Bảng 2.16 : Kiểm tra chi lương sau ngày khóa sổ
3.2. Nhận xét về kiểm toán tiền lương và các khoản trích theo lương do
công ty TNHH Kiểm toán APEC thực hiện
3.2.1. Ưu điểm
Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Bên cạnh sự cân nhắc giữa doanh thu và chi phí thì chất lượng kiểm toán được đặt lên hàng đầu. Vì vậy việc lập kế hoạch kiểm toán được thực hiện kĩ lưỡng nhằm giảm thiểu tối đa rủi ro kiểm toán. Công ty luôn thu thập tài liệu về khách hàng, kiểm toán viên và trợ lí kiểm toán đều được cập nhật thông tin liên quan đến chế độ tài chính.
Ở giai đoạn này, công việc đầu tiên mà APEC thực hiện là đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán, nhận diện lí do kiểm toán thông qua việc tiếp cận với khách hàng, từ đó xây dựng chiến lược kiểm toán và lập kế hoạch kiểm toán. APEC chủ trương thực hiện tốt ngay từ khâu đầu để việc lập kế hoạch kiểm toán đạt hiệu quả cao, tạo điều kiện cho sự thành công của toàn bộ cuộc kiểm toán. Công tác tiếp cận khách hàng được APEC thực hiện nhanh gọn thông qua một số thủ tục như phỏng vấn, quan sát và thu thập tài liệu về khách hàng.
Hiện nay, APEC xây dựng cho mình một chương trình kiểm toán BCTC chung trên cơ sở vận dụng một cách linh hoạt chương trình kiểm toán mẫu của VACPA, tuy nhiên điều đó không có nghĩa mọi cuộc kiểm toán đều được tiến hành như nhau. Đối với từng cuộc kiểm toán, kiểm toán viên căn cứ vào đặc điểm và tình hình thực tế phát sinh tại mỗi đơn vị khách hàng để vận dụng linh hoạt chương trình kiểm toán này cho phù hợp với khách hàng đó. Thực tế tại Công ty XYZ, do là khách hàng thường xuyên nên kiểm toán viên căn cứ vào báo cáo kiểm toán năm trước để tiến hành thu thập những thông tin cần
thiết. Công việc này giúp cho nhóm kiểm toán lập được chương trình kiểm toán với các thủ tục và phương pháp kiểm toán phù hợp, xác định được thời gian cần thiết. Đồng thời công việc này cũng tạo điều kiện cho tổ chức phân công công tác cho các thành viên trong nhóm một cách có khoa học và hợp lí.
Giai đoạn thực hiện kiểm toán
Trong giai đoạn này, ưu điểm nổi bật trong công tác kiểm toán tiền lương và nhân viên do APEC thực hiện là: hợp các thủ tục kiểm toán khác nhau:
Khi thực hiện kiểm toán tiền lương và các khoản trích theo lương, kiểm toán viên đã kết hợp các thủ tục kiểm toán như thử nghiệm kiểm soát, thủ tục phân tích, thủ tục kiểm tra chi tiết. Vì các thủ tục này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nên khi kiểm toán viên kết hợp 3 thủ tục này sẽ đưa lại hiệu quả kiểm toán. Cụ thể, thử nghiệm kiểm soát là cơ sở để kiểm toán viên quyết định quy mô của các thử nghiệm cơ bản sau đó. Sử dụng kết quả của các thủ tục phân tích lại giúp cho kiểm toán viên xác định rõ hơn phạm vi của thủ tục kiểm tra chi tiết, lựa chọn các khoản mục trọng điểm để kiểm tra chi tiết nhằm tiết kiệm chi phí và thời gian thực hiện mà vẫn đảm bảo chất lượng cuộc kiểm toán.
Kết hợp giữa các phần hành kiểm toán khác: Khi thực hiện kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên, kiểm toán viên của APEC đã thực hiện đối chiếu với kết quả kiểm toán các phần hành khác như kiểm toán tiền, kiểm toán doanh thu, chi phí nhân công trực tiếp, kiểm toán TK phải thu nội bộ… Việc kết hợp như vậy sẽ làm giảm thiểu tổng khối lượng công việc kiểm toán, không gây trùng lặp với phần việc mà người khác đã làm, đem lại hiệu quả kiểm toán cao mà vẫn giảm được chi phí.
Kiểm soát chất lượng kiểm toán: Trong quá trình thực hiện kiểm toán, các kiểm toán viên luôn được giám sát chặt chẽ bởi trưởng nhóm kiểm toán và theo sát kế hoạch kiểm toán đã được lập. Tất cả các vấn đề nảy sinh trong quá trình kiểm toán đều được thông báo tới cả nhóm kiểm toán. Do thực hiện
kiểm toán theo chu trình nên các phần hành kiểm toán được liên kết chặt chẽ với nhau và được thường xuyên kiểm tra đối chiếu với nhau. Những công việc được thựchiện và kết quả được kiểm toán viên phản ánh trên giấy tờ làm việc và được đánh số tham chiếu một cách có hệ thống.
Giai đoạn kết thúc kiểm toán
Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán, kiểm toán viên thực hiện đầy đủ các công việc cần thiết: soát xét các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên độ, kiểm tra giấy tờ làm việc, lập Báo cáo kiểm toán, Thư quản lý. Do từ các bước đầu tiên trong quá trình thực hiện, kiểm toán viên đã tiến hành kỹ lưỡng và thận trọng với sự hợp tác nhiệt tình của khách hàng nên Báo cáo kiểm toán cũng như Thư quản lý luôn đáp ứng tối đa nhu cầu mong muốn của đơn vị và người sử dụng thông tin. Ngoài ra, việc duy trì quan hệ với các khách hàng luôn được Ban Giám đốc chú trọng.
Thông thường công việc kiểm toán kết thúc khi KTV lập xong Báo cáo kiểm toán. Tuy nhiên khi có một số vấn đề phát sinh liên quan đến việc điều chỉnh hay sửa đổi lại BCTC của khách hàng thì KTV vẫn có trách nhiệm xem xét lại từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho bản thân.
Tóm lại, các bước quy trình và các giai đoạn tiến hành một cuộc kiểm toán BCTC của APEC thể hiện tính khoa học cao, tuân thủ các Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam và Chuẩn mực Kiểm toán quốc tế được chấp nhận tại Việt Nam.
3.2.2. Nhược điểm
Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Nhìn chung các bước trong việc chuẩn bị kiểm toán của APEC luôn được đánh giá cao từ các chuyên gia và khách hàng. Tuy nhiên, khi đánh giá hệ thống KSNB Công ty mới chỉ đánh giá về hệ thống kiểm soát chung đối với mọi hoạt động của Công ty khách hàng, chưa đánh giá hệ thống KSNB cho từng chu trình mà chủ yếu chỉ dựa vào kinh nghiệm của kiểm toán viên để
đánh giá. Công việc này chỉ được thực hiện đối với những khách hàng kiểm toán năm đầu tiên, còn khách hàng thường xuyên thì chỉ được đánh giá lại khi có những thay đổi đáng kể trong năm kiểm toán. Ngoài ra, khi tìm hiểu về hệ thống KSNB, các kiểm toán viên của APEC thường ghi chép trên giấy làm việc của mình. Việc ghi chép mới chỉ dừng lại ở dạng liệt kê các thủ tục kiểm soát được áp dụng nên rất khó đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của hệ thống đó. Đặc biệt, đối với những khách hàng có hệ thống kiểm soát tương đối phức tạp thì phương pháp liệt kê này tỏ ra không hiệu quả. Hơn nữa, khi sử dụng phương pháp này cũng gây khó khăn cho người soát xét khi đánh giá công việc thực hiện của các kiểm toán viên.
Nhược điểm tiếp theo xuất phát từ điều kiện Công ty. Vì số lượng hợp đồng kiểm toán, khối lượng công việc khá nhiều, đặc biệt trong ‘’mùa kiểm toán’’, mặc dù công ty rất cố gắng trong công việc phân bổ và sắp xếp nhân viên, bố trí công việc để đảm bảo hiệu quả công việc cao nhất nhưng áp lực công việc vẫn là rất lớn và sức ép về thời gian hoàn thành công việc cũng lớn. Do vậy, tình trạng kiểm toán viên bị căng thẳng đầu óc , mệt mỏi về thân thể có thể sẽ ảnh hưởng nhất định đến chất lượng các cuộc kiểm toán.
Giai đoạn thực hiện kiểm toán
Bên cạnh ưu điểm, công tác kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên tại APEC còn tồn tại những khuyết điểm trong các bước như: Thực hiện các thủ tục phân tích một cách sơ lược, tiến hành chọn mẫu theo xét đoán nghề nghiệp với số phát sinh lớn, áp dụng công nghệ thông tin còn hạn chế.
Đặc biệt là tồn tại việc áp dụng phương pháp kiểm tra ngoài chứng từ. Cụ thể là phương pháp điều tra, việc tiến hành điều tra, khảo sát việc chấm công chưa được thực hiện. Điều này có thể ảnh hưởng đến sự chính xác của số liệu tiền lương và ảnh hưởng đến các thông tin trên báo cáo tài chính. Thực tế điều này mất nhiều thời gian trong khi đó thời gian kiểm toán rất hạn hẹp và cũng rất tốn kém ảnh hưởng đến chi phí kiểm toán.
Khó khăn cũng xuất phát từ phía khách hàng như năng lực của kế toán và nhận thức về tầm quan trọng của kiểm toán đối với doanh nghiệp. Do không hiểu được mục đích của công việc kiểm toán nên còn nhiều doanh nghiệp thiếu hợp tác giữa kế toán và KTV. Đồng thời hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng kém cũng làm hạn chế sự tiếp cận của kiểm toán, và thông tin từ khách hàng đó cũng thiếu sự tin cậy trong khi kiểm toán chỉ có thể phát hiện được rủi ro và hạn chế trong việc phát hiện ra những gian lận của khách hàng.