CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC
1.3. Các nghiên cứu thực nghiệm trong nước và thế giới
1.3.1. Mô hình nghiên cứu về mối tương quan giữa thị trường chứng khoán và giá vàng
1.3.1.1. Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Minh Kiều và Nguyễn Văn Điệp, trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh (2013)
Cở sở lý thuyết
Vàng khác với các tài sản khác bởi vì tiềm năng đối với vàng là tính thanh khoản cao và nó phản ứng với những thay đổi giá. Sự biến động của giá vàng ảnh hưởng đến phần lớn các nền kinh tế trên thế giới trong đó có thị trường chứng khoán. Các nhà đầu tư có thói quen sử dụng chiến lược quản trị rủi ro đơn giản là đa dạng hóa trong danh mục đầu tư của họ các hàng hóa có cả đầu tư vàng hoặc dầu vì hai khoản đầu tư này thường có mối quan hệ nghịch đảo với xu hướng của thị trường chứng khoán.
Kết quả nghiên cứu
Trong dài hạn, giữa chỉ số giá chứng khoán VN-Index với giá vàng trong nước có mối quan hệ tích cực. Khi giá vàng trong nước tăng 1% thì chỉ số giá chứng khoán tăng lên khoảng 1,54%, kết quả này ngược với giả thiết nghiên cứu của tác giả và các nghiên cứu nước ngoài như mô hình của Garefalakis, Dimitras, Koemtzopoulos và Spinthiropoulos (2011) tại thị trường chứng khoán Hong Kong; nhưng lại có cùng kết quả nghiên cứu của Huỳnh Thanh Bình và Nguyễn Minh Hà (2012) về thị trường chứng khoán Việt Nam, đó là: giá vàng thế giới có tác động cùng chiều lên chỉ số giá chứng khoán. Các nước châu Á trong đó có Việt Nam vẫn có thói quen xem vàng là một tài sản, một nguồn vốn dự trữ cũng như sử dụng vàng trong phần lớn các giao dịch như mua bán bất động sản hoặc sử dụng vàng làm đồ trang sức đã ăn sâu vào lối sống của người Việt Nam, khiến cho cầu về vàng tăng theo tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng như khả năng tích lũy của người dân. Như vậy, vàng vẫn là một tài sản trong danh mục đầu tư của nhà đầu tư cùng với các loại tài sản khác và sự biến động cùng
hướng với chỉ số giá chứng khoán là một kết quả khác biệt hơn so với các kết quả thực nghiệm của các nghiên cứu ở các nước khác do những nét riêng về phong tục, đặc thù nền kinh tế, chế độ chính trị ở Việt Nam,…
1.3.1.2. Mô hình nghiên cứu của Garefalakis, Dimitras, Koemtzopoulos và Spinthiropoulos (2011)
Cơ sở lý thuyết
Biến động giá vàng ảnh hưởng đến hầu hết các lĩnh vực của các nền kinh tế và do đó thị trường chứng khoán cũng không tránh khỏi quy luật đó. Thị trường đầu tư vàng đã phát triển mạnh trên toàn thế giới trong bảy năm qua.
Nhiều nhà đầu tư có xu hướng luôn có một tỷ lệ vàng trong danh mục đầu tư của họ vì thực tế chỉ ra rằng giá vàng được dự báo sẽ tăng phù hợp với lạm phát và đây là một hành động để phòng ngừa lạm phát tăng cao ( Levin và Wright , 2006). Trong các thời kỳ kinh tế khác nhau, vàng như một tài sản đảm bảo và đa dạng hóa rủi ro thoát khỏi những cú sốc từ thị trường chứng khoán và các kênh đầu tư khác. Theo Tully và Lucey (2007) chức năng của vàng như một bảo hiểm rủi ro đối với cổ phiếu và đảm bảo được lợi nhuận trên thị trường chứng khoán. Johnson và Soenen (1997) đi đến kết luận tương tự cho rằng vàng là một đầu tư hấp dẫn nếu nhà đầu tư muốn đa dạng hóa các kênh đầu tư của mình.
Hiller et al . (2006) đã nghiên cứu vai trò của vàng và các hàng hóa trên vốn chủ sở hữu trên thị trường. Họ phát hiện ra rằng trong giai đoạn 1976-2004 vàng đã có một tương quan âm với mức độ nhỏ với chỉ số S&P500 . Họ nhận thấy rằng danh mục đầu tư trong đó có 5% đến 10% vàng tốt hơn so với danh mục đầu tư mà không có vàng. Jaffe (1989) đã chứng minh rằng sự tương quan của vàng với chứng khoán giúp cho vàng có một chỗ đứng vững chắc trong một danh mục đầu tư đa dạng hóa tốt,… Dựa vào những yếu tố trên, nghiên cứu sẽ kiểm tra giả thuyết cho rằng sự bất ổn của giá vàng đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành một thị trường chứng khoán phát triển.
Kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sự tăng giá của vàng gây ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường chứng khoán Hong Kong. Điều này có thể được giải thích là đầu tư vàng là tìm đến nơi trú ẩn an toàn thoát khỏi những biến động xấu trên thị trường chứng khoán. Chính vì điều này mà niềm tin về sự an toàn của nhà đầu tư luôn hướng về vàng chứ không phải cổ phiếu tạo ra một môi trường đẩu tư không ổn định và làm thị trường chứng khoán đi xuống nếu nền kinh tế gặp bất trắc.
1.3.2. Mô hình nghiên cứu về mối tương quan giữa lạm phát và giá vàng
Mô hình nghiên cứu của Dipak Ghosh, Eric J. Levin Peter và Macmillan Robert E. Wright (2000)
Cơ sở lý thuyết
Phương pháp trước đây nhằm mục đích thực nghiệm mô hình giá vàng có thể được nhóm lại thành ba loại. Các phương pháp tiếp cận đầu tiên (ví dụ như Ariovich, 1983, Dooley, Isard và Taylor, 1995; Sherman, 1982, 1983, 1986;
Sjaastad và Scacciallani, 1996) mô hình biến động của giá vàng từ sự biến động của các biến kinh tế vĩ mô chính như tỷ giá, lãi suất tỷ giá, thu nhập thế giới và những cú sốc chính trị. Cách tiếp cận thứ hai (ví dụ Baker và Van Tassel, 1985;
Diba và Grossman, 1984; Koutsoyiannis, 1983; Pindyck, 1993) tập trung vào đầu cơ hoặc tính hợp lý của biến động giá vàng. Cách tiếp cận thứ ba (ví dụ
Chappell và Dowd, 1997; Kolluri, 1981; Laurent, 1994; Mahdavi và Zhou, năm 1997; Moore, 1990) xem xét vàng như một hàng rào chống lại lạm phát với sự nhấn mạnh đặc biệt về mối quan hệ ngắn hạn và dài hạn giữa vàng và lạm phát.
Bài nghiên cứu của tác giả hòa giải sự không thống nhất giữa các lý thuyết ngắn hạn và dài hạn của giá vàng. Nhóm tác giả đã đưa ra giả thiết: Vàng là một công cụ để phòng ngừa lạm phát và giá vàng tăng khi lạm phát tăng trong ngắn hạn và dài hạn.
Kết quả nghiên cứu
Nghiên cứu đã phát triển một mô hình lý thuyết bao gồm các điều kiện khác nhau để cho giá vàng tăng khi lạm phát tăng. Nếu những điều kiện này được thỏa mãn thì vàng sẽ là một hàng rào dài hạn có hiệu quả chống lại lạm phát . Các mô hình cũng đã chứng minh rằng mối quan hệ cân bằng này là phù hợp ngay cả khi lạm phát biến động trong ngắn hạn.
1.3.3. Mô hình nghiên cứu về mối tương quan giữa lãi suất và giá vàng
Mô hình nghiên cứu của PGS.TS Bùi Kim Yến và THS. Nguyễn Khánh Hoàng (Báo Phát triển & Hội nhập số 19 tháng 11-12/2014)
Cơ sở lý thuyết
Giữa giá vàng và lãi suất huy động có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Với tín hiệu giảm lãi suất huy động của Ngân hàng Trung Ương sẽ dẫn đến việc tăng cũng tiền cho nền kinh tế kéo theo hệ lụy sẽ làm cho lạm phát tăng qua đó làm tăng nhu cầu mua vàng để bảo toàn giá trị chống lại lạm phát nên kéo theo việc giá vàng cũng sẽ tăng theo.
Kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu cho thấy biến giá vàng trong nước có tác động lên lãi suất huy động vì khi giá vàng tăng đồng nghĩa với việc lạm phát sẽ tăng, khi đó buộc lòng ngân hàng phải tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát. Kết quả nghiên cứu này là ngược với giả thiết trước đó của nghiên cứu. Tuy nhiên mô hình vẫn phù hợp với thực tế tại Việt Nam. Đó là các biến kinh tế như chỉ số CPI, tỷ giá, lãi suất thể hiện vai trò của nó đối với giá vàng trong nước rất thấp thể hiện ở tần suất tác động, độ mạnh tác động cũng như mức độ giải thích cho giá vàng trong nước đều khá thấp.
1.3.4. Mô hình nghiên cứu về mối tương quan giữa giá dầu và giá vàng
Mô hình nghiên cứu của Jana Šimáková (2011)
Cơ sở lý thuyết
Dựa vào một số nghiên cứu của một số nhà nghiên cứu trên thế giới mà tác giả Jana Šimáková (2011) đã dưa ra cơ sở lý thuyết của mình. Đó là Cashin et al . (1999 ) kiểm tra các mối tương quan giữa bảy hàng hóa trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 1960 đến tháng 5 năm 1985. Kết quả thực nghiệm từ nghiên cứu này chứng minh rằng có tồn tại mối tương quan giữa dầu và vàng. Ewing et al . (2006) và Fattouh (2010) kiểm tra sự bất đối xứng giữa các mặt hàng dầu và kim loại. Có mối tương quan đống biến giữa giá dầu và giá vàng là kết quả nghiên cứu của Pindyck và Rotemberg (1990). Hầu hết các nghiên cứu này giải thích mối liên hệ giữa giá vàng và dầu thông qua các kênh lạm phát. Có một số nghiên cứu (Hunt, 2006; Hooker, 2002) đã thiết lập liên kết này theo kinh nghiệm thực tiễn đó là “Khi giá dầu tăng, hầu hết các mức giá tăng trong đó có giá vàng tăng”. Vàng là một phần cơ bản của các danh mục đầu tư và dự trữ quốc tế của hầu hết các quốc gia, đặc biệt bao gồm cả các nước sản xuất dầu.
Khi giá dầu tăng thì doanh thu từ xuất khẩu dầu tăng, và điều này tác động tới giá vàng vì khi đó tỷ trọng vàng trong danh mục tài sản của các nhà xuất khẩu dầu tăng lên (do các nhà xuất khẩu dầu mua vàng theo nguyên tắc xuất khẩu dầu càng nhiều thì mua vàng càng nhiều). Trong trường hợp này, sự gia tăng giá dầu dẫn đến sự gia tăng giá vàng.
Kết quả nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu này là phân tích mối quan hệ giữa mức giá vàng và giá dầu. Các nghiên cứu chính được thu thập trong giai đoạn 1970 - 2010 và sau đó điều chỉnh riêng biệt cho từng phân tích định lượng. Mối quan hệ giữa các biến được lựa chọn đã được thể hiện bằng giả thiết, bằng đồ thị, biểu đồ và đại số. Mối tương quan tích cực mạnh mẽ trong toàn bộ mẫu giữa vàng và dầu đã được phát hiện ra, nhưng trong những năm gần đây, đã có một số phát triển không theo giả thiết ở phần cơ sở lý thuyết. Mặt khác, các phân tích đã khẳng định rằng vàng và dầu có mối quan hệ dài hạn. Vàng cũng như dầu bị ảnh hưởng bởi các yếu tố cụ thể và theo như các phân tích từ các phần trên thì vàng và dầu có mối tương quan đồng biến mạnh.
1.4. Tóm tắt kỳ vọng tương quan giữa các nhân tố kinh tế vĩ mô với giá