Các giải pháp thúc đẩy HNKTQT

Một phần của tài liệu TỔNG QUAN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ (Trang 25 - 37)

THÚC ĐẨY HNKTQT CỦA VIỆT NAM

3.2. Các giải pháp thúc đẩy HNKTQT

3.2.1 Nhóm giải pháp về điều chỉnh, kiện toàn chính sách và các biện pháp thực hiện chính sách thương mại

* Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế quản lý, xây dựng chiến lược và lộ trình hội nhập [1, trang 257-260]

Nhằm hình thành nhanh và đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện các cam kết quốc tế. Trước hết tập trung vào:

- Soạn thảo các văn bản hướng dẫn thực thi các luật mới ban hành, bảo đảm cụ thể, công khai, minh bạch phù hợp với nội dung của luật pháp quốc tế

- Xoá bỏ mọi hình thức bao cấp, trong đó có bao cấp qua giá, thực hiện giá thị trường cho mọi loại hàng hoá và dịch vụ.

- Đẩy mạnh cải cách trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo đảm cho các ngân hàng thương mại thực sự là các đơn vị kinh tế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các khoản vay và cho vay trên cơ sở hiệu quả, không có sự phân biệt đối xử về hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế. Hoàn thiện cơ chế quản lý thị trường đất đai và bất động sản. Cải cách chế độ kế toán và tài chính doanh nghiệp theo chuẩn mực quốc tế.

- Xây dựng các biện pháp hỗ trợ đối với một số lĩnh vực, sản phẩm đi đôi với việc loại bỏ các hình thức trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp gắn với tỷ lệ nội địa hoá.

- Hoàn thiện cơ chế và tổ chức quản lý cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp để tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh. Xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm phù hợp với Hiệp định TBT và SPS để bảo vệ thị trường nội địa và người tiêu dùng.

- Kết hợp chính sách tài khoá với chính sách tiền tệ, sử dụng linh hoạt các công cụ lãi suất, hạn mức tín dụng, tỷ giá ... để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Nâng cao chất lượng của công tác thông tin, dự báo về thị trường, giá cả, quan hệ cung cầu để xác định các cân đối lớn.

- Đẩy mạnh cải cách tiền lương, chế độ bảo hiểm; sớm nghiên cứu hình thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp, và các chính sách an sinh xã hội.

- Đổi mới cơ chế quản lý các cơ quan khoa học - công nghệ theo hướng tăng cường tính tự chủ, tự hạch toán. Gắn kết chặt chẽ các cơ quan này với doanh nghiệp để khuyến khích, thúc đẩy việc đổi mới công nghệ sản xuất ở doanh nghiệp, nhằm phát triển thị trường khoa học, công nghệ, kinh doanh phải đi đôi với việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

* Phối hợp điều chỉnh để chính thức hoá và công bố công khai các lộ trình cam kết về điều chỉnh chính sách và các công cụ của chính sách [2, trang 212-218]

Trong quá trình thực hiện các điều chỉnh chính sách và các công cụ của chính sách, đặc biệt là chính sách thương mại có thể nảy sinh những điểm không thống nhất, không đồng bộ, không hợp lý do vậy trong quá trình chính thức hoá đưa vào thực hiện cần có sự điều chỉnh. Nói cách khác là cần có một chiến lược tổng thể và một lộ trình tổng thể về điều chỉnh chính sách trong quá trình hội nhập.

Thực hiện một cách mạnh mẽ cải cách thủ tục hành chính, bãi bỏ các thủ tục, giấy tờ không thực sự cần thiết nhằm rút ngắn thời gian thành lập doanh nghiệp và tham gia thị trường, đưa nhanh hàng hoá và dịch vụ vào kinh doanh, giảm chi phí giao dịch cho doanh nghiệp và công dân. Phải làm việc này một cách đồng bộ và kiên quyết. Loại bỏ khỏi bộ máy nhà nước những công chức gây phiền hà, nhũng nhiễu nhân dân và doanh nghiệp, những người thiếu trách nhiệm khi thực hiện nhiệm vụ.

Sau khi có sự điều chỉnh cần công bố công khai, rộng rãi cho các ngành, các doanh nghiệp biết để có sự chuẩn bị và chủ động tham gia vào lộ trình hội nhập.

* Xúc tiến nhanh việc xây dựng các chiến lược của các ngành, các doanh nghiệp cho phù hợp với những điều chỉnh về chính sách

Căn cứ vào các lộ trình hội nhập đã được công bố các ngành và các doanh nghiệp cần xây dựng các chiến lược cụ thể của ngành và của doanh nghiệp cho tương thích với các lộ trình đã cam kết. Trong quá trình xây dựng chiến lược cần lưu ý:

Thứ nhất: các cam kết có thể sẽ căn cứ vào thực tiễn năng lực sản xuất và cung cấp hàng hoá của chính các ngành hay doanh nghiệp trong khoảng thời gian

trước mắt 3 đến 5 năm. Ví dụ như cam kết về hạn ngạch dệt may, thuỷ sản trong khuôn khổ Hiệp định thương mại Việt – Mỹ. Do đó, khi xây dựng chiến lược cần phải lưu ý ngay từ những năm đầu cần khai thác hết năng lực sản xuất kinh doanh hiện có, đồng thời với việc đầu tư để mở rộng các năng lực sản xuất kinh doanh mới.

Thứ hai: Phải tính đến vấn đề chuyển đổi ngành nghề, hoặc đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ trong chiến lược. Bởi lẽ có những sản phẩm và dịch vụ sẽ không phù hợp hoặc tỏ ra không có khả năng cạnh tranh trong quá trình thực hiện lộ trình hội nhập.

3.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh là yếu tố giữ vai trò quyết định sự thành bại của nền kinh tế khi thực hiện cam kết HNKTQT. Đây là điều kiện hàng đầu để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức vì thách thức lớn nhất hiện nay đối với VN là sự yếu kém năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.

* Tạo dựng nhanh các yếu tố năng lực cạnh tranh của nền kinh tế để thay đổi vị thế của nền kinh tế trong tương quan với khu vực và thế giới

Các yếu tố tạo thành năng lực cạnh tranh của nền kinh tế bao gồm: Cơ sở hạ tầng, trình độ công nghệ, trình độ quản lý, độ ổn định và đồng bộ của hệ thống chính sách, hệ thống tài chính ngân hàng. Các yếu tố trên đây của nền kinh tế VN đang ở vị thế bất lợi trong so sánh với các nước trong khu vực và thế giới. Do vậy việc tạo dựng nhanh chóng và đồng bộ yếu tố trên đây được xem như là việc làm có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của quá trình hội nhập. Tất nhiên, đối với nền kinh tế của VN đang trong quá trình chuyển đổi thì không thể đòi hỏi có một sự nhảy vọt đột biến được, mà cần phải có thời gian. Trong quá trình tạo dựng các yếu tố này chúng ta có thể kết hợp và tranh thủ các yếu tố từ bên ngoài như vốn, công nghệ… tức là sử dụng ngay lợi ích của hội nhập và học tập những kinh nghiệm của các nước đã đi trước để có thể rút ngắn thời gian.

* Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN [3, trang 167 - 176]

Các doanh nghiệp phải xác định được chiến lược mặt hàng và chiến lược thị trường đúng đắn, áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế như ISO, hoàn thiện phương thức kinh doanh; tạo ra bản sắc riêng có của doanh nghiệp mình, thông qua đó

thu hút khách hàng, phát triển thị trường, xây dựng thương hiệu. Phải tăng cường liên kết hợp tác theo chiều dọc và chiều ngang; xác lập quan hệ bạn hàng, hình thành hệ thống phân phối. Các doanh nghiệp cần phải chọn cho được những người quản trị có bản lĩnh và năng lực thực sự trong việc kinh doanh.

Kiện toàn tổ chức và cơ chế hoạt động của các hiệp hội ngành hàng, bảo đảm hiệp hội thực sự là cầu nối giữa doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước, hỗ trợ có hiệu quả cho doanh nghiệp trong việc phát triển thị trường, xúc tiến thương mại, đào tạo nguồn nhân lực. Nâng cao trách nhiệm và đổi mới phương thức hoạt động của các cơ quan xúc tiến thương mại, các cơ quan đại diện VN ở nước ngoài trong việc hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường, thiết lập quan hệ bạn hàng, đẩy mạnh xuất khẩu, phát triển du lịch và thu hút đầu tư.

* Đầu tư, đổi mới công nghệ để nâng cao năng suất lao động và giảm giá thành đối với sản phẩm

Các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của VN là những sản phẩm khai thác từ tự nhiên, cả những tài nguyên thiên nhiên không tái tạo, những sản phẩm nông lâm ngư nghiệp chưa qua chế biến hoặc chế biến thô. Các sản phẩm công nghiệp vẫn còn nghèo về chủng loại, chất lượng thấp, giá thành cao do công nghệ lạc hậu lại tiêu tốn vật tư, nguyên liệu năng lượng. Do vậy, năng suất lao động thấp và khả năng cạnh tranh của sản phẩm hạn chế.

Việc đầu tư để đổi mới công nghệ một mặt cho chất lượng sản phẩm cao hơn, mặt khác tạo ra năng suất lao động cao và giảm được chi phí sản xuất. Việc đầu tư để đổi mới công nghệ có thể thực hiện bằng các nguồn vốn huy động trong nước kể cả các nguồn vốn của doanh nghiệp, hoặc có thể bằng các nguồn vốn từ bên ngoài, trong đó nguồn vốn đầu tư trực tiếp là nguồn quan trọng. Trong trường hợp đổi mới công nghệ bằng nguồn vốn đầu tư trực tiếp cần lưu ý đến trình độ tiên tiến của công nghệ và trợ giá của công nghệ. Trình độ tiên tiến của công nghệ phải thoả mãn các tiêu chí để so sánh với các công nghệ hiện có ở VN đó là năng suất lao động, tiêu hao về năng lượng, nguyên liệu, nhiên liệu, sức lao động và phải đảm bảo an toàn lao động, môi trường sinh thái khi sử dụng.

Khuyến khích ứng dụng các kết quả nghiên cứu ở trong nước và áp dụng hình thức R&D cho các cơ sở khoa học công nghệ nhằm gắn nghiên cứu khoa học công nghệ với thực tiễn sản xuất và kinh doanh.

* Áp dụng rộng rãi hệ thống quản lý chất lượng quốc tế trong mọi lĩnh vực

Hệ thống quản lý chất lượng nhằm mục tiêu bảo đảm chất lượng cho các sản phẩm và dịch vụ thoả mãn các yêu cầu của khách hàng. Ngày nay trong thương mại quốc tế và hợp tác kinh tế quốc tế, chất lượng giữ vai trò hàng đầu và là nhân tố quan trọng trong cạnh tranh. Nhiều nước mặc nhiên thống nhất với nhau rằng sang thế kỷ XXI, doanh nghiệp nào chưa có chứng nhận phù hợp ISO 9000 hoặc các chứng chỉ tương đương như (GMP, HACCP, TQM) thì không thể tham gia vào xuất khẩu hay đấu thầu quốc tế. Điều quan trọng hơn là các quốc gia muốn có sự công nhận lẫn nhau về chứng chỉ, bằng cấp thì các quốc gia cần phải áp dụng tiêu chuẩn quốc tế. Các bộ tiêu chuẩn ISO hoặc tương đương sẽ giải quyết được các yêu cầu trên đây của các quốc gia.

Hiện nay ở VN số các doanh nghiệp áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế vào hệ thống quản lý chất lượng còn hạn chế. Một mặt do các doanh nghiệp chưa có đủ điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị và con người để áp dụng, mặt khác cũng còn nhiều doanh nghiệp chưa hiểu rõ về các hệ thống tiêu chuẩn này cũng như lợi ích của việc đưa các tiêu chuẩn này vào hệ thống quản lý chất lượng của doanh nghiệp mình. Vấn đề đặt ra là phải tạo điều kiện cho cả hai trường hợp trên đây có thể sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế cho doanh nghiệp của họ.

* Cải tiến, đa dạng hóa mẫu mã chủng loại sản phẩm và những dịch vụ hậu mãi Trong quá trình cạnh tranh, không chỉ có việc nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, hạ giá thành có ý nghĩa quan trọng mà các yếu tố như mẫu mã, chủng loại cũng như các dịch vụ hậu mãi cũng có ý nghĩa không kém phần quan trọng mà đôi khi chính các yếu tố này lại là sự lựa chọn hàng đầu của khách hàng.

Đặc biệt việc xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm và dịch vụ của VN cần được các doanh nghiệp coi trọng. Đi đôi với thương hiệu là vấn đề đăng ký bản quyền và tôn trọng bản quyền đối với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại.

Các dịch vụ sau bán hàng như cung ứng vận chuyển hàng hoá, hướng dẫn lắp đặt, bảo hành, bảo trì...cùng các điều kiện về giá cả và chất lượng sẽ tạo nên sản

phẩm hay dịch vụ hoàn hảo đáp ứng sự lựa chọn của khách hàng. Tuy nhiên, những dịch vụ kể trên phải thực sự lành mạnh, không trái với các tập quán quốc tế.

* Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực

Việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cần được tập trung trước hết vào giáo dục bậc đại học. Điều chỉnh cơ cấu trình độ và hệ thống các trường Đại học phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội đang hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực, thế giới và xu hướng phát triển của đất nước. Hướng nghiên cứu - triển khai chuyển mạnh theo mô hình đào tạo tinh hoa. Hướng nghề nghiệp - ứng dụng chuyển sang mô hình đào tạo đa giai đọan với trình độ đại học và thạc sĩ. Giữa hai hướng có sự liên thông, ưu tiên mở rộng qui mô đối với hướng nghề nghiệp - ứng dụng trên cơ sở xác định hợp lý cơ cấu, trình độ, vùng miền.

Xây dựng các trường Đại học trong các tập đoàn và doanh nghiệp lớn (như Trường đại học FPT đã được thành lập và họat động năm 2006). Khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài và các trường Đại học có uy tín ở nước ngoài xây dựng một số trường Đại học có đẳng cấp quốc tế, mở chi nhánh hoặc liên kết đào tạo với các trường Đại học VN.

Đẩy mạnh việc gắn đào tạo với nghiên cứu. Xây dựng các viện nghiên cứu hoặc doanh nghiệp khoa học công nghệ trong các trường Đại học. Các trường Đại học phải đóng vai trò chủ đạo trong đào tạo, nghiên cứu khoa học trong các lĩnh vực:

công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, cơ - điện tử - tự động hóa… các ngành phục vụ cho hội nhập và phát triển kinh tế thị trường.

Thực hiện chế độ trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đầy đủ cho các trường Đại học thể hiện trên 3 mặt: chương trình hoạt động, tổ chức cán bộ và tài chính, cùng với một chế độ quản lý, giám sát chặt chẽ.

Phải đổi mới căn bản nội dung, phương pháp dạy và học. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh. Chống cho một số tiêu cực như bệnh thành tích, thiếu trung thực trong đánh giá kết quả học tập, học thêm, dạy thêm…

Cần triển khai các chương trình bồi dưỡng kiến thức về luật thương mại quốc tế, đào tạo một đội ngũ luật sư đủ năng lực về chuyên môn và ngoại ngữ để chủ động đối phó với các tranh chấp thương mại quốc tế.

Phát triển nhanh các loại hình dạy nghề và đạo tạo công nhân kỹ thuật, trung học chuyên nghiệp, tăng tỉ trọng của bậc học này trong cơ cấu đào tạo nhân lực, sớm xây dựng các chương trình liên thông giữa các bậc học.

Phát triển mạnh các cơ sở đào tạo nghề tư nhân (hoạt động không vì lợi nhuận) tránh ỷ lại một chiều vào các cơ sở đào tạo nghề của Nhà nước. Kết hợp các chương trình mục tiêu quốc gia: xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm… để tập trung vốn cho đào tạo nghề, mở rộng số lượng, nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong các trường dân tộc nội trú. Chú trọng đào tạo theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp. Mở rộng hợp tác với nước ngoài, đào tạo nghề theo mô hình của trung tâm đào tạo nghề VN – Singapore tại Bình Dương. Phát triển mạnh các khu công nghiệp ở những nơi có sẵn nguồn lao động, có tay nghề.

Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư cho giáo dục phổ thông, đồng thời phát huy sự đóng góp về trí tuệ, tinh thần và vật chất của nhân dân một cách hợp lý, công khai, minh bạch. Sửa đổi chế độ học phí đi đôi với đổi mới cơ chế tài chính giáo dục, xác định đầy đủ chi phí dạy và học, chia sẻ hợp lý trách nhiệm chi trả giữa Nhà nước, xã hội, và người học; thực hiện chính sách miễn giảm học phí và cấp học bổng cho học sinh nghèo, học sinh thụôc diện chính sách và học sinh giỏi.

3.2.3 Nhóm giải pháp hạn chế tác động xấu của quá trình hội nhập

* Chuyển dịch cơ cấu sản phẩm, cơ cấu thị trường cho phù hợp và khai thác các lợi thế sẵn có của nền kinh tế

Hội nhập đòi hỏi phải tái cơ cấu nền kinh tế để thích nghi và phát huy lợi thế so sánh riêng của mình một cách tốt nhất. Việc xây dựng chương trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế đòi hỏi phải hình dung được về cơ bản cơ cấu kinh tế của VN trong vòng 10-20 năm nữa (bao gồm cơ cấu ngành/hàng và cơ cấu vùng), xác định được những ngành mũi nhọn, những ngành cần ưu tiên phát triển trong một thời gian nào đó làm cơ sở xây dựng chiến lược hội nhập và các chính sách bảo hộ cụ thể. Điều này sẽ giúp chúng ta không bị tụt hậu quá xa so với các nước, tham gia

Một phần của tài liệu TỔNG QUAN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ (Trang 25 - 37)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(37 trang)
w