ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ KHAI THÁC HIỆU

Một phần của tài liệu đánh giá điều kiện sinh khí hậu phục vụ cho du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh ở á vùng nam bộ (Trang 100 - 124)

3.1. Định hướng

3.1.1.Theo định hướng chung của cả nước

Theo công văn số 2743/QĐ-TTg, ngày 30 tháng 12 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc quyết định phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, với những nội dung chủ yếu sau:

a) Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; du lịch chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

b) Phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm; chú trọng phát triển theo chiều sâu đảm bảo chất lượng và hiệu quả, khẳng định thương hiệu và khả năng cạnh tranh.

c) Phát triển đồng thời cả du lịch nội địa và du lịch quốc tế; chú trọng du lịch quốc tế đến; tăng cường quản lý du lịch ra nước ngoài.

d) Phát triển du lịch bền vững gắn chặt với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc; giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường; đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hộ.

e) Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực cả trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển du lịch; phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế quốc gia về yếu tố tự nhiên và văn hóa dân tộc, thế mạnh đặc trưng của các vùng, miền trong cả nước;

tăng cường liên kết phát triển du lịch.

Đối với Tiểu vùng Đông Nam Bộ thì sản phẩm du lịch đặc trưng là: du lịch đô thị, du lịch MICE, tìm hiểu văn hóa lịch sử, du lịch nghĩ dưỡng và sinh thái biển, đảo.

Đối với Tiểu vùng Đồng bằng sông Cửu Long thì sản phẩm du lịch đặc trưng là: du lịch sinh thái, văn hóa sông nước miệt vườn, nghỉ dưỡng và sinh thái biển, đảo, du lịch MICE.

Như vậy, Đảng và Nhà nước đã khẳng định du lịch là ngành kinh tế có vai trò quan trọng và không thể thay thế. Và đối với cả 2 tiểu vùng (ĐNB và ĐBSCL) thuộc Nam Bộ bên cạnh các loại hình khác thì loại hình du lịch nghỉ dưỡng và sinh thái biển-đảo được chú trọng ưu tiên phát triển.

3.1.2.Theo định hướng của á vùng5

Nam Bộ là vùng có nhu cầu du lịch lớn và sẽ ngày càng thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước trong thời gian tới

Thị trường khách du lịch quốc tế chính đến á vùng Nam Bộ hiện nay chủ yếu là Đông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc), tiếp đến là Tây Âu, Bắc Mỹ,…Trong thời gian tới, ngoài những thị trường truyền thống trên, các thị trường tiềm năng của Vùng sẽ là các nước ASEAN, Đông Âu (khách Nga là chủ yếu).

Khách du lịch nội địa đến Nam Bộ từ khắp mọi miền đất nước. Mục đích chính của khách nội địa là thăm thân, công vụ, tham quan, lễ hội,….

5 Dựa trên cơ sở 2 báo cáo của Viện nghiên cứu phát triển du lịch: Báo cáo tổng hợp Đề án phát triển du lịch ĐBSCL đến 2020 và Báo cáo thực trạng và định hướng phát triển du lịch vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.

Bảng 2.2: Dự báo khách du lịch quốc tế đến vùng ĐBSCL Đặc điểm về khách du lịch 2015 2020 Số lượt khách (ngàn) 2.700 3.900 Ngày lưu trú trung bình (ngày) 2,4 2,6

Tổng số khách (ngàn) 6.500 10.000 (Nguồn: Dự báo của Viện NCPT Du lịch,

Đề án phát triển ĐBSCL, tr.40,41, Hà Nội-2010)

Bảng 2.3: Dự báo khách du lịch nội địa đến vùng ĐBSCL Đặc điểm khách du lịch 2015 2020

Số lượt khách (ngàn) 5.200 6.500 Ngày lưu trú trung bình (ngày) 2,0 2,2

Tổng số khách (ngàn) 10.400 14.300 (Nguồn: Dự báo của Viện NCPT Du lịch,

Đề án phát triển du lịch ĐBSCL, tr.42,43, Hà Nội-2010)

Dự báo nhu cầu khách sạn đến năm 2020: 2010: 22.650 buồng-công suất sử dụng 55%; 2015: 37.150-60%; 2020: 50.000-65%.

Dự báo nguồn nhân lực: 2010: lao động trực tiếp: 30.700, lao động gián tiếp 57.200; 2015: lao động trực tiếp:54.100, lao động gián tiếp 100.600; 2020: lao động trực tiếp: 82.700, lao động gián tiếp 153.900.

Bảng 2.4: Dự báo khách du lịch quốc tế đến vùng ĐNB

Đặc điểm khách du lịch 2015 2020

Số lượt khách (ngàn) 4.150 5.300

Ngày lưu trú trung bình (ngày) 4,0 4,2 Tổng số khách (ngàn) 16.600 22.260

(Nguồn: Thực trạng và định hướng phát triển du lịch vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, tr.29, Hà Nội-2005)

Bảng 2.5: Dự báo khách du lịch nội địa đến vùng ĐNB

Đặc điểm khách du lịch 2015 2020

Số lượt khách (ngàn) 12.700 14.800 Ngày lưu trú trung bình (ngày) 2,3 2,7

Tổng số khách (ngàn) 29.210 39.960

(Nguồn: Thực trạng và định hướng phát triển du lịch vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, tr.34, Hà Nội-2005)

Dự báo nguồn nhân lực: 2010: lao động trực tiếp: 95.200, lao động gián tiếp 195.800; 2015: lao động trực tiếp: 132.100, lao động gián tiếp 282.600; 2020:

lao động trực tiếp: 172.000, lao động gián tiếp 373.900

 Phát triển bền vững ngành du lịch Nam Bộ trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài với các định hướng ưu tiên sau:

- Phát triển du lịch sinh thái miệt vườn, cảnh quan sông nước, môi trường bền vững: Phát triển du lịch phải gắn liền việc khai thác có hiệu quả với việc bảo vệ và tôn tạo tài nguyên, cảnh quan, môi trường sinh thái,…để đảm bảo cho việc phát triển du lịch bền vững.

- Phát triển du lịch văn hóa, lễ hội, tín ngưỡng-làng nghề truyền thống:

Phát triển du lịch dựa trên nguyên tắc bảo vệ và phát huy truyền thống bản sắc văn hóa dân tọc, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại.

- Phát triển du lịch biển đảo chất lượng cao: Phú Quốc, Hà Tiên là khu vực có tài nguyên du lịch biển đảo nổi trội so với cả vùng và cả nước bên cạnh nhiều tài nguyên quan trọng khác, đây cũng là một trong bảy trọng điểm phát triển du lịch biển đảo của nước ta.

- Phát triển du lịch hội nghị, hội thảo, du lịch MICE a) Định hướng thị trường khách quốc tế:

b) ăn cứ vào cơ cấu khách du lịch quốc tế đến Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng, những đối tượng thị trường khách du lịch (theo các yếu tố xã hội) cần được ưu tiên đầu tư để khai thác và thu hút bao gồm:

Lứa tuổi cần ưu tiên thu hút là trung niên từ 30-50.

Trình độ văn hóa của khách: ưu tiên loại khách có trình độ văn hóa cao và trung bình.

Thu nhập của khách: hướng tới thị trường có thu nhập cao và trung bình.

Hình thức đi du lịch: ưu tiên khách đi theo tour trọn gói.

Ưu tiên khách thuộc loại độc thân hoặc các cặp vợ chồng không con.

Thị trường: ưu tiên thị trường khách Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Mỹ, Tây Úc, Singapore, Thái Lan,…

c) Định hướng về thị trường khách du lịch nội địa

Trên cơ sở sản phẩm du lịch hiện trạng và tiềm năng của vùng Nam Bộ, hiện trạng thị trường khách nội địa…định hướng ưu tiên cần cho các đối tượng khách nội địa theo từng loại sản phẩm du lịch như sau:

- Khách đi tour tham quan, nghiên cứu; du lịch sinh thái: ưu tiên những khách đi theo tour của các công ty lữ hành hoặc theo nhóm tự tổ chức; tầng lớp sinh viên, học sinh và công nhân viên chức lứa tuổi từ 30-55. Khách đi tour tham quan có thể kết hợp với các mục đích khác như nghiên cứu, công vụ, hoặc đi lễ hội,…..Các điểm thu hút là các VQG Cát Tiên, VQG Côn Đảo, rừng ngập mặn Cần Giờ, du lịch sông Mekong,…

- Khách du lịch văn hóa lễ hội, tín ngưỡng: ưu tiên những khách đi theo nhóm tự tổ chức, là những người có thu nhập trung bình, thuộc lứa tuổi trung niên và về hưu, tầng lớp lao động tiểu thủ công, buôn bán,…Các địa bàn chủ yếu thu hút loại du khách này là: Núi Bà Đen, hệ thống đền chùa ở TP.Hồ Chí Minh, Bà Rịa- Vũng Tàu, thánh thất Tây Ninh, Núi Sam Châu Đốc,….

- Khách đi nghỉ cuối tuần kết hợp với vui chơi giải trí: ưu tiên khách có thu nhập trung bình trở lên; trình độ văn hóa trung bình và cao; nhiều loại lứa tuổi; các

gia đình, các cặp vợ chồng trẻ không con hoặc độc thân đi nghỉ mát; đi theo tour lữ hành, nhóm tự tổ chức hoặc đi lẻ,…Các điểm thu hút khách thường là các công viên, bãi biển,…

- Khách thương mại, công vụ: đối tượng chính là các cán bộ công nhân viên trong các cơ quan nhà nước; ưu tiên khách có thu nhập trung bình trở lên, đi lẻ không qua các tour trọn gói của các công ty lữ hành, lứa tuổi 30-55.

- Khách đi nghỉ mát biển đảo: hướng tới thị trường cao cấp với các sản phẩm du lịch biển đảo của Phú Quốc-Hà Tiên; Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Khách du lịch chữa bệnh: suối khoáng nóng Bình Châu (Bà Rịa-Vũng Tàu) đang được làm nguội đi để tắm liệu pháp

d) Định hướng về sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch đóng vai trò trung tâm của lãnh thổ du lịch. Phát triển du lịch cần dựa trên định hướng chiến lược phát triển sản phẩm đúng đắn với những định hướng chính là:

Tạo sản phẩm du lịch độc đáo, đặc trưng: Các sản phẩm du lịch chính của vùng ĐBSCL là: du lịch sinh thái (hệ sinh thái đất ngập nước nội địa-Đồng Tháp Mười; hệ sinh thái rừng ngập mặn; hệ sinh thái biển đảo Phú Quốc); du lịch tìm hiểu văn hóa (TP.Sóc Trăng; Làng cổ Long Tuyền, Bình Thủy, Cần Thơ; Thành cổ Óc EO, Thoại Sơn, An Giang,…); du lịch tham qua miệt vườn, sông nước, du lịch cộng đồng. Ngoài ra, trong từng cụm thuộc vùng ĐBSCL còn có các sản phẩm đặc thù: du lịch tham quan di tích lịch sử cách mạng (nhà tù Phú Quốc, rừng tràm Mỹ Phước-Sóc Trăng,….); du lịch lễ hội, tín ngưỡng (lễ hội trái cây-Bến Tre; lễ hội nghinh ông Nam Hải-Trà Vinh,….); du lịch thương mại, công vụ-MICE (Phú Quốc, Cần Thơ); du lịch nghỉ dưỡng biển đảo. Đối với ĐNB: du lịch lịch sử, du lịch làng nghề, du lịch MICE nhằm tạo ra sự khác biệt, thu hút khách du lịch. Trong vùng

hiện có 3 khu du lịch quốc gia chuyên đề: khu du lịch biển Long Hải-Vũng Tàu;

khu du lịch hệ sinh thái rừng Sác Cần Giờ và khu du lịch sinh thái-lịch sử Côn Đảo.

Đây là những sản phẩm du lịch đặc sắc của vùng cần được chú trọng đầu tư phát triển.

Đa dạng hóa các sản phẩm du lịchtrên cơ sở những tiềm năng trội của vùng nhằm đáp ứng nhu cầu của những thị trường du lịch trọng điểm: du lịch cuối tuần, du lịch vui chơi giải trí, du lịch mua sắm, du lịch nghỉ dưỡng núi (Núi Dinh ở Bà Rịa-Vũng Tàu), du lịch nghỉ dưỡng biển, du lịch sinh thái, du lịch chữa bệnh…để thu hút và kéo dài ngày lưu trú của khách.

Mỗi địa phương trong vùng cần tập trung phát huy thế mạnh đặc thù riêng để phát triển sản phẩm du lịch, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng trùng lặp về sản phẩm du lịch có khả năng ảnh hưởng đến sức hấp dẫn chung của vùng nhằm tạo ra các chương trình du lịch nội vùng, đặc sắc, tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh du lịch chung của vùng.

Chú trọng đẩy mạnh sự liên kết với các vùng, các trung tâm du lịch khác trong nước và cả các nước trong khu vực, đặc biệt trong Tiểu vùng sông Mekong mở rộng GMS như Campuchia, Lào, Thái Lan để nối tour du lịch tạo thêm khả năng tiêu thụ các sản phẩm du lịch của vùng.

Do tính chất tài nguyên, đặc thù phân bố dân cư, nét văn hóa truyền thống, nên về cơ bản đối với vùng ĐBSCL không nên phát triển các khu du lịch có quy mô lớn, ngoại trừ Phú Quốc (với các khu nghỉ dưỡng biển quy mô lớn, chất lượng cao), Hà Tiên-Kiên Lương (Kiên Giang), Cồn Ấu (Cần Thơ). Các KDL khác của vùng nên có quy mô nhỏ, phù hợp với đặc điểm chất phác của người dân Nam Bộ và phù hợp với cảnh quan tự nhiên sông nước, miệt vườn.

Đặc thù của vùng cũng thuận lợi phát triển các KDL sinh thái (tại các VQG, KBTTN), du lịch cộng đồng (tại miệt vườn, khu dân cư). Đó chính là những định

hướng cơ bản đối với các KDL tại vùng ĐBSCL. Bên cạnh các KDL hiện đại, cao cấp tại khu vực Phú Quốc-Hà Tiên.

Cụm du lịch Vũng Tàu-phụ cận-Côn Đảo: Với lợi thế chính về tài nguyên du lịch tự nhiên, đây là nơi có nhiều loại hình du lịch hấp dẫn gắn liền với tự nhiên.

Các sản phẩm tiêu biểu của vùng: du lịch tắm và nghỉ dưỡng biển; du lịch cuối tuần; du lịch sinh thái; du lịch thể thao-mạo hiểm; du lịch tham quan. Đối với cụm du lịch này cần chú trọng phát triển khu du lịch chuyên đề quốc gia Long Hải- Phước Hải và Côn Đảo như những sản phẩm trọng tâm của cụm.

Cụm du lịch Tây Ninh-phụ cận: sản phẩm du lịch đặc trưng: du lịch văn hóa- tín ngưỡng; du lịch nghỉ dưỡng hồ.

Như vậy, trong các chiến lược phát triển du lịch của 2 tiểu vùng ĐNB và ĐBSCL, thì loại hình du lịch nghỉ dưỡng và sinh thái biển đảo cũng được khẳng định là có nhiều lợi thế và cũng là hướng được quan tâm đầu tư phát triển.

3.1.3.Dựa trên kết quả tính toán SKH

Dựa vào những định hướng chung về phát triển du lịch của Đảng và Nhà nước và những dự báo về cơ cấu khách, số lượng khách du lịch đến vùng Nam Bộ của Viện nghiên cứu phát triển du lịch, và qua kết quả phân tích ở chương II, học viên nhận thấy rằng điều kiện SKH của vùng Nam Bộ có sự phân hóa khác nhau giữa 2 tiểu vùng: ĐNB và ĐBSCL; giữa các địa phương khác nhau; nhu cầu du lịch sẽ có sự phân khúc thị trường cũng như lứa tuổi. Do đó, việc định hướng để khai thác tốt điều kiện SKH cũng có sự khác nhau giữa 2 tiểu vùng cũng như giữa các địa phương trong vùng. Cụ thể như sau:

Định hướng chung:

Dựa vào điều kiện SKH, du lịch vùng Nam Bộ cần hướng đến:

Tập trung phát triển du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh núi; tăng cường khai thác du lịch nghỉ ngơi, chữa bệnh và du lịch thể thao, tắm biển. Đối với vùng đồng bằng nội địa, cần khai thác kết hợp với các loại hình du lịch khác: du lịch mua sắm, du lịch sông nước, du lịch sinh thái,…

Đối tượng khách du lịch: tập trung thị trường khách du lịch gần với nước ta (Thái Lan, Malaysia, Singapore, Trung Quốc, Hàn Quốc,…) vì những nước này có khí hậu gần như tương đồng với nước ta nên việc thích nghi sẽ dễ dàng.

Ngoài ra, cần chú trọng ưu tiên thu hút khách du lịch từ châu Âu, và các nước Đông Âu (chủ yếu là Nga), để khai thác những lợi thế về chế độ nắng, gió,…của vùng.

Tăng cường khai thác khách du lịch nội địa – đối tượng đã thích nghi khí hậu.

Lứa tuổi khách: chú trọng thu hút những khách trong độ tuổi trưởng thành (từ 30-50 tuổi ) vì nhóm tuổi này sẽ có biên độ thích ứng với khí hậu lớn và ít bị sốc do sự thay đổi môi trường sống (mà yếu tố khí hậu đóng vai trò rất quan trọng) và cũng là nhóm tuổi có khả năng chi trả cũng như thích sử dụng các sản phẩm đắt tiền.

Cơ sở kinh doanh du lịch: xây dựng các nhà nghỉ, trại an dưỡng bệnh ở vùng núi, miền biển, vùng đồng bằng phù hợp với điều kiện SKH để kích thích và chữa trị một số loại bệnh cũng như phục hồi sức khỏe.

Đào tạo những cán bộ, nhân viên ngành du lịch có sự hiểu biết về SKH:

các lợi ích cũng như tác hại của khí hậu vùng núi, miền biển và đồng bằng đối với các lứa tuổi cũng như một số loại bệnh.

Tận dụng tối đa những giai đoạn có điều kiện SKH tốt, thuận lợi và khá thuận lợi đối với du lịch của các tiểu vùng, các địa phương trong vùng.

Trước diễn biến ngày càng phức tạp của biến đổi khí hậu, sẽ làm cho điều kiện SKH vùng ngày càng trở nên khắc nghiệt hơn. Do đó, các địa phương trong vùng ngoài việc xây dựng các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, xây dựng các chiến lược hoạt động kinh doanh du lịch phù hợp với điều kiện SKH thì còn cần phải tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân địa phương, của khách du lịch về “biến đổi khí hậu”.

Định hướng cụ thể cho từng tiểu vùng và các địa phương trong vùng như sau:

a. Tiểu vùng ĐNB

Do sự phân hóa địa hình đã dẫn đến sự phân hóa khí hậu trong vùng ĐNB.

Vùng vừa có kiểu khí hậu vùng núi (nhưng chủ yếu là núi thấp dưới 1000m), khí hậu miền biển và khí hậu đồng bằng; do đó điều kiện SKH của vùng có thể chia ra như sau: SKH miền núi, SKH miền biển – đảo và SKH khu vực đồng bằng nội địa.

Các định hướng chính đối với du lịch của vùng ĐNB bao gồm:

Tập trung phát triển du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh ở vùng núi thuộc 2 địa phương: Bình Phước và Tây Ninh. Đây là 2 địa phương có điều kiện SKH tổng hợp đối với sức khỏe con người tốt nhất ở vùng ĐNB nói riêng và cả vùng Nam Bộ, thời gian thuận lợi, khá thuận lợi cho du lịch kéo dài trên 6 tháng, đặc biệt là Bình Phước thời gian có điều kiện SKH tốt cho du lịch rất dài.

Tập trung phát triển các loại hình du lịch tham quan, nghỉ dưỡng, và phục hồi sức khỏe vùng biển đảo ở Vũng Tàu và Côn Đảo. Đây là 2 địa phương có điều kiện SKH biển đảo khá tốt và khá tiện nghi đối với du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh. Theo nhiều kết quả nghiên cứu, thì Vũng Tàu và Côn Đảo là 2 địa điểm có SKH được xếp vào loại tốt nhất Việt Nam cho du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh.

Đối với khu vực đồng bằng nội địa: Điều kiện SKH DI thuộc loại nóng và RSI thuộc loại khá bất tiện nghi, thời gian tương đối thuận lợi với du lịch ít. Do đó, một mặt tăng cường khai thác thời gian có điều kiện SKH tốt nhất; mặt khác,

Một phần của tài liệu đánh giá điều kiện sinh khí hậu phục vụ cho du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh ở á vùng nam bộ (Trang 100 - 124)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(142 trang)