Nguồn nhân lực: Đây là một vấn đề thách thức đối với sự phát triển của ngành. Với nhu cầu phát triển trong tương lai, vấn đề sống còn đối với cả ngành tìm được nguồn nhân lực đủ cả về lượng lẫn về chất. Đặc biệt là khu vực Vũng Tàu vấn đề này càng lại là một thách thức lớn hơn vì đây là một khu vực có rất ít trường đào tạo các chuyên ngành đặc thù đáp ứng cho sự phát triển của ngành xây dựng.

4.Yếu tố tự nhiên

- Vấn đề tiết kiệm năng lượng và tài nguyên quốc gia : Đây là vấn đề chung của bất cứ quốc gia nào trong nổ lực phát triển đất nước. Điều này đặt ra thách thức cho tất cả các ngành kinh tế phải nổ lực tìm kiếm những giải pháp tiết kiệm cho riêng ngành mình. Đặc biệt là trong tình trạng dầu mỏ có nhiều biến động và ngày càng cạn kiệt như hiện nay.

Chính những điều này là một áp lực đối với các doanh nghiệp khi mà qui mô và tài lực của các doanh nghiệp chỉ có hạn.

- Ô nhiễm môi trường: Ngành xây dựng thải ra một lượng chất thải khá lớn. Điều này đặt nhiều áp lực lên các Doanh nghiệp từ việc tuyên truyền đấu tranh của các tổ chức phi chính phủ đòi hỏi Doanh nghiệp phải tìm ra nguồn nguyên vật liệu mới có khả năng tụ phân huỷ nhằm góp phần bảo vệ môi trường. Cũng như việc đầu tư hệ thong xử lý chất thải rất tốn kém khi mà qui mô của doanh nghiệp chỉ mang tính cá thể, rất khó khăn trong việc đầu tư xử lý chất thải mà không có sự trợ giúp của chính phủ

5. Yếu tố công nghệ

- Với sự phát triển chóng mặt của công nghệ hiện nay, sự phát triển này đặt bất cứ Doanh Nghiệp nào vào nguy cơ tụt hậu về công nghệ. Hơn nữa, vấn đề vi tính hoá hệ thống quản lý nhằm phát huy hiệu quả quản lý với quy mô lớn là cấp thiết đối với mỗi Doanh nghiệp trong quá trình phát triển hiện nay.

- Cùng với sự hội nhập quốc tế thì sự chuyển giao công nghệ cũng là một điều đáng quan tâm. Ở đây, cũng vừa tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp đi đầu vềxây dựng vừa tạo

ra nguy cơ về tụt hậu công nghệ. Đặt doanh nghiệp đứng trước nhiều thách thức đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần có dự toán tài chính đối phó với các yếu tố này.

6. Yếu tố quốc tế

- Việt Nam đang thực hiện chính sách mở cửa, việc Việt Nam gia nhập các tổ chức kinh tế lớn trong khu vực và thế giới như WTO, AFTA… tạo điều kiện cho nền kinh tế trong nước hoà vào sự phát triển chung của khu vực và thế giới. Doanh Nghiệp Việt Nam ngày càng có nhiều cơ hội mới hơn khi mà những doanh nghiệp mang tầm cỡ quốc tế đầu tư vào Việt Nam mà cụ thể là tại khu vực vũng tàu thì nhu cầu về xây dựng, nội thất của các công ty này là rất lớn. Đây như là một luồng gió mới cho doanh nghiệp nào biết nắm bắt cơ hội. Tuy nhiên, bên cạnh đó sẽ xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh không mong muốn, cụ thể vấn đề này tôi phân tích ở môi trường tác nghiệp.

Một phần của tài liệu QUẢN TRỊ CHIẾN lược KINH DOANH tại CÔNG TY TMDV THÀNH đạt VŨNG tàu (Trang 23 - 28)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(33 trang)
w