Ở nước ta, đầu thế kỷ XIII, nhà Trần lên cầm quyền thay thế nhà Lý, quan hệ đối ngoại với nhà Tống vẫn tiếp tục bình thường, mặc dầu cĩ dấu hiệu trục trặc lúc ban đầu. Nhà Trần được thiết lập đầu năm 1226. Nhà Tống (Trung Quốc) khơng chấp nhận quan hệ ngoại giao với nhà Trần, ý muốn kiếm chuyện với ta, nhưng cịn do dự, vì sự thất bại của nhà Tống thời Lý Thường Kiệt cịn ám ảnh vua tơi nhà Tống, chưa quên được.
Năm 1229, Trần Thái Tơng cho sứ sang Tống cầu phong. Nhà Tống khơng đáp lại. Nhà Trần khơng cần và cũng khơng cĩ quan hệ gì thêm. Nhưng Tống cũng khơng yên ổn để cĩ thái độ trịch thượng lâu dài đối với ta. Đến năm 1232, người Mơng Thát đã bắt đầu xâm lược Trung Quốc, sau đĩ thống trị Trung Quốc, lập nên triều đại nhà Nguyên. Trước hết họ đánh phá nước Kim, lúc ấy là một nửa lãnh thổ Trung Quốc về phía bắc. Năm 1234, Mơng Thát chiếm đĩng cả nước Kim và bắt đầu đe dọa nước Tống, lúc ấy là nửa phía nam Trung Quốc.
Năm 1234, Mơng Thát cho hai đạo quân tiến đánh Tống, một đạo đánh xuống Tương Dương, Phàn Thành; một đạo tiến xuống Thành Đơ (Tứ Xuyên). Đầu năm 1236, Mơng Thát đánh Thành Đơ. Cuối năm 1236, nhà Tống phải đặt quan hệ giao hảo với nhà Trần, họ cho sứ mang các thư phong vương cho vua Trần. Sự giao hảo vội vàng của nhà Tống với ta cho thấy những lo ngại của họ trước cuộc chiến tranh xâm lược ồ ạt của Mơng Thát vào đất Tống và chung quanh đất Tống. Cho sứ sang gấp nước ta, nhà Tống muốn tranh
thủ quan hệ hữu hảo với ta, phịng trước sự tiếp xúc của Mơng Thát với ta, cĩ thể bất lợi cho Tống.
Hành động thân thiện của nhà Tống là một bảo đảm cho ta khơng cĩ gì phải lo đối phĩ với Tống, mà cái chính phải lo tính lúc ấy là cuộc xâm lược của Mơng Thát đang ngày càng mở rộng và tiến sâu xuống phía nam. Những biến động trên đất Tống, do sự thâm nhập của quân Mơng Thát, cĩ thể ảnh hưởng tới nền an ninh biên giới nước ta. Và cũng rất cĩ thể Mơng Thát đưa chiến tranh xâm lược của chúng vào nước ta. Cho nên về đối ngoại lúc này, ta phải lo đối phĩ với Mơng Thát là chủ yếu.
Từ năm 1236, sau khi đánh Thành Đơ, quân Mơng Thát tiến dần xuống phía nam, thường cho du binh đột nhập vùng Quảng Đơng, Quảng Tây cướp phá rồi rút đi, gây tình hình rối ren cao độ ở miền nam nước Tống. Giặc cướp nổi lên khắp nơi, quan, tướng nhà Tống ở đây khơng sao trấn trị được.
Cuối năm 1240, giặc cướp trên đất Tống tràn qua biên giới vào vùng Lạng Giang (tức Lạng Sơn) giết người cướp của. Viên quan trấn thủ Lạng Giang đưa tin cáo cấp triều đình. Đây chưa phải là giặc Mơng Thát mà là người nước Tống, một nước cịn quan hệ thân thiện với ta. Triều đình nhà Trần cĩ thái độ và phương hướng xử trí thích đáng, cương quyết khơng dung thứ mọi hành động xâm lấn từ bên ngồi, bất luận kẻ xâm lấn là ai. Sử cũ ghi: "Nhà vua sai thị thần là Bùi Khâm đi trù liệu sắp xếp việc này", "đi chỉnh lý cơng việc biên thùy ở mặt bắc". Thực chất của sự việc là Bùi Khâm được lệnh cầm quân lên Lạng Giang dẹp giặc và củng cố biên phịng.
Một năm sau (1241), giặc cướp bên Tống lại tràn sang cướp phá miền biên giới nước ta. Triều đình nhà Trần cho đốc tướng Phạm Kính An đem quân lên biên giới đánh giặc. Chính vua Trần lúc ấy là Trần Thái Tơng cũng tự cầm đầu một đạo quân, theo đường thủy tiến ra vùng biển Quảng Ninh. Vua Trần đưa quân vượt biên thùy, sang hẳn đất Tống để đánh giặc cướp trên suốt một dải ven biển, từ trại Vĩnh Bình lên Khâm Châu, Liêm Châu rồi mới trở về. Hành động quân sự này của vua Trần vừa giúp Tống đánh dẹp giặc cướp, bảo đảm an ninh miền biên giới nước ta vừa tạo điều kiện cho vua Trần và các tướng lĩnh
đi cùng hiểu sâu hơn tình hình quân dân Tống, thấy được tận mắt khả năng tiến triển của cuộc chiến tranh Mơng - Tống, từ đĩ định ra sách lược của ta để đối phĩ với cả hai bên Mơng và Tống, khi chiến tranh lan tới biên giới nước ta.
Tình hình an ninh ở miền nam nước Tống ngày càng xấu. Quan lại nhà Tống vùng này bất lực. Quân ta rút về thì giặc cướp lại hồnh hành, lại xâm phạm biên giới nước ta. Nhà Trần thấy cần phải hành động mạnh mẽ, kiên quyết hơn. Năm 1242, vua Trần cho tướng đưa quân lên đĩng tại lộ Bằng Tường thuộc đất Tống, cách biên giới nước ta chừng vài chục ki-lơ-mét. Khi quân của triều đình nhà Tống xuống đảm nhiệm được việc giữ gìn trật tự miền biên giới thì quân ta rút về.
Do đấy miền biên giới nước ta và Tống tạm yên. Nhưng miền biên giới nước ta giáp Vân Nam thì dần dần biến động nghiêm trọng.
Vân Nam thời đĩ chưa phải là đất Trung Quốc, mà là lãnh thổ của một số dân tộc độc lập, trong đĩ cĩ nước Đại Lý ở liền sát biên giới nước ta. Giữa ta và Đại Lý trải mấy trăm năm, quan hệ biên giới được duy trì tốt. Nếu Mơng Thát đánh chiếm Đại Lý thì miền biên giới nước ta giáp Đại Lý sẽ bị uy hiếp nghiêm trọng. Mà Đại Lý mất nước là điều khơng tránh được. Quân Mơng Thát đánh Vân Nam từ năm 1253. Tới năm 1257, vùng Vân Nam về cơ bản đã nằm dưới quyền thống trị của quân xâm lược và nước ta bắt đầu chung đường biên giới với Mơng Thát ở mạn tây bắc. Ngay năm đĩ (1257), vừa chiếm đĩng được Vân Nam, tướng Mơng Thát là Ngột Lương Hợp Thai vội cho sứ sang triều đình nhà Trần, lấy biện pháp đe dọa ngoại giao để mở đường xâm lược nước ta.
Tháng 9 năm 1257, sứ của Ngột Lương Hợp Thai tới trước cửa ải nước ta. Sử cũ ghi "Tháng tám năm Đinh Tỵ (khoảng tháng 9 năm 1257), chủ trại ở Quy Hĩa là Hà Khuất cho chạy trạm về triều tâu là cĩ sứ Nguyên tới".
Được tin báo, triều đình nhà Trần lệnh cho sứ nhập cảnh và đưa sứ vào triều. Sử cũ khơng ghi chi tiết gì về việc sứ Nguyên, tức sứ Mơng Thát tới Thăng Long. Nhưng quân giặc vốn ỷ vào sức mạnh áp đảo của chúng, thường dùng đe dọa ngoại giao kết hợp với tiến cơng quân sự để lấy thành, cướp nước của người. Trải mấy chục năm đánh đơng cướp tây
mỗi khi quân Mơng Thát cho sứ đi tới đâu thì nơi đấy thường khiếp sợ, cúi đầu dâng đất xin hàng hoặc xưng thần nộp cống. Nhưng sứ Mơng Thát tới Đại Việt tình hình lại khơng thế. Mơng Thát dùng đe đọa ngoại giao để vào Đại Việt thì Đại Việt lấy trấn áp ngoại giao đáp lại. Triều đình nhà Trần đã tống giam bọn sứ Mơng Thát.
Thấy sứ đi khơng về, Ngột Lương Hợp Thai khơng khỏi chột dạ và bực tức, nhưng cũng khơng dám vội vã ra quân. Viên tướng này cho sứ sang ta lần thứ hai, hy vọng cĩ thể đe dọa dụ hàng được ta, để chúng đỡ hao binh tổn tướng. Nhưng sứ đi lần thứ hai, tới được Thăng Long, cũng bị tống giam như bọn sứ lần thứ nhất.
Thấy thất bại về ngoại giao, Ngột Lương Hợp Thai quyết định tiến cơng quân sự Đại Việt. Nhưng, khi đưa quân tới biên giới, Ngột Lương Hợp Thai lại cho sứ sang ta. Lần này tập trung quân ở biên giới làm áp lực cho đe dọa ngoại giao, Ngột Lương Hợp Thai tưởng rằng dân tộc ta sẽ phải khiếp sợ, khuất phục, đầu hàng. Nhưng khơng, sứ giả của nhà Mơng Cổ sang ta lần thứ ba cũng khơng gì may mắn hơn, cũng bị đưa vào giam trong ngục như những sứ giả của hai lần trước. Đe dọa ngoại giao thất bại, khơng cĩ kết quả gì mà lại mất người, mất cả uy danh, Ngột Lương Hợp Thai đưa quân vượt biên giới Vân Nam đánh sang ta.
Nhà trần chủ trương để cho giặc vào thẳng Thăng Long. Nhưng tuy vào được Thăng Long mà giặc lại khiếp sợ. Chúng khơng ngờ Thăng Long là Quốc đơ mà lại bỏ ngỏ, khơng một bĩng người. Lùng sục khắp - nơi, chúng chỉ thấy mấy tên sứ giả của chúng bị trĩi nằm trơ trong nhà ngục. Hăm hở tiến đánh Thăng Long để cướp giết, nhưng vào được Thăng Long thì lương khơng, người vắng. Đưa quân vào đĩng trong một kinh thành trống rỗng, khơng người, khơng lương ăn, là họa lớn của các đạo quân viễn chinh xâm lược. Chúng phải đưa quân ra đĩng ở ngồi thành Thăng Long. Nhưng dù ở trong thành hay ngồi thành, giặc cũng đã sa vào cái thế cơ quân trong một vùng thành khơng, nhà trống. Lương ăn năm bảy ngày đã cạn. Lương cạn thì quân đĩi. Quân đĩi thì khơng cịn làm gì được nữa. Ngột Lương Hợp Thai phải từ bỏ mọi mưu đồ quân sự, phải vận dụng ngoại giao cầu hịa, để được đem quân an tồn trở về nước.
Triều đình nhà Trần khơng chấp nhận lời cầu hịa của giặc, cho trĩi sứ đuổi về trại giặc. Quân ta tổ chức một trận tập kích lớn, đánh vào tồn bộ quân giặc. Giặc khơng chống đỡ nổi, thiệt hại nặng, phải dồn tồn lực đem tàn quân chạy về nước.
Nhưng khơng phải vì thua trận như thế mà quân Mơng Cổ từ bỏ mưu đồ xâm lược nước ta. Với bản chất hung hãn, hiếu chiến, đối với các nước ngồi, quân Mơng Cổ chỉ cĩ đánh phá, xâm lược; xâm lược một lần khơng được thì xâm lược lần thứ hai, thứ ba; khơng giao hảo, hữu nghị với một nước nào, một dân tộc nào. Đối với nước ta, quân Mơng Cổ tất nhiên khơng đi ra ngồi đường lối đối ngoại bạo ngược đĩ. Mục tiêu xâm lược của chúng lúc ấy là chiếm đĩng tồn bộ Trung Quốc. Vân Nam hay Đại Việt chỉ là tiện đường đánh thì đánh. Đánh chưa được thì hãy để đấy nhưng khơng bỏ hẳn. Chúng sẽ thường xuyên tiếp xúc với ta. Tiếp xúc để dị xét tình hình, để đe dọa, uy hiếp, ép buộc ta quy phục, làm nhụt tinh thần, nhuệ khí của ta, tạo điều kiện thuận lợi cho một cuộc chiến tranh xâm lược sau. Vì vậy địch chủ động hịa hỗn và đặt quan hệ ngoại giao chặt chẽ với ta.