I. Địa danh Hà Nam qua các thời kỳ lịch sử
Hà Nam thuộc vùng đất cổ ở Đồng Bằng sông Hồng, một trong những phát tích nền văn minh sông Hồng.
Một vùng đất giáp kinh đô Thăng Long (phía Nam Hà Nội)
Từ thời các vua Hùng, đất Hà Nam nằm trong quận Vũ Bình thuộc bộ Giao Chỉ.
Đến thời nhà Trần đổi là châu Lỵ Nhân, thuộc lộ Đông Đô.
Dưới thời Lê vào khoảng năm 1624, Thượng thư Nguyễn Khải đã cho chuyển thủ phủ trấn Sơn Nam từ thôn Tường Lân huyện Duy Tiên phủ Lỵ Nhân đến đóng ở thôn Châu Cầu thuộc tổng Phù Đạm, huyện Kim Bảng, phủ Lỵ Nhân, trấn Sơn Nam Thượng.
Đến năm 1832 nhà Nguyễn, vua Minh Mạng quyết định bỏ đơn vị trấn thành lập đơn vị hành chính tỉnh, phủ Lỵ Nhân được đổi là phủ Lý Nhân thuộc tỉnh Hà Nội.
Đến tháng 10 năm 1890 (đời vua Thành Thái năm thứ 2) tỉnh Hà Nam được thành lập từ các huyện của Hà Nội và Nam Định. Tên tỉnh Hà
Nam ra đời từ chữ Hà của Hà Nội và chữ Nam của Nam Định ghép lại và Phủ Lý trở thành tỉnh lỵ của tỉnh.
Tháng 5/1953, Trung ương quyết định cắt các huyện phía Bắc tỉnh Nam Định gồm Ý Yên, Vụ Bản, Mỹ Lộc và 7 xã phía Bắc Nghĩa Hưng nhập vào tỉnh Hà Nam, chuyển châu Lạc Thuỷ về tỉnh Hoà Bình. Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc chỉ đạo kháng chiến của hai tỉnh Nam Định và Hà Nam.
Tháng 4/1956, sau giảm tô và cải cách ruộng đất, 3 huyện Ý Yên, Vụ Bản, Mỹ Lộc và 7 xã của Nghĩa Hưng sát nhập trở lại tỉnh Nam Định.
Năm 1956, tỉnh Hà Nam và Nam Định sát nhập thành tỉnh Nam Hà.
Đầu năm 1976, Nam Hà sáp nhập với tỉnh Ninh Bình thành tỉnh Hà Nam Ninh.
Năm 1992, tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình lại chia tách như cũ.
Ngày 1/1/1997, tỉnh Hà Nam được tái lập, gồm các huyện Thanh Liêm, Bình Lục, Lý Nhân, Duy Tiên, Kim Bảng và thị xã Phủ Lý.
Bản đồ địa chính tỉnh Hà Nam
? Em hãy nêu vị trí, nguồn gốc của tỉnh Hà Nam?
? Khi thành lập đến nay Hà Nam có những tên gọi như thế nào?
? Em hãy đọc tên thành phố và các huyện của tỉnh Hà Nam ? II. Những danh nhân tiêu biểu ở tỉnh Hà Nam
Hà Nam là mảnh đất hiếu học, ở đây kết tinh ở những nhân vật đỗ đạt, mà phải đỗ đại khoa, tức Tiến sĩ. Chưa có điều kiện để kiểm kê số liệu chính xác về số người đỗ Tiến sĩ đương đại, dưới đây chỉ viết về một số vị đỗ Tiến sĩ, tính từ người đỗ đầu tiên năm 1429 - Tiến sĩ Nguyễn Khắc Hiếu đến người đỗ cuối cùng vào năm 1910 là cụ Phó bảng Bùi Kỷ.
* Trong lĩnh vực khoa học
+ Nguyễn Khắc Hiếu (1400-1472)
Nguyễn Khắc Hiếu tự là Thuận Thần, sinh năm Canh Thìn (1400), mất năm Nhâm Thìn (1472), thọ 72 tuổi. Ông quê ở thôn Thanh Khê, xã Hoà Khê, huyện Bình Lục.
Nguyễn Khắc Hiếu đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cùng khoa với Trình Thuấn Du (Duy Tiên), ở khoa Minh Kinh, năm Kỷ Dậu, niên hiệu Thuận Thiên 2 (1429) đời Lê Thái Tổ. Làm quan đến chức Hàn lâm viện trực học sĩ, Nhập thị kinh diên. Từng đi sứ sang nhà Minh.
+ Trình Thuấn Du (1402-1481)
Trình Thuấn Du tên thật là Trần Thuấn Du (vì kiêng tên huý mẹ vua Lê Thánh Tông, sau mới đổi là Trình Thuấn Du), tên hiệu là Mật Liệu.
Ông là nho sĩ và là quan chức thời Lê. Quê ông ở Tân Đội, Duy Tân, nay là xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên.
Ông đỗ khoa Minh Kinh, năm Kỷ Dậu, niên hiệu Thuận Thiên 2 (1429) Đời Lê Thái Tổ.
+ Dương Đức Kỳ (1475-1564)
Còn có tên gọi là Dương Đức Thụy. Ông sinh năm Ất Mùi (1475), mất năm Giáp Tý (1564). Quê ở xóm Dĩ Hoà, xã Dĩ An, huyện Duy Tiên.
+ Lê Đình Tướng (1474-?)
Sinh năm 1474, chưa rõ năm mất. Ông quê ở Cao Mật, huyện Kim Bảng, nay là thôn Cao Mật, xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng. Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Tuất niên hiệu Cảnh Thống thứ 5 (1502), đời Lê Hiến Tông. Làm quan đến Phó đô ngự sử
+ Lý Trần Thản (1721-1776)
Lý Trần Thản quê ở Lê Xá, xã Châu Sơn, huyện Duy Tiên. Ông sinh ngày 12 tháng Ba năm Tân Sửu (1721), đỗ Tam trường đời Lê Cảnh Hưng thứ 4. Làm Tri huyện Phú Xuyên 21 năm. Ông là con rể của Bảng nhãn Lê Quý Đôn.
* Văn học, nghệ thuật + Vũ Văn Lý (1809-1879)
Vũ Văn Lý sinh năm Kỷ Tỵ (1809), mất năm Kỷ Mão (1879). Ông quê xã Vĩnh Trụ, huyện Nam Xương, tỉnh Hà Nội nay là thị trấn Vĩnh Trụ, huyện Lý Nhân.
Năm 33 tuổi đỗ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Sửu, niên hiệu Thiệu Trị thứ nhất (1841). Làm quan đến chức Quốc Tử giám tế tửu.
Sau cáo quan về quê dạy học.
+ Nguyễn Khuyến (1835-1909)
Nguyễn Khuyến có tên là Nguyễn Văn Thắng, hiệu Quế Sơn, tự Miễn Chi. Ông sinh ngày 15-2-1835 (tức 18 tháng Giêng năm Ất Mùi).
Nguyễn Khuyến xuất thân từ một gia đình nhà nho nghèo, hai bên nội ngoại đều có truyền thống khoa bảng. Bên nội quê gốc ở vùng Treo Vọt, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh, di cư ra Yên Đổ, cho đến thời nhà thơ đã được năm trăm năm.
? Em hãy kể tên một số danh nhân tiêu biểu ở tỉnh Hà Nam?
III. Hà Nam dưới các triều đại Lý, Trần, Hồ, Lê
Cuộc dời đô của Lý Thái Tổ năm Canh Tuất (1010) qua đất Hà Nam chắc chắn nhận được sự đóng góp cả vật chất lẫn tinh thần của nhân dân Hà Nam. Bởi lẽ cuộc rời đô đòi hỏi cần nhiều nhân lực,vật lực.
Năm 1069, Lý Thánh Tông hạ chiếu thân chinh đi đánh Chiêm Thành. Đoàn quân khổng lồ 5 vạn người đi qua Phủ Lý Nhân, nhân dân Hà Nam là những người ủng hộ, giúp đỡ rất nhiều cho đội quân của triều đình.
Tại Thi Sơn (Kim Bảng) còn lưu giữ nhiều chuyện kể về cuộc hành quân 1069 và Nguyên soái Lý Thường Kiệt.
Sau khi chiến thắng Chiêm Thành vua Lý Thánh Tông đã đi thuyền qua Lý Nhân. Sách Đại nam nhất thống chí viết: "Vua Lý Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, giết Sạ Đẩu, phu nhân (Mỵ Ê) bị bắt…" và khi qua Lý Nhân, Mỵ Ê đã nhảy xuống sông tự vẫn. Hiện tại đền Mỵ Ê phu nhân ở Lý Nhân.
Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ nhất, sông Thiên Mạc là nơi đồn trú của vua quan triều Trần. Chặng đường rút lui
chiến lược năm 1258 qua nhiều địa phương Hà Nam. Nhân dân Hà Nam ở mọi vùng miền đã tham gia tích cực, tạo điều kiện vật chất để ủng hộ và bảo vệ vua tôi nhà Trần. Kho lương ở Trần Thương xã Nhân Đạo là một minh chứng.
Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ 2 (1285) vua tôi nhà Trần đã rút khỏi Thăng Long theo sông Thiên Mạc về Thiên Trường. Trên đường rút lui, quân ta dựa vào các điểm chốt để mai phục quân địch. Nhiều tấm gương hy sinh cao cả như Trần Bình Trọng vốn dòng dõi Lê Hoàn quê ở Thanh Liêm đã đanh thép trả lời quân thù: "Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc". Đó là Trần Duy Công, Nguyễn Chung Công và Nguyễn Thành Công ở Bình Lục cùng hàng trăm, hàng ngàn người vô danh khác tham gia kháng chiến. Tháng 5/1285 trận đánh đầu tiên trong hệ thống phòng tuyến sông Hồng đã diễn ra trên đất Hà Nam và giành được thắng lợi có ý nghĩa quan trọng củng cố niềm tin chiến thắng của quân dân cả nước. Năm 1287 - 1288 quân Nguyên lại ngông cuồng xâm lược nước ta lần nữa và lần này lại bị đánh tơi bời.
Năm 1400 Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần. Năm 1407 nhà Hồ thất bại trước nhà Minh. Các cuộc khởi nghĩa sau đó của Trần Ngữ và Trần Quý Khoáng tuy có giành được chiến thắng song cũng chỉ kéo dài đến năm 1413. Năm 1416 tại Lũng Nhai, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa. Nhân dân Hà Nam đã tham gia khởi nghĩa với một trái tim nhiệt thành yêu nước. Đó là Vũ Cố ở Thanh Liêm đã dẫn đường cho đại quân của Lê Lợi đánh tan giặc tại Lý Nhân tạo điều kiện thuận lợi cho quân ta tiến công bao vây Đông Đô. Đó là ba chị em Ả Đào dùng tiếng hát mê hoặc giặc Minh tạo điều kiện cho nghĩa quân giết giặc. Trên mảnh đất Hà Nam còn những dấu tích trên cánh đồng Thành giữa hai xã Liên Túc và Liên Sơn, cách thành Cổ Lộng nơi diễn ra trận đánh thắng quân Minh nổi tiếng không đầy 6km.
Năm 1428, Lê Lợi đánh thắng quân Minh lập nên vương triều nhà Lê. Trải qua các đời vua Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông và Thánh Tông, đất nước Đại Việt phát triến cực thịnh.
? Cuộc dời đô của Lý Thái Tổ diễn ra vào năm nào?
? Cuộc chinh phạt Chiêm Thành của vua tôi nhà Lý qua Hà Nam diễn ra như thế nào?
? Thời kỳ Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, nhân dân Hà Nam đã tham gia như thế nào?
IV. Hà Nam từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX
Đây là thời kỳ Đại Việt lâm vào tình trạng khủng hoảng, kinh tế sa sút, đời sống nhân dân cực khổ, các thế lực phong kiến nổi lên giành quyền lực.
Nhà Mạc trị vì vào năm 1527, loạn chiến tranh Nam Bắc, rồi sự phân chia đàng trong đàng ngoài đã dẫn tới cảnh tiêu điều ở nông thôn Hà Nam. Năm 1771, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ cùng nhau dấy binh khởi nghĩa tại Tây Sơn. Ngày 17/12/1788, Tôn Sĩ Nghị chiếm đóng Thăng Long.
Ngày 22/12/1788 Nguyễn Huệ xuất quân ra Thăng Long. Ông chia thành 5 cánh quân tiến đánh. Đoàn quân Tây Sơn cùng nhân dân Hà Nam tiêu diệt cứ điểm Hoàng Anh (Thanh Liêm) đồn Nhật Tảo (Duy Tiên)…
ngày nay một số địa danh ở Hà Nam vẫn còn tổ chức kỷ niệm chiến công lẫy lừng của Quang Trung.
Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi mở đầu vương triều Nguyễn, nhưng nền kinh tế của Hà Nam vẫn lâm vào cảnh đình đốn mặc dù buôn bán có phát triển, nhiều thợ giỏi của Hà Nam bị bắt đưa vào Huế phục vụ vua và Hoàng tộc. Về giáo dục, thi cử thì ở Hà Nam từ thế kỷ XVI đến cuối XIX có 42 người đỗ đại khoa như Lê Tung, Nguyễn Khuyến, Bùi Dị, Bạch Đông Ôn…
? Trình bày những nét chính của lịch sử Hà Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX?
V. Lễ hội văn hóa Hà Nam 1) Lễ hội chùa Long Đọi Sơn
Hằng năm, cứ đến ngày 21 tháng 3 âm lịch, chùa Long Đọi Sơn mở hội. Nhân dân trong vùng và rất đông khách thập phương đã về đây lễ và văn cảnh chùa. Từ sáng sớm, đoàn rước kiệu đã hành lễ từ chân núi lên chùa làm lễ, dâng hương tưởng niệm Lý Nhân Tông, người có công mở mang xây dựng chùa. Sau phần lễ dâng hương là các đội tế nam quan, tế nữ quan tạ ơn Trời Phật.
* Tại đây, vào năm 987, vua Lê Đại Hành đã về mở hội thi cầy. Hơn 100 năm sau, năm 1118 vị vua thứ tư triều Lý, Lý Nhân Tông cùng đoàn tuỳ tùng theo dòng Châu Giang ghé thăm núi Đọi, thấy cảnh sắc núi sông hữu tình đã cho xây dựng chùa, đặt tên là Long Đọi Sơn và xây dựng Bảo Tháp Sùng Thiện Diên Linh. Như vậy, địa danh núi Đọi - sông Châu ra đời gắn liền với sự ra đời của Bảo Tháp Sùng Thiện Diên Linh năm 1118.
Tháp báu Sùng Thiện Diên Linh được xây dựng qua 3 vụ cầy và 4 mùa lúa chín mới hoàn thành vào năm 1121 với quy mô 13 tầng.
2) Lễ hội đền Trần Thương
Đền Trần Thương thuộc thôn Trần Thương, xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân, Hà Nam.
Cũng như những nơi thờ Hưng Đạo Đại Vương khác, đền Trần Thương tổ chức lễ hội tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc này vào ngày 20 tháng 8 âm lịch hàng năm
3) Lễ hội đình Đinh
Đình Đinh thuộc thôn Đinh, xã Đinh Xá, huyện Bình Lục, Hà Nam.
Đình Đinh thờ Đông Hải Đại Vương Đoàn Thương cùng con ông là Đông Xưng đại vương Đoàn Văn, các trung thần của triều Lý, Đông Bảng đại vương triều Lê cùng các vị tiên hiền, các vị có công lập làng. Tương truyền, làng Đinh là nơi mà Đoàn Thượng đại vương đến tìm thầy học và cũng là quê vợ của ông. Khi ông mất, con trai ông là Đoàn Văn cùng nhân dân Đinh Xá lập đền thờ. Hàng năm, cứ vào ngày sinh của Đông Hải đại vương Đoàn Thượng (10 tháng Giêng âm lịch), làng Đinh lại tổ chức lễ hội để tưởng nhớ bậc trung thần.
4) Lễ hội vật Liễu Đôi
Vật Liễu Đôi là một lễ hội làng tiêu biểu của văn hoá Hà Nam. Hàng năm, vào ngày 05 tháng giêng âm lịch, tại làng Liễu Đôi, xã Liêm Túc, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam lại diễn ra lễ hội vật để ghi nhớ công lao của chàng trai họ Đoàn giỏi võ đã có công đánh giặc cứu nước.
Tham dự hội là dân làng Liễu Đôi và các làng có truyền thống vật võ gần xa. Hội vật võ Liễu Đôi cho phép phụ nữ được tham gia, chị em cũng được ra dóng với đao, côn, kiếm, quyền… không thua kém con trai
Lễ hội vật Liễu Đôi thể hiện tinh thần thượng võ, đoàn kết của nhân dân Việt Nam, nêu cao truyền thống chống giặc ngoại xâm của cha ông, góp phần làm phong phú bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.
Mùa lễ hội vật Xuân Kỷ sửu 2009, diễn ra tại Long Đọi Sơn cùng với Lễ hội Tịch điền với sự tham gia của 06 đội các huyện, thành phố. Ban tổ chức đã trao 16 bộ huy chương gồm 09 bộ dân tộc, 07 bộ tự do cho các đô vật. Đồng thời, giải nhất toàn đoàn thuộc về huyện Lý Nhân; giải nhì toàn đoàn thuộc về huyện Kim Bảng; giải ba toàn đoàn thuộc về huyện Bình Lục.
? Em hãy nêu tên một số lễ hội tiêu biểu ở Hà Nam?