Phân tích các hoạt động kinh doanh của Công ty

Một phần của tài liệu Hiệu quả kinh doanh của công ty may phố hiến (Trang 21 - 30)

Công ty đã khai thác tận dụng năng lực sản xuất, ứng dụng máy móc hiện đại, tiết kiệm chi phí, giảm giá thành sản phẩm.

Công ty theo thiết kế có dây truyền sản xuất hoàn chỉnh từ đầu vào là vải mộc và đầu ra là thành phẩm, gồm quần áo các loại. Qui trình công nghệ nhiều công đoạn, qua nhiều máy móc thiết bị thuộc nhiều phân xưởng, qua nhiều thành viên đảm nhiệm. Tất cả tạo thành một dây truyền khép kín, mà hầu hết máy móc thiết bị này Công ty đều nhập từ nước ngoài nên hiệu quả của nó rất cao. Để sử dụng máy móc thiết bị có hiệu quả Công ty cũng có đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ và tay nghề tốt. Chính vì thế sản phẩm của Công ty có chất lượng và được thị trường chấp nhận. Đe đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục Công ty phải đảm bảo đủ vải, phụ liệu cả về số lượng và chất lượng trong thời gian qui định, nhằm đảm bảo liên tục quá trình sản xuất.

Bảng 2.2. Một sổ kết quả hoạt động kinh doanh chủ yếu của Công ty Đơn vị : Cái, triệu đồng.

Chỉ tiêu /năm 2005 2006 2007 Đại lý chính

thức

25 29 35

Đại lý vệ tinh 15 21 25

2005 2006 2007

Số Gía % Số Gía trị % Số Gía trị %

Chỉ lượng (triêu Gía lượng (triêu Gía lượng (triêu Gía tiêu ( c á i ) đ ) t r ị ( c á i ) đ ) t r ị ( c á i ) đ ) t r ị H à

N ộ i

11200

0 2.8

00 15,

8 12600

0 3.4

02 16 14300

0 4.2

90 16,3 Hải

Phòng

83000 2.0 75 11,

7 940

00 2.5

38 12 10700

0 3.2

10 12,2 Thái

Bình

60000 1.5

00 8

, 660

00 1.7

82 8

, 750

00 2.2

50 8,

5 Hưng

Yên

75000 1.8 75 10,

5 800

00 2.1

60 10,

2 900

00 2.7

00 10,2 Hải

Dươn

70000 1.7

50 9

, 780

00 2.1

06 9

, 910

00 2.7

30 10,3 Hà

Tây

50000 1.2

50 7 600

00 1.6

20 7

, 680

00 2.0

40 7,

7 Thanh

Hoá

55000 1.3

75 7

, 610

00 1.6

47 7

, 700

00 2.1

00 8

Nghệ An

42000 1.0

50 5

, 490

00 1.3

23 6

, 550

00 1.6

50 6,

2 Thị

trườn

16500 0

4.125 23,

2 17200

0 4.6

44 21,

9 18100

0 5.4

30 20,6 Tổng

cộng

71200

0 17.80

0 100 78600

0 21.22

2 100 88000

0 26.40

0 100

Nguồn: Phòng kinh doanh xuất nhập khấu

Qua bảng 2.2 cho ta thấy sản lượng sản xuất và tiêu thụ qua các năm.

Toàn bộ sản phấm qui đối ra áo sơ mi vậy giá cũng được tính trên áo sơ mi.

Gía bán năm 2007 một áo sơ mi là 30.000đ, năm 2006 là 27.000đ và năm 2005 là 25.000đ, với nhất liệu vải may sản xuất trong nước. Như vậy tổng sản phẩm năm 2005 là 712.000 áo sơ mi, năm 2006 là 786.000 áo sơ mi, tăng so năm 2005 là 10,4%, năm 2007 là 880.000 áo sơ mi, tăng so năm 2006 là 12%.

Tương ứng doanh thu năm 2005 là 17,8 tỷ, năm 2006 là 21,222 tỷ và năm 2007 là 26,4 tỷ, nhìn vào tổng doanh thu ta thấy năm sau cao hơn năm trước.

Năm 2006 tổng doanh thu tăng so với năm 2005 là 19,2% và năm 2007 tổng doanh thu tăng cao hơn năm 2006 là 24,4%. Như vậy ứng với sản lượng của Công ty tăng lên, do đó doanh thu của Công ty cũng tăng. Điều đó có nghĩa là sản phấm của Công ty đã đáp ứng được nhu cầu của thị trường, thị hiếu của người tiêu dùng. Do đó kết quả Công ty đạt được chứng tỏ qui mô sản xuất của Công ty đang được mở rộng. Có được điều này là do Công ty đã đầu tư nghiên cứu thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm. Công ty luôn đảm bảo được đầy đủ lao động, vải và phụ liệu đế sản xuất. Đồng thời Công ty có sự phối kết họp chặt chẽ trong quá trình sản xuất và tố chức tiêu thụ sản phấm.

H 2.2: Sơ đồ kênh phân phối của Công ty May Phố Hiến.

Công ty

Đại Lý Người bán lẻ

Người tiêu

- Kênh 1: Công ty bán trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng qua cửa hàng giới thiệu sản phẩm và qua cửa hàng của Công ty được tố chức vào những lúc có cơ hội triển lãm chuyên ngành. Thực tế do nhiều lý do như hoạt động quảng cáo, giới thiệu tại cửa hàng chưa có hiệu quả, việc nghiên cứu thị trường chưa phát hiện được tập tính, động cơ, thói quen mua sắm của người tiêu dùng, nên doanh số bán ở kênh này không cao.

- Kênh 2: Công ty bán cho người: Bán buôn ( đại lý ). Kênh này được Công ty chủ yếu sử dụng nhằm hạn chế chi phí lưu thông cho sản phẩm từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Cho đến nay Công ty đã thiết lập được mạng lưới tiêu thụ sản phẩm với 35 đại lý chính thức và 25 đại lý vệ tinhBảng 2.3: Hệ thống đại lý của Công ty

Nguồn: Phòng kinh doanh XNK

Nhìn vào bảng 2.3 ta thấy mạng lưới các đại lý không ngừng tăng lên qua 3 năm 2005, 2006, 2007. Cụ thể năm 2006 có 29 đại lý chính thức 21 đại lý vệ tinh. Đen năm 2007 có 35 đại lý chính thức và 25 đại lý vệ tinh, số đại lý năm 2007 là con số cao nhất tù' trước đến nay .

Công ty quản lý các đại lý theo vùng và theo sản phẩm. Các đại lý nhận được nhiều ưu đãi của Công ty, như được hưởng hoa hồng từ 10 - 12% ( vào năm 2005 - 2006 ) và năm 2007 là 15% tổng doanh số bán ra. Thêm vào đó, hàng hóa của Công ty được vận chuyến đến tận kho của đại lý.

- Kênh 3: Kênh này Công ty ít sử dụng. Tuy nhiên cần phải lập một hệ thống quản lý kênh phân phối chặt chẽ hơn nhằm kiếm tra đầy đủ hoạt động của các đại lý, tránh tình trạng đại lý bán phá giá hàng của Công ty. Nhờ sử dụng nhiều kênh phân phối khác nhau, thị trường tiêu thụ của Công ty ngày được mở rộng. Có thế thấy điều đó qua bảng số liệu sau :

Bảng 2.4: Cơ cấu thị trường của Công ty

T Chỉ tiêu / năm Đơn vị 2005 2006 2007 1 Tổng doanh

thu thuần

lOOOđ 17.385.1

75 20.632.8

47 25.641.9 63 2 Tổng vốn

kinh doanh

lOOOđ 10.500.0

00 11.200.0

00 13.000.0 00 3 Lợi nhuận lOOO

đ 8.129.17

5 9.624.84

7 12.001.9 63 4 Lợi nhuận

thuần

lOOOđ 6.809.00

0 8.274.00

0 10.601.0 00 5 Vốn lưu động

bình quân

lOOOđ 6.600.00

0 7.600.00

0 8.800.00 0 6 Sức sinh lời

của TSCĐ

đ 0,68 0,72 0,76

7 Sức sản xuất của TSCĐ

đ 1,74 1,79 1,83

8 Suất hao phí TSCĐ

đ 0,58 0,56 0,55

9 Sức sinh lời vốn lưu động

đ 1,03 1,09 1,21

10 Tỷ xuất lợi nhuận / vốn

đ 20,5 22,2 24

11 Số vòng quay vốn lưu động

Vòng 2,6 2,7 2,9

12

Thời gian của một vòng luân

Ngày 139 134 125

13 Hệ số đảm nhiệm VLĐ

đ 0,38 0,37 0,34

14

Nguyên giá bình quân TSCĐ

lOOOđ 10.000.0

00 11.500.0

00 14.000.0 00

Nguồn báo cáo tình tiêu thụ sản phấm năm 2005,2006,2007 của Công ty Qua bảng 2.4 cho ta thấy lượng hàng bán qua cơ cấu thị trường của Công ty là tương đối tốt chứng tở hoạt động bán hàng và tiêu thụ sản phẩm của

Công ty đạt hiệu quả cao. Doanh số thu được ở các thành phố lớn cao hơn các

Tỉnh, tiêu biếu là Hà Nội và Hải Phòng. Mức tiêu thụ và doanh thu năm sau cao hơn năm trước như vậy Công ty đã nghiên cứu và xác định được thị trường mục tiêu của mình. Nhưng thực tế Công ty vẫn chưa khai thác triệt để các thị trường này, bởi tại các thành phố lớn như Hà Nội mức tiêu thụ thực tế lớn hơn nhiều lần số sản phấm mà Công ty cung cấp. Bên cạnh đó doanh thu của Công ty ở thị trường khác lại giảm và vẫn chưa khai thác triệt đế thị trường, mặc dù sản phẩm tiêu thụ năm sau cao hơn năm trước nhưng xét về tỷ

lệ % giá trị lại giảm (năm sau thấp hơn năm trước). Tuy nhiên, với mức sản phẩm tiêu thụ và doanh số thu được đều năm sau cao hơn năm trước, điều đó cho thấy hoạt động bán hàng của Công ty ngày được mở rộng. Các kênh phân phối được phát triến mạnh hơn nhất là kênh 2 ( hệ thống mạng lưới đại lý ) và thị trường giữa các khu vực có xu hướng ngày một cân bằng, về số lượng: Ta thấy doanh số bán ra trên các thị trường đều cao tác là số lượng hàng bán tăng

lên tương đương với mức tăng của doanh thu. Nhìn chung qua 3 năm sản phẩm tiêu thụ của Công ty đã được nâng lên về số lượng và đã có sức cạnh tranh trên thị trường. Do vậy Công ty phải nghiên cứu và mở rộng thị trường tiêu thụ và cần có kế hoạch sản xuất phù hợp tránh tình trạng tồn đọng sản phẩm. Nhưng cũng không thế phủ nhận được vai trò của hoạt động tiêu thụ sản phẩm trong sản xuất kinh doanh của Công ty. Neu sản xuất là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào ( vốn, công nghệ, lao động, đất đai...) để tạo được sản phẩm đầu ra không thế thiếu. Tiêu thụ sản phẩm là đồng nghĩa với việc lưu thông hàng hóa. Sản phẩm là khâu dịch vụ từ Công ty sang người tiêu dùng thông qua trung gian là thị trường. Qúa trình này diễn tả kết quả hoạt tín, thu đươc lợi nhuận cao.

2.2.2. Đánh giá hiệu quả kinh doanh của Công

ty. Bảng 2.5: Bảng tổng hợp hiệu quả kinh doanh của Công ty 2005-2007

Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh 2005,2006,2007.

*Tổng doanh thu thuần của Công ty các năm 2005, 2006, 2007 tương ứng là

17.385.175.OOOđ, 20.632.847.000đ và 25.641.963.000Ổ. Ta thấy doanh thu của Công ty năm 2006 cao hơn năm 2005 là 18,7% và năm 2007 cao hơn năm

2006 là 24,3%. Như vậy doanh thu của Công ty đạt cao nhất vào năm 2007, đây là mức doanh thu đạt khá cao điều này đã góp phần chứng minh rằng quy mô sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phấm của Công ty ngày dần được mở rộng.

* Tỷ suất lọi nhuận trên vốn.

Tỷ suất lợi nhuận của Công ty tăng liên tục, chứng tỏ Công ty kinh doanh

ngày càng có hiệu quả hơn trước. Năm 2005, tỷ suất lợi nhuận của công ty đạt

20.5% ( cao hơn 3 lần tỷ suất lợi tóc ngân hàng 7 - 8% / năm ). Năm 2006, tỷ suất này là 22,2% và 2007 là năm đạt mức cao nhất trong 3 năm qua với 24%.

Những kết quả mà Công ty đạt được trong những năm qua là khá khả quan song so với mức độ đầu tư về vốn, trang thiết bị, đội ngũ cán bộ công nhân viên như hiện tại của Công ty thì đó chưa phải là kết quả cao nhất. Vì vậy Công ty cần phải có những biện pháp hữu hiệu, cụ thể, đế nâng cao hiệu quả sử vốn, có như vậy mới không gây lãng phí nguồn vốn và nhân lực của Công ty.

Trong năm 2007 chi phí bình quân cho một đơn vị sản phẩm tăng dần.

Bởi lẽ giá vốn của sản phẩm chịu ảnh hưởng của nhân tố giá cả do giá một số

giá cả và chất lượng như vậy, sản phẩm của Công ty vẫn được người tiêu dùng chấp nhận.

* Hiệu quả sử dụng vốn.

Vốn là yếu tố không thể thiếu trong qua trình hoạt động kinh doanh. Dù là

vốn cố định hay lưu động thì việc sử dụng chúng đều ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty. Trong quản lý quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề then chốt gắn liền với sự tồn tại và

phát triển của Công ty. Có thể phân tích các chỉ tiêu sau đế thấy rõ hiệu quả sử

dụng vốn của Công ty trong 3 năm qua.

- Hiệu quả sử dụng tài sản cố định.

+ Sức sinh lời của tài sản cổ định.

Chỉ tiêu này trong 3 năm có xu hướng tăng, năm 2005 một đồng nguyên giá bình quân của TSCĐ đem lại 0,68đ lợi nhuận thuần, năm 2006 là 0,72đ và

năm 2007 là 0,76đ lợi nhuận thuần. Sức sinh lời của TSCĐ tuy không lớn nhưng lại tăng đều qua các năm đó là tín hiệu mừng của Công ty vì nó biểu hiện xu hướng tăng lên của lợi nhuận.

+ Sức sản xuất của tài sản cố định.

Qua kết quả ở bảng 2.4 ta thấy các chỉ tiêu đều tăng dần qua các năm.

Năm 2005 sức sản xuất của TSCĐ là l,74đ doanh thu thuần trên một đồng tài sản cố định, năm 2006 là l,79đ và năm 2007 là l,83đ doanh thu thuần trên một đồng tài sản cố định. Mặc dù khả năng sinh lời của tài sản cố định là

2006 để có một đồng doanh thu thuần thì phải có 0,56đ và sang năm 2007 đế có một đồng doanh thu thuần thì Công ty phải đầu tư 0,55đ nguyên giá TSCĐ.

Như vậy suất hao phí TSCĐ giảm là do Công ty đã giảm chi cho TSCĐ trong 3 năm.

- Hiệu quả sử dụng vốn lưu động.

+ Sức sinh lời của von lưu động.

Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn lưu động làm ra 1,03đ lợi nhuận thuần năm 2005, năm 2006 là l,09đ và năm 2007 là l,21đ lợi nhuận thuần.

Nhìn vào chỉ tiêu ta thấy, mặc dù lợi nhuận tuy không cao nhưng lại tăng đều qua các năm, điều đó cho thấy hiệu quả sử dụng vốn là khá hợp lý.

+ Tốc độ luân chuyến của von lưu động.

Tốc độ luân chuyến của vốn lưu động được thế hiện ở số vòng quay của vốn lưu động, số vòng quay của vốn lưu động cho biết trong một kỳ kinh doanh vốn lưu động của Công ty quay được bao nhiêu vòng. Công ty may Phố

Hiến tính mồi năm một kỳ kinh doanh (tức 360 ngày). Theo đó năm 2005 số vòng quay vốn lưu động là 2,6 vòng, năm 2006 là 2,7 vòng và năm 2007 là 2,9 vòng, như vậy số vòng tăng đều qua các năm. Đó là dấu hiệu đáng mừng, bởi vì Công ty đã tiết kiệm được một số các chi phí, đấy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm. Việc tốc độ luân chuyến vốn nhanh rất có ý nghĩa đối với Công ty vì nó có tác dụng làm giảm nhu cầu về vốn nhưng lại cho phép tăng sản lượng.

+ Thời gian một vòng luân chuyên vốn lưu động.

Số ngày một vòng quay của vốn lưu động cũng có hướng giảm bớt theo

TT Chỉ tiêu/

năm Đơn vị 2005 2006 2007

1 Tổng doanh

thu Triệu 17.800 21.22

2 26.40

0

2 Tổng số

lao động Người 280 300 335

3

Năng suất lao động bình quân

Aó sơ mi/

người

3.030 3.120 3.143

4 Tổng quỹ luơng/tháng

1000 đ 266.00

0 300.0

00 368.5 00 5

Lương bình quân/

người/

1000 đ 950 1.000 1.100

6 Hiệu suất tiền lương

đ 5,58 5,89 5,97

của Công ty không bị gián đoạn, diễn ra liên tục và các quá trình tái sản xuất thuận lợi.

+ Hệ sổ đảm nhiệm von ỉmi động.

Nhìn vào hệ số đảm nhiệm năm 2005 là 0,38đ, năm 2006 là 0,37đ và năm 2007 là 0,34đ. Nhu’ vậy hệ số đảm nhiệm thấp và giảm dần qua các năm, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn cao, số tiết kiệm nhiều và tăng dần qua các năm. Qua chỉ tiêu này cho ta biết, đế có một đồng luân chuyến thì cần 0,38đ vốn lưu động năm 2005, năm 2006 là 0,37đ và năm 2007 là 0,34đ vốn luu động.

* Hiệu quả sử dụng lao động.

+ Chỉ tiêu hiệu suất tiền lương.

Số luợng và chất lượng lao động là yếu tố co bản của hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần quan trọng vào năng lực sản xuất kinh doanh của Công ty.

Hiệu quả sử dụng lao động đuợc biểu hiện ở năng suất lao động hoặc hiệu suất

tiền lương.

Năng suất lao động là giá trị lao động trong một đơn vị tiền lương, nó xác định hiệu quả của tất cả lao động trong doanh nghiệp. Và dù lao động nào đi chăng nữa cũng cần phải có một khoản thu nhập mới có thế đảm bảo sinh hoạt tối thiểu và đế tái sử dụng sức lao động. Vì vậy tiền lương chính là một khoản thu nhập của người lao động. Nó được tao ra trong quá trình sản xuất và trả cho người lao động để bù đắp sức lao động đã hao phí. Với ý nghĩa đó, tiền lương được trả cho người lao động tương xứng với chất lượng và hiệu suất lao động. Hay nói một cách khác nó phải tương xứng với hiệu quả sản một chi phí sản xuất và không thế đặt vấn đề trả lương đơn giản như các khoản khác.Bảng 2.6: Hiệu quả sử dụng lao động tiền lương của Công ty.

Nguồn: Phòng kế toán tài chính

Hiểu được vai trò của người lao động trong hoạt động sản xuất kinh doanh Công ty đã có chính sánh trong việc lựa chọn và sử dụng lao động.

Lực

lượng lao động trong Công ty cụ thể là lao động trong phân xưởng có thể thay

đối theo yêu cầu của nhiệm vụ sản xuất, lực lượng này tính đơn vị sản xuất cho từng ca theo yêu cầu số lượng, chất lượng. Thời gian lao động trong một năm của cán bộ công nhân viên bình quân là 290 ngày ( 365-52 CN - 14 F - 9 lễ ). Số người vắng do đau ốm, thai sản chiếm 6,6%.

Năm 2005 số lao động của Công ty trực tiếp sản xuất là 235 người, năm

T Chỉ tiêu/ năm 2005 2006 2007 1 Tổng tài sản

lưu động 8.700.000 9.000.000 9.600.00 0 2 Tổng vốn

bằng tiền 4.800.000 5.000.000 5.400.00 0

3 Tông nợ

ngắn hạn

9.600.000 10.000.000 10.600.0 00 4 Tỷ suất thanh

toán hiện

0,9 0,9 0,907

5 Tỷ suất thanh toán của vốn

0,55 0,55 0,56

6 Tỷ suất thanh toán tức thời

0,5 0,5 0,51

7 Vốn hoạt động thuần

-900.000 -1.000.000 -

1.000.00

động là tốt. Tổng quỹ lương của Công ty bình quân khoảng 16,5 % so với tổng doanh thu. Nhìn vào bảng 2.6 ta thấy tống quỹ lương của Công ty tăng năm sau cao hơn năm trước chứng tỏ Công ty kinh doanh có hiệu quả. Quỹ lương tăng đồng nghĩa với mức thu nhập của người lao động cũng tăng lên năm 2007 bình quân của CBCNV là l.lOO.OOOđ so năm 2006 tăng lOO.OOOđ.

Điều này ứng với chi phí sản xuất tăng qua các năm trong đó quỹ tiền lương cũng tăng qua các năm thì đương nhiên giá trị thặng dư tăng đồng nghĩa với thu nhập bình quân của người lao động tăng lên, mà biểu hiện tập trung là lợi nhuận cũng tăng. Điều này giúp cho cán bộ công nhân viên thêm yên tâm công tác cổng hiến ngày càng nhiều cho Công ty. Thu nhập cao, ổn định, đó là nhu cầu tất yếu của người lao động, nó là động lực thúc đấy họ làm việc tốt hơn dẫn tới sự phát triến chung của Công ty. Do vậy những năm gần đây Công ty rất chú trọng điều này. Đúng như vậy nếu cho rằng nghiên cứu hiệu quả kinh doanh, việc nghiên cún hiệu quả sử dụng vốn là điều kiện cần thì việc nghiên cứu hiệu quả lao động, tiền lương mới là điều kiện đủ.

2.2.3. Đánh giá khả năng tài chỉnh của Công ty.

Bảng 2.1: Khả năng thanh toán của Công ty (trang 37 ):

+ Tỷ suất tài trợ:

Trước hết ta xem khái quát khả năng tài chính của Công ty thông qua chỉ tiêu tỷ suất tài trợ.

2.800.0. 000

Tỷ suất tài trợ năm 2005 = --- = 0,093

30.0. 000.000

3.0. 000.000

Bảng 2.7: Khả năng thanh toán của Công ty:

Đơn vị: lOOOđ

Nguồn: Phòng kế toán tài chính

Ta thấy tỷ suất tài trợ năm 2007 cao nhất đạt 0,099, năm 2006 là 0,094 và năm 2005 đạt 0,093. Điều này chứng tỏ năm 2007 Công ty có khả năng độc lập tài chính cao hơn so với năm 2005, 2006. Mặc dù Công ty có ít vốn chủ sở

hữu, chủ yếu đầu tư sản xuất kinh doanh dựa trên nguồn công nợ. Sở dĩ năm 2005 và 2006 tỷ suất này thấp hơn năm 2007 là do tốc độ tăng của vốn chủ sở hữu thấp hơn tốc độ tăng công nợ phải trả.

Hệ số có khả năng thanh toán là công cụ đo lường khả năng thanh toán ngắn hạn của Công ty. Nó là điều kiện, cơ sở đế Công ty hoạt động hiệu quả.

Nhìn vào bảng 7 ta thấy tổng tài sản lưu động năm 2006 tăng hơn so với năm 2005 là 300.000.000d, và năm 2007 tăng so với năm 2006 là

Một phần của tài liệu Hiệu quả kinh doanh của công ty may phố hiến (Trang 21 - 30)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(42 trang)
w