Giọng điệu trần thuật trong tác phẩm tự sự có thể sánh như giọng nói của một cá nhân trong cuộc đời. Giọng điệu có vai trò cực kì quan trọng trong việc truyền đạt đến người đọc những tín hiệu của ngôn ngữ, của sắc thái tình cảm, thái độ, quan điểm, cách ứng xử,…của nhà văn. Nó là yếu tố cơ bản tạo nên phong cách của nhà văn, tạo nên nét riêng độc đáo không thể nhầm lẫn với tác giả khác. Khi đạt đến tư duy nghệ thuật nhất định, giọng điệu trở thành một nhân tố lôi cuốn, hấp dẫn người đọc tiếp cận tác phẩm, hướng người đọc vươn tới cái đẹp nhân văn. Ở đây, người viết luận về quan hệ giữa giọng điệu và điểm nhìn vì trong tác phẩm tự sự, để trần thuật người kể chuyện luôn xuất phát từ một điểm nhìn nào đấy và gắn với điểm nhìn là giọng kể.
Nguyễn Đăng Điệp cho rằng giọng điệu không chỉ chi phối kết cấu nghệ thuật, góp phần làm nên mối quan hệ mật thiết với việc tổ chức bài và điểm nhìn nghệ thuật: “Chính ở đây người đọc, nhận ra thái độ cảm thụ soi ngắn hiện tượng, khoảng cách giữa cái đang nói và sẽ nói, mức độ gần gũi và xa cách, thẩm sơ hay ngợi ca, châm biếm của giọng điệu”
[12;tr.1017-1020]. Như vậy, giữa điểm nhìn trần thuật và giọng điệu có mối quan hệ tác động lẫn nhau mà mỗi quan điểm và vị trí trần thuật sẽ tương ứng với mọi kiểu giọng điệu đặc sắc và ngược lại.
Qua tìm hiểu và khảo sát về giọng điệu trần thuật của tập truyện Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, người viết nhận thấy giọng điệu ở đây rất đa dạng và độc đáo, có thể tạm khái quát thành ba giọng điệu chính: giọng tâm tình, giọng giễu cợt phê phán, lạnh lùng và giọng triết lí suy ngẫm.
3.2.1. Giọng tâm tình
Khảo sát các tác phẩm trong tập Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, người viết nhận thấy giọng điệu chủ đạo chi phối cả tập truyện, thể hiện chiều sâu tư tưởng, hình thành nên phong cách của nhà văn là giọng tâm tình, ngọt ngào, tha thiết. Bởi vì đề tài nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của chị là thiên nhiên và con người Nam bộ, với những gì dân dã, bình dị, mộc mạc và nghèo nàn, đây là điểm nhìn mà nhà văn ưu ái nhất. Và chính cách thể hiện này, đã bộc lộ được cái nhìn tự sự cũng như hình thành nên phong cách của tác giả.
Sinh ra và lớn lên ở miền Tây Nam Bộ, từ ấu thơ đã gắn liền với hình ảnh dòng sông, cánh đồng, nên khi miêu tả những hình ảnh này ta thấy thiên nhiên hiện lên như một người
Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư
bạn tâm tình tha thiết: “Đêm sáng trăng, ngồi trên nhà có thể thấy một dòng sông chảy líu ríu, sáng loáng. Ban đêm, con sông trước nhà tôi không ngủ, nó thức theo những chiếc tàu rầm rì chạy qua, theo tiếng mái chèo quẫy chách bụp rất đều. Dài từ ngã ba Vàm đến đây, nước chảy êm, khuất gió, những chiếc ghe đi đêm hay đậu lại, nghỉ ngơi” [22;tr.125]. Câu văn êm ả như lời ru, những dòng sông của cuộc đời, những dòng sông thời gian thấm thía tình người, niềm đau và nỗi nhớ. Dòng sông cứ thênh thang chảy mãi từ ngôn từ rất riêng, rất trong trẻo, độc đáo và đa âm sắc của Nguyễn Ngọc Tư. Như một khúc nhạc lòng buông ra mênh mang bởi giọng trữ tình chất chứa một nổi niềm suy tư “Và chiếc ghe, cánh đồng, dòng sông thênh thang mãi…”[22;tr.176]. Chẳng những đẹp như thế mà hình ảnh thiên nhiên khô cằn, héo úa cũng được nhà văn đón nhận bằng một tấm lòng thiết tha, một dòng tự sự thật trữ tình: “Những cây lúa chết non trên những cánh đồng, thân đã khô cong như tàn nhanh chưa rụng, nắm vào bàn tay là nát vụn…Một lớp phèn mới, vàng sẫm quánh lại”
[22;tr.155]. Hay “Những cánh đồng trở thành đô thị; những cánh đồng ngoa ngoắt thay đổi vị của nước, từ ngọt sang mặn chát; những cánh đồng vắng bóng người, và lúa rày mọc hoang nhớ đau nhớ đớn bàn chân xưa nghẽn trong bùn quánh giờ đang vất vơ kiếm sống ở thị thành. Những cánh đồng đó, đã hất hủi cây lúa... Đất dưới chân chúng tôi bị thu hẹp dần. Nhưng ngay từ đầu, chúng tôi đã tự làm quẩn chân mình, vì không thể quay lại những cánh đồng cũ... Tôi đã từng trở ngược về những nơi đó theo cách nghĩ của tôi, bằng mường tượng. Tôi gặp nhiều đứa trẻ tên Hận, tên Thù mang khuôn mặt rắp tâm của cha tôi, với đôi mắt sâu và chiếc mũi thẳng. Những đứa trẻ nhàu úa, cộc cằn, cắm cẳn, chỉ tiếng chửi thề là tươi rói, nhảy ra xoi xói ở đầu môi” [22;tr.208]. Đoạn văn như là một lời tâm sự, những câu văn dài tạo nên một dòng tự sự liền mạch, tạo độ “chùng”, độ ngân vang hoặc nhấn mạnh câu chuyện. Những câu văn ấy cùng với những câu văn giản dị, tự nhiên, tạo nên một âm hưởng mượt mà, sinh động trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư.
Đối với cuộc sống nghèo nàn, khốn khó, Nguyễn Ngọc Tư tự sự bằng giọng điệu tâm tình, vừa đôn hậu, ấm áp, vừa thể hiện một tấm lòng cảm thông sâu sắc với những số phận éo le, bất hạnh, với những mối tình thầm lặng, xót xa, những cô gái tuổi xuân đã trót lỡ làng…đó như là “chất quặng” làm nên cái tự sự về “cái nhìn khắc khoải” về thân phận con người của Nguyễn Ngọc Tư. Đó là những trang văn viết về cuộc sống hẩm hiu, duyên phận éo le của Xuyến trong Duyên phận so le: “Bữa kia mới buồn ác, thấy Bi lon ton chơi một
Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư
sững lại, kêu lên hai tiếng, trời ơi, mình làm khổ nó rồi, mình nghèo như vầy…” [22;tr.143].
Ở đây, cái giọng đôn hậu có sự pha lẫn chút ngậm ngùi, cũng xuất phát từ tấm lòng nhân hậu, chan chứa yêu thương, thấu hiểu, đồng cảm với nỗi đau của Xuyến; hay có lúc nhà văn hướng niềm xót thương, âu yếm, hi vọng vào một mối tình buồn với một niềm cảm thông
“Thêm một mùa gió bấc nữa, chị Hảo vẫn chưa lấy chồng. Ai lại cũng hỏi, chị chờ ai vậy cà. Chị bảo…chờ người ta thôi buồn khi đưa chốt qua sông” [22;tr.36] …tất cả đều được nhà văn chuyển tải, miêu tả ở nhiều góc độ khác nhau nhưng có một điểm chung là xuất phát từ giọng điệu tâm tình, ngọt ngào. Giọng điệu ấy đã góp phần vào việc lột tả, khám phá những suy tư, trăn trở, dằn vặt trong tâm hồn nhân vật: “Đâu có. Có mà, nước mắt anh rớt lên con tướng này nè, đó, nó ướt nhẹp đó thấy chưa. Hết cười lớn, nói lớn, “Ừ, tại tao thương con chốt. Qua sông là không mong về”…”. Câu văn như tức tưởi, nghẹn lại, dòng cảm xúc lắng vào trong thành niềm đau. Cái thật thà, chất phác, song cũng sâu nặng nghĩa tình của người dân Nam bộ được dệt nên bởi giọng điệu thật ấm áp, chan chứa yêu thương.
Giọng điệu tâm tình, mộc mạc này giúp Nguyễn Ngọc Tư trần thuật một cách dễ dàng với lời văn gần với văn nói, ở đó có sự mộc mạc, dung dị khi nhà văn kể về cuộc sống vất vả của người dân Nam bộ. Sự thiếu thốn về vật chất, sự khắc nghiệt của thiên nhiên được trải ra bằng chất giọng đặc sệt giọng quê Nam bộ “Buổi chiều đi làm mướn về, họ tụt xuống ao tắm táp thứ nước chua lét vì phèn, rồi xối lại đúng hai gàu. Nước vo cơm dùng để rửa rau, rửa rau xong dành rửa cá” [22;tr.162-163]. Với giọng tự sự này, cảnh sắc Nam bộ, tràn vào trong tác phẩm cứ gần gũi, tự nhiên như chính vùng đất ấy “Cù lao Mút Cà Tha nằm gần cuối sông Dài, trên nó một chút có một nhánh sông khác rẽ về phía mặt trời, rộn rịp được đoạn đó rồi thôi”. [22;tr.18].
Giọng tâm tình ngọt ngào, tha thiết còn được thể hiện trên những trang miêu tả về hình ảnh cánh đồng: “Bây giờ, gió chướng non xập xòe trên khắp cánh đồng Bất Tận… Ven các bờ ruộng, bông cỏ mực như những đường viền nhỏ liu riu làm dịu lại mảng rực vàng của lúa” [22;tr.208]. Qua cách tự sự này, ta thấy, thiên nhiên như đáng yêu và gần gũi hơn trong cuộc sống quanh ta, bởi vẻ quyến rũ vút lên từ những dòng chữ nồng nàn tình người.
Đối với con người Nam bộ mà phần nhiều là những người nghèo, từ tên gọi, cho đến những quan hệ trong cuộc sống. Đều được nhà văn miêu tả bằng giọng điệu ấm áp chân tình.
Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư
Xuất phát từ văn hóa Nam bộ, bên cạnh đó là tấm lòng yêu thương và trân trọng con người, nên chi tiết cách gọi tên cho nhân vật trong tác phẩm cũng thể hiện giọng điệu tâm tình của Nguyễn Ngọc Tư đối với con người Nam bộ. Đối với các nhân vật có tuổi tác thì được nhà văn gọi bằng giọng điệu tôn kính. Ông Năm Nhỏ (Cải ơi), Ông Tư Mốt (Thương quá rau râm), Ông Hai (Cái nhìn khắc khoải), dì Thấm, Ông Mười (Mối tình năm cũ), Ông già Chín Vũ (Cuối mùa nhan sắc), Ông Sáu (Biển người mênh mông), Ông Chín (Nhớ sông)… Đối với trẻ thơ, trong truyện ngắn của mình, chị cũng có cách gọi tên bình dị, mộc mạc, và đầy yêu thương: Cải (Cải ơi), Bé Mén (Huệ lấy chồng), Út Nhỏ (Nhà cổ), Giang, Thủy (Nhớ sông), Bé Bi (Duyên phận So Le), Nhỏ Thỏ (Một trái tim khô), Nương, Điền (Cánh đồng bất tận),... Và tất cả những cách gọi tên đó đều xuất phát từ giọng điệu tâm tình ngọt ngào tha thiết.
Ngoài ra để phát huy giọng điệu tâm tình ngọt ngào, nhằm phát huy hiệu quả trần thuật cho giọng điệu này, Nguyễn Ngọc Tư còn sử dụng một lượng câu hỏi tu từ, những câu cảm thán nhằm khắc họa những diễn biến tâm lý phức tạp bên trong nhân vật. Chẳng hạn như những câu hỏi sau đây trong truyện ngắn Cánh đồng bất tận: “Tắm ở đâu mấy cưng?..Ăn trên mồ hôi nước mắt của người ta nên lâu lâu bị đánh cũng đáng đời, hen mấy cưng? Mấy cưng thương chị thiệt hả?”, Tôi lắc đầu, hai gàu nước của má anh, tôi nỡ nào sẻ nửa? Thí dụ như đêm nay, cái gì khiến tim ta đau nhói, cái gì làm cho ta thấy giận dữ, nặng nề? Trời đất, sao vậy nè cưng?... [22;tr.159,161,162]. Đó là những câu hỏi nghe có vẻ như nhẹ nhàng nhưng bên trong lại chất đầy những chua xót đắng cay. Những câu hỏi buông ra như tiếng kêu thống thiết trước cuộc đời đa đoan “Có ai chờ chúng tôi trên những cánh đồng khơi?”;
“Đêm nay tôi sao thế này? Vì nhìn thấy niềm hy vọng ư? Và tôi ngủ trong nỗi xốn xang”; hay là sự vỡ nhẽ trước cuộc sống “Mà, đã ngấm, đã xé toang lòng với nỗi đau chia cắt rồi chưa sợ sao?”. Và hàng loạt câu văn bỏ lửng, hàng loạt dấu “…” giữa những trang văn như tâm trạng ngổn ngang thổn thức của nhà văn trước cảnh đời và tình người “Với ký ức trống trơn, họ phơi phới ra đi, còn mình thì nhớ hoài, đau hoài…”. Nét nổi bật ở chất giọng này là những câu văn kết thúc tác phẩm, song lại mở ra một chân trời cảm xúc, suy tư nơi độc giả “Nhưng nói để làm gì, ta?”; hay “ Họ suy nghĩ…”; “Biển người thì mênh mông vậy…”;
“Ai mà biết. Mùa này gió bấc hiu hiu lại về…”; “Rồi họ, và cả má tôi đều bảo tôi khóc đi…”. Những câu văn ngắn, buông lơi như tiếng thở nhẹ khơi gợi dòng suy nghĩ bâng quơ
Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư
Giọng điệu tâm tình đã được thể hiện một cách dào dạt trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư và chính sự thể hiện đó đã hình thành một nét phong cách của nhà văn đối với dòng văn học đương đại. Tuy nhiên, bên cạnh giọng điệu tâm tình, nhiều truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư còn có giọng giễu cợt phê phán, lạnh lùng.
3.2.2. Giọng giễu cợt phê phán, lạnh lùng
Đối tượng mà nhà văn giễu cợt, phê phán thường là những người sống bằng đạo đức giả, hay có chức quyền mà không xem trọng người dân, không lo cho dân. Hình ảnh những cô gái lầm đường lỡ bước, thế giới người lớn phức tạp ngổn ngang, tất cả những phản ánh đều bộc lộ thái độ của tác giả. Hình thức biểu hiện giọng điệu này nhiều khi là sự bông đùa qua ngôn ngữ, độc thoại, đối thoại của nhân vật. Nhiều khi là cách nói bóng gió gần xa. Có khi là sử dụng các yếu tố thuộc về dấu phụ tu từ có tác dụng “pha trò”.
Nếu nhìn lại lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, nói về giọng điệu phê phán của các nhà văn trước những vấn đề thuộc về mặt trái của cuộc sống, trước hết phải kể đến những nhà văn thuộc trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930-1945 như: Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao,…Có thể thấy, các nhà văn này trong khi phản ánh hiện thực bao giờ cũng thể hiện một tấm lòng, một cái nhìn cảm thông đối với quần chúng nhân dân lao động. Các nhà văn luôn đứng về phía những “người bé nhỏ”, dưới đáy xã hội để lên tiếng bênh vực và chia sẻ. Bên cạnh đó, để thể hiện những tinh thần ấy, các nhà văn giai đoạn này thường tỏ thái độ phê phán một cách quyết liệt và mạnh mẽ nhằm lên án, tố cáo, những thế lực thống trị đã chà đạp con người; vạch trần những bộ mặt nhám nhúa, những bọn người đểu giả, lừa lọc, bịp bợm… làm băng hoại đạo đức xã hội. Thái độ ấy bộc lộ qua từng con chữ, từng câu văn… mà người đọc rất dễ dàng nhận ra. Tiêu biểu cho sự quyết liệt này là Vũ Trọng Phụng khi ông công khai cho rằng văn chương của ông phải là
“sự thực ở đời”. Và chúng ta hẵn đã biết “sự thực ở đời” trong văn chương của Vũ Trọng Phụng đó là việc nhà văn đã không ngần ngại “lột trần” bản chất xấu xa, bần tiện, thái độ bịp bợm, lừa lọc… của bọn người “đểu cáng”, cơ hội trong xã hội thời ấy. Các tác phẩm bất hủ của ông như Số đỏ, Giông tố, Trúng số độc đắc…là những chứng minh rõ ràng nhất cho thái độ phê phán quyết liệt, thẳng thắn này của Vũ Trọng Phụng. Người đọc có thể dễ dàng bắt gặp rất nhiều đoạn văn trong tiểu thuyết Số đỏ thể hiện thái độ phê phán trực diện của nhà văn về hạng người bịp bợm, cơ hội (Xuân Tóc Đỏ) và dâm đãng, đạo đức giả (bà phó
Nghệ thuật tự sự trong tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư
Đoan) trong xã hội Việt Nam những năm 1930-1945. Bằng giọng văn trào lộng chua cay, Vũ Trọng Phụng đã tỏ rõ thái độ phê phán, châm biếm không khoan nhượng.
Đến thời kì đổi mới văn học (từ sau Đại hội VI năm 1986), thái độ phê phán của các nhà văn một lần nữa được bộc lộ một cách mãnh liệt trực diện không kém gì những giai đoạn trước. Tinh thần và thái độ phê phán trong văn học giai đoạn này được các nhà văn nhìn nhận với thái độ “nhìn thẳng”, “nhìn thật”, quyết không tránh né nhằm vạch trần và phơi bày ra ánh sáng những mảng tối, những u nhọt mà trong giai đoạn trước đó vì những lí do khách quan của lịch sử đất nước các nhà văn không có điều kiện đề cập đến. Vấn đề này thể hiện rất rõ qua hàng loạt tác phẩm của những tác giả như: Dương Hướng với Bến không chồng; Nguyễn Khắc Trường với Mảnh đất lắm người nhiều ma; Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh và đặc biệt là Nguyễn Huy Thiệp với hàng loạt tác phẩm như: Tướng về hưu, Kiếm sắc, Những người thợ xẻ, Không có vua, Những người muôn năm cũ…
Khác với các nhà văn kể trên, ở Nguyễn Ngọc Tư thái độ phê phán được chị thể hiện bằng giọng điệu rất nhẹ nhàng, kín đáo, có phần hài hước chứ không báng bổ và gay gắt.
Người đọc không bao giờ thấy ở Nguyễn Ngọc Tư những hành động và thái độ ném vào bộ mặt xã hội tất cả những uất nghẹn và căm phẩn như Vũ Trọng Phụng trong Giông tố, Số đỏ… Hay cũng không bao giờ tìm thấy ở Nguyễn Ngọc Tư sự “văng tục” rất bạo miệng, và thái độ “coi đời là vô nghĩa, là trò đùa, luôn luôn có giọng ỡm ờ, bỡn cợt, nhìn đời nhìn người chỉ thấy mặt bỉ ổi, thú vật” kiểu như Nguyễn Huy Thiệp. Chẳng hạn như:
“Bà Lâm bảo: “Ăn đi con ạ. Đàn ông nó chẳng thương mình đâu. Rượu thì nó ngồi mâm trên. Ngủ thì nó nó đè lên mình”. Bố Lâm gắt: “Bà lão hay nhỉ!”. Bà Lâm lẩm bẩm:
“Hay cái con mẹ mày! Tao tám mươi tuổi mà nói sai à?” (Những bài học nông thôn) [14;tr.122].
Với Nguyễn Ngọc Tư, thái độ phê phán trong tác phẩm của chị gần như là không biểu lộ ra bên ngoài câu văn và con chữ, nghĩa là người đọc chỉ có thể cảm nhận được thái độ phê phán ấy sau khi đọc trọn vẹn tác phẩm, thông qua cuộc đời và thân phận các nhân vật mà chị đã xây dựng trong tác phẩm. Vì đã được Nguyễn Ngọc Tư kín đáo “che” lại bằng giọng điệu buồn và khá trầm tĩnh, có vẻ hài hước tưng tửng của chị. Đó là trường hợp ở Cải ơi, Một trái tim khô, Cánh đồng bất tận,….
Trong Cánh đồng bất tận có đoạn “Cứ mỗi mùa gặt, họ lại dập dìu trên đê, lượn lờ