Chương 4. ỨNG DỤNG TÂM LÝ HỌC TRONG LAO ĐỘNG, SẢN XUẤT VÀ QUẢN TRỊ
1. Tổng quan về tâm lý học trong lao động sản xuất
2.1. Phân công lao động
2.1.1. Một số đặc điểm cần chú ý trong phân công lao động
Các nhà quản đốc, quản lý phân xưởng họ luôn chú ý quan sát những thao tác thừa trong quá trình lao động. Họ tiến hành xây dựng lại quy trình làm việc làm sao cắt giảm những thao tác thừa và các tổn hao năng sức lực không cần thiết để giảm thiểu sự hao phí sức và năng lượng của người lao động, nâng cao sản lượng sản phẩm theo giờ, mang lại lợi nhuận cao hơn cho nhà sản xuất. Đây cũng là cơ sở để giảm thiểu sự mệt mỏi, căng thẳng và an toàn lao động.
b. Chú ý tăng hiệu suất công việc bằng phân công lao động đúng t nh cách khí chất xu hướng
Sẽ tạo đƣợc sự hứng thú, nâng cao hiệu suất làm việc và đề phòng đƣợc các sự cố xảy ra. Ví dụ: Nếu bạn cử một người nhân viên để đi làm công tác đàm phán trong kinh doanh nhƣng đối tƣợng đó có khí chất nóng nảy (kiểu thần kinh mạnh và không cân bằng), phong cách đàm phàn của chúng ta chọn lại là phỏng cách đàm phán thỏa hiệp, nhƣ vậy sẽ không tốt và nếu đối tƣợng đàm phàn có dấu hiệu “thế găng” có thể dẫn đến mâu thuẩn và khó đi đến thỏa thuận. Nếu chọn một nhân viên có khí chất linh hoạt (Kiểu thần kinh: mạnh, cân bằng, linh hoạt) sẽ tốt hơn.
c. Chú ý phân công theo tay nghề
Phân công theo năng lực và chuyên môn, kinh nghiệm. Sự phân công này có thể nói là đúng người, đúng việc. Chúng ta biết một trong những nguyên nhân dẫn đến stress là do họ không hoàn thành công việc, không am hiểu nhiệm vụ công việc, không biết tổ chức và triển khai công việc, không có kinh nghiệm, lúng túng...dẫn đến một trạng thái tâm lý lo sợ. Nếu việc này cứ diễn tiến mà không đƣợc giải quyết, dẫn đến hiệu quả công việc kém, năng suất kém, “chạy” công việc trong một tổ chức không trôi chảy và đến hạn (deadline) làm cho họ bị hối thúc, tâm lý bị khủng hoảng, căng thẳng, chán nản.
d. Chú ý đến yếu tố sức khỏe năng suất của cá nhân
Mỗi một người đều có một ngưỡng tâm lý rất riêng trong công việc: Khả năng chịu đựng áp lực, khả năng làm kiên trì, khả năn dẻo dai, khả năng bền bỉ, khả năng linh hoạt ....là khác nhau. Ví dụ: một người có khí chất ưu tư (yếu, không cân bằng, không linh hoạt) thường sẽ kiên trì tốt hơn đối với người có khí chất nóng nảy (kiểu thần kinh mạnh và không cân bằng), họ sẽ rất thích hợp để sử dụng đối với các công việc đòi hỏi sự từ tốn, nhẹ nhàng, các công việc mang tính đơn điệu...
e. Chú ý t nh đơn điệu trong lao động
Hiện nay có hai quan niệm khác nhau về tính đơn điệu trong lao động:
- Tính đơn điệu là đặc điểm khách quan của bản thân quá trình lao động
- Tính đơn điệu là một trạng thái tâm lý của con người. Trạng thái tâm lý này là hậu quả của sự đều đều trong công việc.
- Các nhà tâm lý học Mỹ thường theo quan niệm thứ hai. Thí dụ T.W.Harrel đã cho rằng: “Tính đơn điệu là một trạng thái của trí tuệ, do việc thực hiện các nhiệm vụ lặp đi lặp lại gây nên.”
- Tính đơn điệu trong lao động là một hiện tƣợng tất yếu xảy ra do sự tiến bộ của kỹ thuật, đòi hỏi nhà quản lý phải phân chia nhỏ quá trình lao động, chuyên môn hoá trong lao động. Nó gây nên sự mất hứng thú đối với công việc, sự mệt nhọc xuất hiện sớm trong ngày làm việc, cảm giác ngày làm việc dài hơn.
ắ Cỏc biện phỏp ngăn ngừa ảnh hưởng ấu của cụng việc đơn điệu:
- Hợp nhất nhiều thao tác ít súc tích thành những thao tác phức tạp, đa dạng hơn - Luân phiên người lao động làm các thao tác lao động khác nhau
- Thay đổi nhịp độ của các động tác
- Đƣa chế độ lao động và nghỉ ngơi có cơ sở khoa học vào lao động và sử dụng
- Sử dụng các phương pháp lao động thẩm mỹ khác nhau trong thời gian lao động sản xuất, nhất là âm nhạc.
- Nghiên cứu sử dụng các hệ thống khen thưởng vật chất và tinh thần một cách chính xác.
Nhìn chung, Sự hoạt động của con người trong xã hội rất phong phú và đa dạng.
Nó không chỉ đóng khung trong một lĩnh vực lao động trí óc hoặc lao động chân tay, mà thường xuyên có sự kết hợp chặt chẽ với nhau. Vì vậy việc phân công lao động phải bảo đảm tính chất phong phú của nội dung, tính hấp dẫn của công việc, bảo đảm các điều kiện để phát huy những khả năng sáng tạo của con người, phải chú ý đến mặt hình thành khuynh hướng nghề nghiệp của mỗi người trong lao động.
Câu chuyện: kỹ sư F.Taylor và một số nghiên cứu của các nhà khoa học về phân công lao động
Khoảng cuối thế kỷ 19 đã tiến hành những thí nghiệm về vấn đề tổ chức lao động một cách khoa học nhằm nâng cao năng suất lao động. Ông chia thao tác lao động thành những đơn vị đơn giản để loại bỏ những động tác thừa nhằm thực hiện công việc một cách nhanh nhất; định mức lao động; thạo việc gì làm việc đó, có tiêu chuẩn từng nghề để tuyển chọn công nhân, phân công lao động theo hướng chuyên môn hoá, cải tiến công cụ theo hướng mỗi loại công việc phải có dụng cụ tốt nhất, phân công lao động một cách rõ ràng. Việc cải tiến của Taylor mặc dù phải chi thêm những khoản tiền để tạo ra các điều kiện lao động mới nhưng thời gian bốc dỡ một tấn hàng đã giảm từ 7 - 8 giờ xuống 3 - 4 giờ, số công nhân trong nhà kho giảm từ 500 xuống còn 140 người. Như vậy lãi suất nhà tư bản thu được rất lớn. Ngoài ra cũng có một số nhà khoa học khác đã có những cuộc nghiên cứu khác. F.B.Gilbret nghiên cứu hợp lý hoá các động tác lao động, đã đưa ra một số kỹ thuật phân tích mới (chụp ảnh và quay phim các thao tác lao động). Ông đã xác định được 17 nhân tố tác động trong các thao tác lao động. Năm 1911 ông đã xuất bản cuốn sách “Nghiên c ứu các động tác, kinh nghiệm tăng cường hiệu suất lao động của công nhân”. R.M.Barmes tiếp tục nghiên cứu theo hướng của Gilbret năm 1937 ông xác lập được nguyên tắc tiết kiệm động tác và 22 quy tắc hợp lý hoá động tác lao động. I.M.Xêtrênốp từ năm 1901 -
tâm lý quyết định chất lượng của quá trình lao động, xác định các tiêu chuẩn về thời gian tối ưu của một ngày lao động. Ông là người đặt nền móng cho học thuyết về sự nghỉ ngơi tích cực, mà hiện nay sinh lý học lao động và Tâm lý học lao động dựa vào đó để chống lại sự mệt mỏi. Năm 1905 - F.Kraepelin đã đề xuất việc đo đạc sự mệt mỏi và sử dụng các phương pháp thực nghiệm vào nghiên cứu lao động. Năm 1910 - J.M Lahy quan tâm đến các điều kiện lao động của công nhân sắp chữ, tìm tòi các dấu hiệu khách quan của sự mệt mỏi trong lao động trí óc.