CHƯƠNG 4 MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ MẠNG ĐƠN TẦN
4.3 Vị trí của máy phát
Chúng ta sẽ tìm hiểu xem vị trí máy phát đặt ở đâu thì cho độ phủ sóng là tốt nhất. Thông thường, vị trí máy phát đặt tại tâm của hình lục giác sẽ cho ta khả năng phủ sóng đồng đều. Trong mạng diện rộng, việc phủ sóng đồng đều trên mọi điểm thu trong vùng dịch vụ là một độ phủ tối ưu cần thiết và điều này chỉ có khi khoảng cách giữa các máy phát là đồng đều nhau ví dụ như máy phát đặt tại tâm mỗi hình lục giác. Do đó, hệ thống sẽ có một sự đối xứng về sự trải sóng trên vùng dịch vụ. Tại vùng diện hẹp, nhiễu xuất hiện thường xuyên được tạo bởi những máy phát của mạng đơn tần lân cận. Do đó, những vùng ranh giới hay những vùng ngoài rìa của vùng dịch vụ sẽ bị ảnh hưởng nhiều bởi nhiễu ngoại hơn là những vùng khác. Việc đặt máy phát tại tâm hình lục giác dường như không phải là sự lựa chọn tốt nhất. Đối với mỗi một mạng đơn tần thì hệ số đánh giá chất lượng của mạng, yêu cầu phải nhỏ hơn 1%, có nghĩa là hệ thống phủ ít
nhất 99% vùng dịch vụ của nó. Do đó, chúng ta cũng phải cân nhắc khi thiết lập vị trí của máy phát.
Trong phần này, chúng ta nghiên cứu thuộc tính phủ của một hệ thống mạng đơn tần dựa trên phương pháp điều chế OFDM. Độ phủ của mạng đơn tần phụ thuộc vào những tín hiệu đến từ nhiều máy phát và đó là độ lợi của mạng đơn tần. Những tín hiệu từ những máy phát ở gần là những tín hiệu có ích luôn luôn ở những mức công suất cao hơn so với những tín hiệu nhiễu của những máy phát từ đằng xa. Đặc điểm này cũng góp phần hình thành nên độ lợi của mạng đơn tần.
Như kết quả chỉ ra là thuộc tính phủ phụ thuộc vào rất nhiều thông số khác nhau, trong đó thông số quan trọng nhất là mật độ phân bố máy phát, cái mà hình thành nên độ đa dạng phủ của mạng đơn tần. Đối với cả hai mạng diện rộng và diện hẹp thì mật độ máy phát dày đặc thì đều cho ta thuộc tính phủ tốt. Và việc phân bố máy phát trải đều trên toàn vùng dịch vụ thì là phương án tốt vì nó cho một độ phủ trải rộng và đồng đều trên toàn vùng dịch vụ.
Chúng ta cũng thấy rằng để giảm nhiễu giữa các mạng cục bộ thì việc tăng số lượng máy phát trên vùng dịch vụ cũng là cần thiết. Với những vùng dịch vụ nhỏ thì nên sử dụng độ cao anten thấp thì hơn để làm giảm nhiễu giữa các mạng.
Đối với mạng lớn hơn, khoảng cách giữa các máy phát là lớn hơn thì việc dùng anten cao là thích hợp. Tuy nhiên, trong mạng loại này thì nhiễu giữa các symbol là rõ rệt hơn. Với một địa hình cho trước và hệ số đánh giá chất lượng của mạng cho trước thì hoàn toàn sẽ có một chiều cao anten cho vùng như thế.
Độ cao anten này sẽ gián tiếp phụ thuộc vào khoảng bảo vệ, cái mà được sử dụng để chống lại ISI. Để tránh ISI thì vùng dịch vụ phải nên nhỏ. Đối với vùng dịch vụ lớn thì phải dùng khoảng bảo vệ lớn hơn và có thể phủ một diện tích vùng dịch vụ lớn hơn với một anten cao hơn.
Vị trí máy phát cũng hết sức quan trọng, việc trải máy phát đồng đều trên vùng dịch vụ xuất hiện trong hầu hết các trường hợp với cả mạng diện rộng và diện hẹp bởi nó cho một độ phủ đồng đều, rộng khắp. Ngay cả với mạng diện hẹp thì phương án này cũng tốt. Tuy nhiên, khoảng cách chính xác đồng đều giữa các máy phát với nhau là không cần thiết lắm. Chúng ta có thể linh hoạt thay đổi vị trí máy phát cho những trường hợp cụ thể khác nhau như là phụ thuộc vào địa hình, tính chất ưu tiên vùng dân cư hay những lí do khác… Đối với mạng diện rộng, khoảng cách giữa các máy phát trung bình là 70km, sự thay đổi vị trí máy phát có thể dao động lớn mà không có nhiều trở ngại. Nhưng đối với mạng diện hẹp, sự thay đổi vị trí máy phát tối đa chỉ là một vài km.
Khi thiết kế, xây dựng hệ thống mạng đơn tần, chúng ta phải luôn chú ý đến vấn đề địa hình, phải cân nhắc kĩ càng khi xây dựng một mạng đơn tần cho phù hợp và tối ưu. Ngoài ra, cũng phải lưu tâm đến vấn đề kinh tế, để xây dựng một mạng đơn tần gọn nhẹ, phù hợp với những tiêu chí đã đề ra…
Trong chương tới, chúng ta sẽ tìm hiểu xem những mô hình mạng đơn tần nào thích hợp cho việc xây dựng mạng phát hình số ở Việt Nam.