Thực trạng và thực tiễn pháp luật về quyền thay đổi họ, tên

Một phần của tài liệu Quyền đối với họ, tên theo pháp luật Việt Nam (Trang 74 - 82)

Quyền thay đổi họ và quyền thay đổi tên là một trong những quyền nhân thân thân của con người. Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không th chuy n giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.

Khác với BLDS 2005, Bộ luật dân sự năm 2015 đã tách riêng quyền thay đổi họ và quyền thay đổi tên thành 02 điều. Đ phù hợp hơn với cách xác định họ, tên.

Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định cụ th từng trường hợp được phép thay đổi họ, trường hợp được phép thay đổi tên. Được quy định tại Điều 27 và Điều 28 Bộ luật dân sự năm 2015, các quy định của BLDS năm 2015 theo hướng tách các trường hợp đổi họ và tên đã được tách thành hai quy định riêng biệt với nhiều quy định cụ th , chi tiết hơn; Phân định rõ trường hợp con đẻ và con nuôi; Quy định các trường hợp trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đ phù hợp với pháp luật của nước sở tại; Bổ sung trường hợp thay đổi họ do cha, mẹ thay đổi họ;

Bộ luật dân sự 2015 đã công nhận việc chuy n đổi giới tính; do đó, những đối tượng chuy n đổi giới tính cũng được ưu tiên chuy n đổi đ việc sinh hoạt phù hợp hơn.

69 Thứ nhất, các trường hợp thay đổi họ

Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ trong trường hợp sau:

BLDS năm 2015 đã quy định rõ các trường hợp thay đổi họ cho con đẻ từ họ của cha đẻ sang họ của mẹ đẻ hoặc ngược lại; Thay đổi họ cho con nuôi từ họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ sang họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi. Khi người con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại họ cho người đó theo họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ. Thay đổi họ cho con theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc của con khi xác định cha, mẹ cho con. Đối với trường hợp thay đổi họ của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình. Thay đổi họ của con khi cha, mẹ thay đổi họ. Đây là những quy định mang tính tiến bộ và phù hợp với tình hình phức tạp của thực tiễn.

Thay đổi họ theo họ của vợ, họ của chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đ phù hợp với pháp luật của nước mà vợ, chồng người nước ngoài là công dân hoặc lấy lại họ trước khi thay đổi. Đây là trường hợp mới được đưa vào BLDS năm 2015 bởi lẽ trong giai đoạn hiện nay, tình trạng kết hôn với người nước ngoài diễn ra nhiều hơn so với trước đây. Pháp luật đưa vào cũng đ phù hợp với một số quy định của các luật có liên quan.

Cuối cùng là các trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.

Thứ hai, các trường hợp thay đổi tên

Bộ luật dân sự 2015 đã có những quan đi m và tư tưởng tiến bộ khi tách quyền thay đổi họ và quyền thay đổi tên ra thành hai điều khoản. Bởi vì, chỉ có tên mới rơi vào trường hợp nhầm lẫn, gây ảnh hưởng đến gia đình, còn họ thì là họ của dòng họ không rơi vào trường hợp này. Tại khoản 1 Điều 28 BLDS 2015 quy định:

thay đổi tên theo yêu cầu của người có tên mà việc sử dụng tên đó gây nhầm lẫn,

70

ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó. Việc đổi tên cũng có th đổi khi rơi vào trường hợp: theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi về việc thay đổi tên cho con nuôi hoặc khi người con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại tên mà cha đẻ, mẹ đẻ đã đặt.

Theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc người con khi xác định cha, mẹ cho con. Thay đổi tên của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình. Tương tự như việc đổi họ, BLDS năm 2015 cũng quy định: Thay đổi tên của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đ phù hợp với pháp luật của nước mà vợ, chồng người nước ngoài là công dân hoặc lấy lại tên trước khi thay đổi. Đồng thời quy định trường hợp: thay đổi tên của người đã xác định lại giới tính, người đã chuy n đổi giới tính. Bộ luật dân sự 2015 đã quy định trường hợp được chuy n đổi giới tính theo quy định tại Điều 37 BLDS năm 2015 chính vì vậy, quy định về họ tên cũng phải được quy định bổ sung trường hợp này đ tạo điều kiện thuận lợi cho những người chuy n đổi giới tính. Cuối cùng, BLDS năm 2015 vẫn quy định có th đổi tên trong các trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.

Như vậy, việc tiếp tục ghi nhận quyền thay đổi họ tên trong BLDS năm 2015 có vai trò quan trọng trong đời sống dân sự. Về ưu đi m: Quyền thay đổi họ, tên được quy định một cách cụ th , rõ ràng trong bộ luật, vừa góp phần cụ th hóa những quyền cơ bản của công dân đã được quy định trong hiến pháp, vừa góp phần tích cực giúp cho quyền nhân thân được củng cố và đảm bảo thực hiện trong cuộc sống. Về hạn chế: Nhiều người đã dựa vào quy định này đ thực hiện các hành vi trái pháp luật. Trên thực tế, có những trường hợp cá nhân xin thay đổi họ, tên với dụng mưu nhằm trốn tránh nghĩa vụ dân sự nào đó đã được xác lập đối với cá nhân mình. Đ đề phòng trường hợp này, nhà nước ta có quy định tại khoản 3 Điều 27 BLDS.

Thứ hai, về thẩm quyền thay đổi họ, tên

71

Thẩm quyền cải chính hộ tịch được quy định tại Điều 27 và Điều 46 Luật hộ tịch năm 2014 như sau:

- Nơi có thẩm quyền đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch là Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký khai sinh và đổi họ, tên trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi; bổ sung hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước.

- Đối với cá nhân người nước ngoài có quyền đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch trong trường hợp cá nhân đã đăng ký khai sinh ở tại ủy ban huyện thì ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đăng ký khai sinh hoặc nơi cư trú của người nước ngoài có thẩm quyền giải quyết việc cải chính, bổ sung hộ tịch đối với người nước ngoài đã đăng ký khai sinh và đổi họ, tên tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

- Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã đăng ký khai sinh và đổi họ, tên trước đây có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc.

- Đối với công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú trong nước: Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đã đăng ký khai sinh và đổi họ, tên trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú ở trong nước.

Như vậy, Ủy ban nhân dân là nơi đăng ký thay đổi họ tên thì cũng chính là nơi có quyền thay đổi họ tên. Cá nhân chưa đủ 14 tuổi thì có th đăng ký thay đổi họ tên tại Ủy ban nhân dẫ xã nơi đăng ký khai sinh trước đây. Trong trường hợp phúc tạp hơn thì thẩm quyền cải chính hộ tịch cho bạn là Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đã đăng ký khai sinh và đổi họ, tên trước đây làm thủ tục này. Các trường hợp phức tạp hơn như trường hợp người nước ngoài đã đăng ký khai sinh ở Việt

72

Nam mà có nhu cầu thay đổi họ tên, hoặc trường hợp công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cũng đăng ký thay đổi họ tên tại Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Thủ tục này là một trong những thủ tục thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch được quy định tại Điều 7 Nghị định 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật hộ tịch, theo quy định tại Điều 7 Nghị định 123/2015/NĐ-CP thì đ thay đổi cải chính hộ tịch cho người dưới 18 tuổi cần đáp ứng đủ các điều kiện về sự đồng ý của cha mẹ, việc cải chính sửa đổi phải được chỉnh sửa trong sổ hộ tịch hoặc trong bản chính giấy tờ hộ tịch và chỉ được thực hiện khi có sai sót là lỗi của cán bộ làm công tác hộ tịch.

Cụ th :

Điều 7. Điều kiện thay đổi, cải chính hộ tịch

1. Việc thay đổi họ, chữ đệm, tên cho người dưới 18 tuổi theo quy định tại Khoản 1 Điều 26 của Luật Hộ tịch phải có sự đồng ý của cha, mẹ người đó và được thể hiện rõ trong Tờ khai; đối với người từ đủ 9 tuổi trở lên thi còn phải có sự đồng ý của người đó.

2. Cải chính hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch là việc chỉnh sửa thông tin cá nhân trong Sổ hộ tịch hoặc trong bản chính giấy tờ hộ tịch và chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ để xác định có sai sót do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc của người yêu cầu đăng ký hộ tịch.

Cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi họ, tên là Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh trước đây, Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh trước đây có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người dưới 14 tuổi và bổ sung hộ tịch cho mọi trường hợp, không phân biệt độ tuổi;

Người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký khai sinh và đổi họ, tên.

73

Trong thời hạn 03 ngày làm việc k từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc thay đổi, cải chính hộ tịch là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.

Về hồ sơ, theo quy định tại Khoản 1 Điều 38 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 06/2012/NĐ-CP) thì hồ sơ bao gồm:

Tờ khai (theo mẫu), bản chính giấy khai sinh, các giấy tờ liên quan đ làm căn cứ cho việc thay đổi (chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu…). Ngoài các giấy tờ trên, còn phải có văn bản th hiện sự đồng ý của cả cha và mẹ về việc đổi họ, tên.

K từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, trong thời hạn 3 ngày, cán bộ tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đã đăng ký khai sinh trước đây và quyết định về việc thay đổi họ, tên. Chủ tịch UBND cấp xã ký và cấp một bản chính quyết định về việc thay đổi họ, tên cho con. Trường hợp cần phải xác minh, thời hạn giải quyết được kéo dài thêm không quá 5 ngày. Trường hợp đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch không phải tại nơi đăng ký khai sinh và đổi họ, tên trước đây thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Ủy ban nhân dân nơi đăng ký khai sinh và đổi họ, tên trước đây đ ghi vào Sổ hộ tịch.

Trường hợp nơi đăng ký khai sinh và đổi họ, tên trước đây là Cơ quan đại diện thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Bộ Ngoại giao đ chuy n đến Cơ quan đại diện ghi vào Sổ hộ tịch.

Như vậy, cá nhân mong muốn thay đổi họ tên cần căn cứ vào các căn cứ pháp lý trên đ thực hiện thủ tục đổi tên khai sinh của mình thì bạn có th chuẩn bị những hồ sơ như phiếu yêu cầu thay đổi họ, tên, bản chính giấy khai sinh và các giấy tờ

74

liên quan cần thay đổi như sổ hộ khẩu, ... nộp lên cơ quan quản lý hộ tịch thuộc UBND cấp huyện nơi bạn có hộ khẩu thường trú đ được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật. Trong vòng 03 ngày k từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ của bạn thì cơ quan có thẩm quyền sẽ giải quyết việc thay đổi họ, tên.

Thứ ba, hệ quả pháp lý khi thay đổi họ tên

Theo quy định tại khoản 3 Điều 28 BLDS năm 2015 quy định: 3. Việc thay đổi tên của cá nhân không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập theo tên cũ. Tuy nhiên, trên thực tế, khi thay đổi họ tên, cá nhân sẽ bị ảnh hưởng đến các giấy tờ bản thân như giấy chứng minh nhân dân, giấy tờ tùy thân khác như sổ học bạ, bằng lái xe hay các giấy tờ chứng minh về tài sản. Chính vì vậy, hệ quả pháp lý khi thay đổi họ tên đối với cá nhân đã đủ 18 tuổi là có phần nghiêm trọng.

2.2.2. Thực tiễn áp dụng quy định về quyền thay đổi họ, tên của cá nhân

Pháp luật đã quy định rất rõ ràng về quyền thay đổi họ, tên của cá nhân. Tuy nhiên, quyền thay đổi họ, tên của cá nhân là quyền đổi họ, tên thường dùng sang họ, tên mới. Tuy nhiên, không phải không có giới hạn đối với khả năng này của các cá nhân. Không phải mọi hoàn cảnh, cá nhân đều được thay tên đổi họ theo ý kiến của mình.

Trên thực tế, nhu cầu thay đổi họ, tên của cá nhân là rất phổ biến. Chủ yếu việc thay đổi họ, tên rơi vào trường hợp đầu tiên được quy định trong luật là trường hợp thay đổi theo yêu cầu của người có họ, tên mà việc sử dụng họ, tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó. Thực tế cho thấy rằng rất nhiều trường hợp ông bà bố mẹ tự ý đặt tên cho con mình những cái tên phản cảm (như đã phân tích ở mục trên). Ông bà đặt tên cho cháu. Hoặc có những trường hợp bố mẹ đặt tên con theo các sự kiện.

75

Nhiều người cho rằng việc đổi tên khai sinh sẽ rất phức tạp nhưng cũng có nhiều trường hợp đơn giản. Có trường hợp tên khai sinh là Nguyễn Thòn Hấn Tuyết, nhưng vì từ nhỏ đến lớn cá nhân cảm thấy không thoải mái với tên này lắm, đi học bị bạn bè trêu chọc, vì cũng muốn tiện cho cuộc sống cũng như công việc sau này nên mình đã quyết định đi thay đổi tên khai sinh. Bố mẹ mình cũng đồng ý vì cũng cảm thấy tên mình có vấn đề (trước đây do ông bà nội đặt). Cá nhân đã lên UBND xã (hoặc phường) - nơi mà ba mẹ mình đăng kí tên khai sinh cho mình trước đây và điền tờ khai ở đó rồi nộp lại cho họ, mọi người nhớ mang theo giấy khai sinh bản chính và các giấy tờ chứng minh nhé (sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân, các giấy tờ chứng minh tên dễ gây nhầm lẫn, khó đọc). Sau đó họ sẽ giải quyết trong vòng 5 ngày nếu làm đúng và đầy đủ thủ tục, nếu cần bổ sung thì thêm thì thời gian thêm không quá 5 ngày. Tiếp đó cá nhân tiếp tục lên UBND đ xác nhận và thế là thủ tục đã hoàn thành thủ tục đổi tên.

Trường hợp anh A đổi tên cho con vì lý do không hợp phong thủy, con hay ốm. Theo cán bộ tư pháp thì đổi tên vì “phong thủy” không có trong quy định. Hơn nữa, cháu Gia Bảo mới 2 tuổi, chưa đủ năng lực hành vi dân sự đ “có yêu cầu đổi tên”. Khi đến gặp cán bộ tư pháp, các phụ huynh đều nêu lý do tên con bị trùng với cụ, kỵ trong dòng tộc, tuy nhiên, lý do thật sự thường là tên đó con không khỏe, không hợp phong thủy hoặc thấy tên chưa đẹp, tên nghe đanh đá.

Có trường hợp sau: Chị L.P.A, quận Ba Đình sinh đôi được 2 người con gái đặt tên là Ánh Như và My An, theo chị P.A, cháu lớn tên Ánh Như thường gặp điều xui xẻo, không được may mắn như em gái, nên muốn đổi tên. Trong khi đó, chị Trần T.T, nhà ở huyện Đông Anh, Hà Nội cho hay, con trai chị tên là Cường, chồng chị tên là Dương. Lúc đầu, khi đặt tên cả nhà không đ ý nhưng sau này khi gọi tên con và chồng “Cường - Dương” thấy không hay nên muốn con trai có một tên khác.

Anh L.M.H, nhà ở phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ k với Thanh Niên, con gái

Một phần của tài liệu Quyền đối với họ, tên theo pháp luật Việt Nam (Trang 74 - 82)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(111 trang)