39 tuổi 4 0 49 tuổi > 50 tuổ

Một phần của tài liệu PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu KHOA học THỂ dục THỂ THAO (Trang 88 - 90)

- Thử nghiệm chạy Bumerang (Hình 8)

30- 39 tuổi 4 0 49 tuổi > 50 tuổ

1 Yếu 25 - 33,7 25 - 30,1 25 - 26,4 < 25

2 Bình thường 33,8 - 42,5 30,2 - 39,1 26,4 - 35,4 25 - 33,7 3 Tốt 42,6 - 51,5 39,2 - 48,0 35,5 - 45,0 33,8 - 43,0 4 Rất tốt 51,6 > 48,1 > 45,1 > 43,0 >

Đánh giá về độ linh hoạt các khớp

Độ linh hoạt các khớp, trong thực tế đó là giá trị giới hạn hoạt động của khớp (hoặc nhiều khớp). Độ linh hoạt khớp trong thể dục thể thao được thể hiện ở: khả năng về sức mạnh làm tăng tốc độ với dụng cụ (thí dụ: ném lao, đẩy tạ...); hoặc ở cấu trúc động tác, làm tăng khả năng tiết kiệm năng lượng (thí dụ: môn bơi) hoặc ở tính thẩm mỹ biên độ động tác rộng (thí dụ: môn thể dục).

Nội dung kiểm tra về độ linh hoạt khớp trong hoạt động thể thao, chủ yếu là về độ lớn hoạt động ở các khớp vai, xương sống và khớp hông.

Dưới đây là một số bài kiểm tra:

a. Quay khớp vai bằng gậy

Dùng 1 gậy thể dục dài l,5m. Hai tay nắm gậy ở trước bụng. Nâng gậy qua đầu ra sau lưng. Khoảng cách giữa hai nắm tay càng nhở thì độ linh hoạt khớp vai càng lớn.

b. Gập thân về trước

Đánh giá về độ linh hoạt cột sống. Đứng trên bục, gập thân về trước (thẳng chân) đầu ngón tay chạm vào bảng chia (cm) độ dài ở mức nào, đó là giá trị đo được (dừng 2 giây ở tư thế đó).

c. Từ nằm ngửa, uốn cầu

Đánh giá độ linh hoạt của cột sống. Người kiểm tra nằm ngửa, tì bàn tay xuống thảm ở ngang vai - cạnh đầu. Ưỡn thân, đẩy thẳng tay, nỗ lực đẩy tay chống bàn tay sấp xuống thảm và đưa về sát gần gót chân (gót chân phải tì trên thảm). Tiến hành kiểm tra theo hai cách: chân hơi co và dạng hoặc duỗi thẳng và khép chân.

Đo khoảng cách từ bàn tay tới gót chân ở hai tư thế: lúc đứng giơ tay cao (bẻ bàn tay về sau) và lúc uốn cầu. Trên cơ sở hai kết quả này sẽ tính ra chỉ số I (Index) theo công thức sau đây:

Trong đó: I: Chỉ số độ dẻo

a: Khoảng cách đo khi đứng b: Khoảng cách đo khi uốn cầu

d. Nâng chân lên cao - về trước

Đánh giá về độ linh hoạt tích cực của khớp hông. Người kiểm tra đứng cạnh thang dóng, vai vuông góc với thang dóng. Một bảng (bằng bìa) chia độ đặt sát

thang dóng. Vận động viên giơ chân về trước lên cao hết mức và giữ trong 5 giây. Đo góc độ mà hai chân tạo nên - qua bảng chia độ.

1.5. Đánh giá về khả năng phối hợp

Một định nghĩa chính xác về cơ cấu của khả năng phối hợp, cho tới nay là chưa thể có, bởi vì còn rất nhiều quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu về vấn đề này.

Bản thân khả năng phối hợp có quan hệ chi phối với: cấu trúc môn thể thao nhất định, trong hoàn cảnh nhất định và trình độ các tố chất thể lực cá nhân.

Nội dung kiểm tra đánh giá về khả năng phối hợp được phân chia làm ba nhóm: - Các thử nghiệm thăng bằng - điều hoà.

- Các thử nghiệm động lực tâm lý.

- Các thử nghiệm về đánh giá “khéo léo”.

Một số bài kiểm tra về thăng bằng

a. Thăng bằng tĩnh:

Đánh giá về khả năng điều hoà thăng bằng duy trì ở những vị trí - tư thế riêng biệt.

- Thăng bằng ở tư thế ngồi: Ngồi dạng chân, một tay chống phía sau, một tay giơ cao trên đầu, đỡ một chiếc gậy thể dục (dài 1,1m, đường kính 2,5cm) bằng hai ngón tay: ngón trỏ và ngón giữa, tính thời gian cho tới lúc gậy rơi (hoặc di động tư thế ngồi) hoặc tối đa là 1 phút. Kiểm tra 4 lần lấy trung bình của 2 lần tốt nhất.

- Thăng bằng 1 chân: Đứng bằng 1 chân trên thanh gỗ (cao 5cm, rộng 2cm) tay chống hông nhắm mắt trong 20 giây, làm 2 lần (2 x 20 giây). Tính tổng thời gian của cả hai lần làm được hoặc trong 40 giây có bao nhiêu lỗi (lỗi là: mở mắt, tay rời hông, chân chạm đất).

- Thăng bằng sau khi quay thân: Trong 3 giây quay 3 vòng (3 x 360°). Sau

đó nhắm mắt 1 chân nhấc lên cao để đứng thăng bằng, làm 5 lần mỗi lần 15 giây (bắt đầu mỗi lần đều bằng quay 3 vòng) giữa mỗi lần nghỉ 30 giây. Tính thời gian tổng cộng.

- Thăng bằng bass: Đánh giá khả năng thăng bằng tổng hợp (cả động và tĩnh lực) (Hình 10).

H.10

Cách tiến hành như sau: Theo hình vẽ trên đây.

Ở vòng xuất phát (xp) người kiểm tra đứng bằng mũi bàn chân phải bắt đầu nhảy sang vòng 1 bằng chân trái đứng mũi chân 5 giây. Tiếp theo chân phải sang

vòng ở mỗi vòng đều đứng thẳng bằng mũi chân 5 giây, tổng cộng 10 vòng là 50 giây, sao cho không mắc lỗi nào. Các lỗi là: chạm gót xuống đất, ra ngoài vòng tròn, tay hoặc chân thăng bằng chạm đất. Thực hiện 2 lần, lấy thành tích lần tốt nhất.

b. Thăng bằng động:

Nguyên tắc là duy trì một hoạt động nào đó hoặc thực hiện các nhiệm vụ với các điều kiện thăng bằng khó.

- Đi thăng bằng: Dùng một thanh gỗ (cao: 30 - 40cm, rộng 4,5cm, dài ít nhất là 4m) cũng có thể dùng cầu thăng bằng hoặc ghế băng thể dục lật ngược lên ở giữa đánh dấu 1 đoạn 2m. Trong vòng 45 giây nỗ lực đi đến quãng đường dài nhất, theo cách: vừa qua giới hạn đoạn 2m lập tức thay đổi hướng. Khi mắc lỗi, lần kiểm tra dừng và tính kết quả. Các lỗi đó là: rơi xuống đất hoặc chạm tay xuống thanh gỗ. Thực hiện 1 - 2 lần thử, sau đó đánh giá theo: Tổng kết quả của 3 lần, kết quả lần tốt nhất, trung bình của 2 lần tốt nhất (trong 3 lần).

- Đi trên bề mặt 6 cạnh.

Nối thành hình lục giác 6 thanh gỗ (dài 60cm, cao 13cm. rộng 2cm). Vận động viên cần đi trên bề mặt lục giác đó theo cách: ở mỗi thanh chỉ được bước 1 chân. Các lỗi là: rơi khỏi thanh gỗ hoặc cả 2 chân cùng chạm trên một thanh. Tính số bước cho tới khi phạm lỗi đầu tiên (ở mỗi bước không lâu quá 1 giây).

9.3.2. Các bài kiểm tra trạng thái tập luyện

Kiểm tra trạng thái tập luyện theo hướng đại chúng này có rất nhiều cách thức được tiến hành. Các test (các bài kiểm tra) có đặc điểm chung là khách quan, đáng tin cậy, không phức tạp, có hiệu quả cao.

Một số bài test - thử nghiệm thông dụng nhất:

Một phần của tài liệu PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu KHOA học THỂ dục THỂ THAO (Trang 88 - 90)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(139 trang)