Điều kiện tự nhiê n kinh tế, xã hội của huyện hoài đức

Một phần của tài liệu (LUẬN văn THẠC sĩ) tích hợp ảnh viễn thám và hệ thống thông tin địa lý đánh giá biến động đất đai trong quá trình đô thị hóa giai đoạn 2005 2014 huyện hoài đức thành phố hà nội (Trang 59)

4.1.1. Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1. Vị trí địa lý

Căn cứ Nghị định số 01/2006/NĐ-CP ngày 04/01/2006 của Chính phủ về việc Điều chỉnh địa giới hành chính, mở rộng thị xã Hà Đông tỉnh Hà Tây. Toàn bộ xã Dương Nội thuộc huyện Hoài Đức với 585,31 ha diện tích tự nhiên và 15.766 nhân khẩu chuyển về thị xã Hà Đông quản lý. Huyện Hoài Đức còn lại 8.245,16 ha diện tích tự nhiên và 169.566 nhân khẩu, có 20 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã An Khánh, An Thượng, Cát Quế, Dương Liễu, Di Trạch, Đông La, Đắc Sở, Đức Giang, Đức Thượng, Kim Chung, Lại Yên, La Phù, Minh Khai, Sơn Đồng, Song Phương, Tiền Yên, Vân Côn, Vân Canh, Yên Sở và thị trấn Trạm Trôi.

Huyện Hoài Đức nằm ở vị trí trung tâm thành phố Hà Nội sau khi mở rộng và nằm về phía Tây trung tâm Thành phố Hà Nội. Huyện Hoài Đức là một trong những địa phương mới được sát nhập vào thành phố Hà Nội năm 2008, có vị trí địa lý như sau:

Phía Bắc giáp huyện Đan Phượng, huyện Phúc Thọ; Phía Nam giáp quận Hà Đông, huyện Chương Mỹ; Phía Tây giáp huyện Quốc Oai, huyện Phúc Thọ;

Phía Đông giáp quận Nam Từ Liêm, quận Bắc Từ Liêm và quận Hà Đông.

Theo UBND huyện Hoài Đức (2014), Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.

Về mặt kinh tế, Hoài Đức có vị trí rất thuận lợi do ở gần các trung tâm kinh tế và thị trường tiêu thụ lớn như nội thành Hà Nội. Với trục Đại lộ Thăng Long đi qua, đây là điểm thay đổi bộ mặt của huyện. Trên địa bàn huyện còn có các tuyến giao thông lớn chạy qua như Quốc lộ 32, Tỉnh lộ 422, 423, 70 đây là điều kiện thuận lợi cho huyện. Có thể đánh giá vị trí địa lý, kinh tế - xã hội của huyện Hoài Đức như một yếu tố quan trọng tạo nên sự phát triển chung của thành phố Hà Nội.

Trong những năm tới, sự phát triển mạnh mẽ của thành phố Hà Nội nói chung và của huyện Hoài Đức nói riêng, cùng với hệ thống giao thông thuận tiện sẽ làm cho nền kinh tế của huyện có những bước phát triển vượt bậc.

4.1.1.2. Địa hình, địa mạo

Hoài Đức nằm trong khu vực châu thổ sông Hồng và sông Đáy, địa hình nghiêng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông được phân làm 2 vùng tự nhiên rõ rệt là vùng bãi ven sông Đáy và vùng nội đồng bởi đê Tả sông Đáy.

- Vùng bãi: Bao gồm diện tích chủ yếu của 10 xã: Minh Khai, Dương Liễu, Cát Quế, Yên Sở, Đắc Sở, Tiền Yên, Song Phương, An Thượng, Đông La, Vân Côn. Địa hình vùng này do ảnh hưởng bồi lắng của phù sa sông Đáy nên có những vùng trũng xen lẫn vùng cao do đó thường gây úng, hạn cục bộ. Độ cao mặt ruộng trung bình từ 6,5 – 9,0m và có xu hướng dốc từ đê ra sông.

- Vùng đồng: Bao gồm một phần diện tích các xã ven sông Đáy và toàn bộ diện tích của 9 xã và 01 thị trấn: Thị trấn Trạm Trôi, Đức Thượng, Đức Giang, Kim Chung, Di Trạch, Vân Canh, Sơn Đồng, Lại Yên, An Khánh, La Phù. Vùng này có địa hình tương đối bằng phẳng. Độ cao mặt ruộng trung bình từ 4 – 8m, vùng trũng xen lẫn vùng cao.

Đặc điểm địa hình này cho phép Hoài Đức có thể xây dựng cơ cấu kinh tế đa dạng bao gồm sản xuất nông nghiệp kết hợp với sản xuất công nghiệp và thương mại dịch vụ.

4.1.1.3. Khí hậu

Hoài Đức nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, 1 năm chia thành 4 mùa khá rõ nét với các đặc trưng khí hậu chính như sau:

Nhiệt độ không khí: Nhiệt độ trung bình năm từ 23,1- 23,5 0C, chia làm hai mùa. Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10. Mùa đông lạnh kéo dài từ tháng 11 đến

tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình tháng từ 15,7- 21,4 0C. Tháng 1 có nhiệt độ

trung bình thấp nhất là 15,7 0C.

Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm là 1.600 - 1.800 mm, phân bố trong năm không đều, mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 80 – 86% tổng lượng mưa cả năm (chủ yếu các tháng 7,8,9, lượng mưa ngày lớn nhất có thể tới 336,1mm). Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, tháng mưa ít nhất là tháng 12, tháng 1 và tháng 2 chỉ có 17,5 - 23,2 mm.

Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình năm là 83% - 85%. Độ ẩm không khí thấp nhất trong năm là các tháng 11, tháng 12, nhiều nhất là tháng 3, tháng 4, tuy nhiên chênh lệch về độ ẩm không khí giữa các tháng trong năm không lớn.

Gió: Hướng gió thịnh hành về mùa khô là gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Còn lại các tháng trong năm chủ yếu là gió Nam, gió Tây Nam và gió Đông Nam.

4.1.1.4. Thuỷ văn

Trên địa bàn huyện Hoài Đức có sông Đáy chảy qua, đây là phân lưu của sông Hồng, lưu đoạn sông chảy qua huyện dài 23 km. Lòng dẫn chảy tràn giữa 2 đê Tả Đáy và Hữu Đáy. Khoảng cách từ lòng sông vào đê trung bình 1,8km, đoạn sông rộng nhất thuộc xã Vân Côn khoảng 3,9 km.

Vào mùa kiệt, đoạn chảy qua huyện Hoài Đức dòng chảy rất nhỏ, chỉ có nước hồi quy từ các lưu vực Đan Hoài, Đồng Mô. Vào mùa mưa với tần suất xuất hiện đỉnh lũ của sông Đáy tại vùng Hoài Đức chỉ ngập lòng sông, còn trên bãi ảnh hưởng không đáng kể.

Với hệ thống sông như trên đã tạo cho huyện một nguồn cung cấp phù sa hàng năm cho vùng bãi bồi ven sông. Với tiềm năng đất bãi bồi ven sông này, trong tương lai sẽ được đầu tư cải tạo khai thác nguồn nước ngầm để phát triển nuôi trồng thuỷ sản và chuyển đổi cơ cấu trong nội bộ đất nông nghiệp.

Ngoài ra, huyện còn có hệ thống hồ đập lớn nhỏ, đảm bảo việc tưới tiêu cho diện tích đất canh tác, sản xuất nông nghiệp của huyện.

4.1.1.5. Tài nguyên đất

Nằm trong vùng châu thổ Sông Hồng nên đất đai của huyện được bồi lắng

tăng. Nhìn chung, đất nông nghiệp có độ phì cao, tầng đất dày nên có thể bố trí trồng nhiều loại cây ngắn ngày, dài ngày, cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả. Việc nâng cao hiệu quả của hệ thống thuỷ nông sẽ tạo khả năng tăng năng suất, thâm canh tăng vụ.

- Vùng bãi ngoài đê Sông Đáy thuộc nhóm đất phù sa bồi đắp có tổng diện tích 2.076 ha chiếm 31,9% tổng diện tích đất nông nghiệp toàn huyện; được phân bố trên địa bàn thuộc các xã Minh Khai, Dương Liễu, Cát Quế, Đắc Sở, Yên Sở, Tiền Yên, Song Phương, Vân Côn, Đông La, An Thượng.

Nhóm đất này được hình thành do phù sa cổ hệ thống Sông Hồng, phẫu diện mới hình thành có màu đỏ tươi, phân lớp theo thành phần cơ giới, đất tơi xốp, thành phần dinh dưỡng khá cân đối. Thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ, tỷ lệ cấp hạt sét trung bình là 15%, pH trung bình 7 - 7,5. Hàm lượng mùn ở mức trung bình đến giàu (< 1,2%) ở tầng canh tác và giảm dần theo chiều sâu; hàm lượng đạm và

lân tổng số ở mức thấp (N < 0,07%; P205); Kali ở mức độ trung bình 1,23%.

Nhìn chung đây là loại đất thích nghi với nhiều loại cây trồng khác nhau đặc biệt là cây ăn quả. Tuy nhiên khi thâm canh cây trồng nhiều vụ trong năm vẫn cần phải bón thêm phân chuồng và phân vô cơ để đảm bảo cân bằng dinh dưỡng trong đất.

- Vùng trong đồng gồm một phần hoặc toàn bộ diện tích 20 xã và thị trấn (trừ Vân Côn) chủ yếu được bơm tưới bằng nước Sông Hồng nên được bổ sung phù sa hàng năm, mùn và lân tổng số trung bình, Nitơ nghèo, hàm lượng các chất trao đổi trung bình. Thành phần cơ giới đất thịt trung bình, có hiện tượng chặt ở dưới tầng canh tác.

4.1.1.6. Tài nguyên nước

- Nguồn nước mặt:

Ngoài nguồn nước mưa hàng năm thì Hoài Đức còn được sông Hồng ở phía Bắc cung cấp qua hệ thống thuỷ nông Đan Hoài, sông Đáy chạy dọc theo vùng bãi từ Minh Khai đến Đông La cùng với hệ thống ao hồ với diện tích khoảng 56 ha. Nhìn chung nguồn nước mặt cung cấp đáp ứng cơ bản nhu cầu tưới cho cây vùng đồng; còn vùng bãi ven sông Đáy về mùa khô thường gặp khó khăn trong việc tưới cho cây trồng.

- Nguồn nước ngầm:

Nằm trong vùng trầm tích châu thổ sông Hồng nên về mặt địa chất thuỷ văn mang rõ nét tính chất của vùng châu thổ sông Hồng. Nguồn nước cung cấp cho tầng chứa là nước mặt và có liên quan đến mực nước của sông Hồng.

Căn cứ kết quả thăm dò cho thấy; từ 34 - 40 m là tầng cát sạn màu xám sáng lẫn ít hạt màu đen, bão hoà nước; từ 40 - 60 m là tầng sỏi cuội màu xám vàng, xám sáng, bão hoà nước; từ 60 - 73m là tầng cát kết màu xám, nứt nẻ mạnh.

Về chất lượng nước theo kết quả phân tích thành phần vi hoá cho thấy: Nước không đạt tiêu chuẩn vệ sinh về phương diện hoá học vì hàm lượng sắt và chất hữu cơ cao, nước bị nhiễm vi khuẩn Pecaleoli Form cần phải xử lý trước khi sử dụng.

4.1.1.7. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường

Huyện Hoài Đức là một trong những vùng kinh tế trọng điểm phía Tây Hà Nội; có vị trí địa lý thuận lợi, giáp với trung tâm thủ đô Hà Nội và các trung tâm kinh tế lớn; địa hình đồng bằng, trình độ dân trí tương đối cao, có nhiều khả năng nắm bắt được những tiến bộ mới của khoa học kỹ thuật. Do vậy huyện có điều kiện rất thuận lợi cho phát triển kinh tế.

Phần lớn đất đai trong vùng là đất phù sa có chất lượng (độ phì nhiêu màu mỡ) khá tốt, cân đối về số lượng, địa hình tương đối bằng phẳng với độ cao và độ dốc hợp lý, làm cơ sở nền tảng cho phát triển các ngành kinh tế - xã hội, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp và phát triển không gian xanh theo định hướng quy hoạch một số xã ven Đáy của huyện Hoài Đức là vành đai xanh của thành phố Hà Nội.

Có thị trường nội thành Hà Nội là nơi tiêu thụ lớn các loại nông sản, sản phẩm tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp tiêu dùng khác. Là địa bàn mở rộng của thủ đô Hà Nội về mạng lưới giao thông thuận lợi có nhiều điều kiện thu hút đầu tư vào các cụm, điểm công nghiệp, các khu đô thị trên địa bàn huyện. Có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ chất lượng cao của Hà Nội như Giáo dục - Đào tạo, Y tế, Khoa học - Công nghệ.

Hiện nay, việc phát triển một số ngành kinh tế đã và đang ảnh hưởng xấu đến môi trường như ô nhiễm về bụi, không khí do xây dựng; ô nhiễm từ nước thải và chất thải ở các cơ sở sản xuất CN - TTCN; ô nhiễm trong sản xuất nông nghiệp và các làng nghề do việc sử dụng hoá chất không phù hợp, đòi hỏi phải đầu tư và quan tâm đặc biệt đến vấn đề môi trường sinh thái.

4.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội

4.1.2.1. Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Theo UBND huyện Hoài Đức (2014), Báo cáo tình hình phát triển kinh tế, xã hội.

Trong những năm vừa qua các thành phần kinh tế trên địa bàn huyện Hoài Đức đã có những bước phát triển khá mạnh, đặc biệt là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Năm 2014, tổng giá trị sản xuất trên địa bàn đạt 4.121 tỷ đồng, tuy nhiên với quy mô và mật độ dân số tương đối cao nên giá trị sản xuất bình quân đầu người chỉ đạt 32,10 triệu đồng/người/năm. So với một số huyện khác thì giá trị sản xuất bình quân đầu người của huyện vẫn ở mức thấp. Kết quả phản ánh quy mô nền kinh tế của huyện vẫn còn ở mức thấp hơn so với tiềm năng phát triển của huyện.

Xét theo ngành kinh tế, đóng góp cho tăng trưởng giai đoạn 2010 - 2014 vừa qua chủ yếu là ngành Công nghiệp - Xây dựng, với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt trên 13,34%/năm. Trong đó, riêng năm 2014 ngành có tốc độ tăng trưởng đạt gần 11,1%; tiếp đó là ngành dịch vụ với tốc độ tăng trưởng bình quân 14,88%/năm. Ngược lại, ngành nông nghiệp giai đoạn vừa qua do diện tích đất canh tác giảm mạnh nên có xu hướng giảm, bình quân giai đoạn 2010 - 2014 giảm tới - 0,18%/năm. Trong khi đó, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được xác định là ngành có truyền thống thì có mức tăng giảm thất thường, chỉ đạt tốc độ bình quân 14,88%/năm và có xu hướng tăng chậm dần. Điều này một mặt cho thấy công nghiệp chịu ảnh hưởng từ định hướng hạn chế phát triển sản xuất công nghiệp của Thành phố trên địa bàn. Mặt khác cũng cho thấy giới hạn sự phát triển của các ngành công nghiệp với quy mô nhỏ.

4.1.2.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Nhìn chung, giai đoạn 2010 - 2014 cơ cấu kinh tế của huyện chuyển dịch theo hướng tích cực. Trong đó tỷ trọng ngành công nghiệp, TTCN và xây dựng tăng khá mạnh; tỷ trọng ngành thương mại, dịch vụ giảm nhẹ, trong khi tỷ trọng của ngành nông nghiệp, thuỷ sản giảm mạnh. Cụ thể, năm 2010 giá trị sản xuất ngành công nghiệp, TTCN và xây dựng chiếm 48,8% trong cơ cấu giá trị sản xuất, đến năm 2014, tỷ trọng các ngành này đã tăng lên 55%, tức tăng gần 7% trong 5 năm. Đây là mức tăng mang tính dần dần của cơ cấu trên địa bàn, khẳng định thế mạnh hiện tại của một huyện mà sản xuất công nghiệp, TTCN là thế mạnh.

Bảng 4.1. Cơ cấu các ngành kinh tế trên địa bàn huyện giai đoạn 2010 - 2014 Đơn vị tính: % TT Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 1 Nông nghiệp 11,40 9,90 9,40 8,90 7,20 2 Công nghiệp, TTCN 58,30 60,40 54,00 54,30 55,00 3 Thương mại, dịch vụ 30,30 29,70 36,60 36,80 37,80 Tổng cộng 100,00 100,00 1000 100,00 100,00

Sự biến động trong cơ cấu kinh tế trên địa bàn một phần có thể lý giải là do diện tích đất nông nghiệp của huyện giảm mạnh làm cho giá trị sản xuất nông nghiệp tụt giảm. Ngược lại, giai đoạn này tỷ trọng của các ngành công nghiệp - xây dựng tăng mạnh không phải do đã có sự đột phá, thành công trong phát triển công nghiệp địa phương cần được luận giải theo 3 khía cạnh sau:

- Tốc độ tăng trưởng của ngành xây dựng tăng cao do có nhiều dự án của cả các tổ chức và người dân trên địa bàn.

- Ngành thương mại, dịch vụ phát triển còn chậm, chưa tận dụng được cơ hội đón đầu sự phát triển kinh tế, chưa tương xứng với vị trí và tiềm năng của địa phương làm cho tỷ trọng của ngành này vốn chưa cao lại bị giảm sút.

- Sản xuất nông nghiệp chủ yếu trên quy mô nhỏ, manh mún và vẫn mang tính tự cấp, tự túc là chủ yếu. Giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích canh tác thấp; các ngành dịch vụ phục vụ nông nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu thực tế; ngành trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng rất cao trong cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp, các lĩnh vực chăn nuôi, thuỷ sản chậm phát triển.

* Khu vực kinh tế nông nghiệp:

Giai đoạn 2010 - 2014 tốc độ tăng trưởng nghành nông thuỷ sản tuy có giảm so với giai đoạn trước nhưng nông nghiệp vẫn được coi là ngành kinh tế trọng yếu của huyện. Do tác động mạnh mẽ của đô thị hoá làm tốc độ tăng trưởng bình quân

Một phần của tài liệu (LUẬN văn THẠC sĩ) tích hợp ảnh viễn thám và hệ thống thông tin địa lý đánh giá biến động đất đai trong quá trình đô thị hóa giai đoạn 2005 2014 huyện hoài đức thành phố hà nội (Trang 59)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(110 trang)