CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT CÁC TỪ ĐIỂN GIẢI THÍCH TIẾNG VIỆT
2.2. Kết quả khảo sát
2.2.1. Ý tưởng của các tác giả
Thông thường, phần lời nói đầu, lời dẫn…là phần nêu lên ý tưởng biên soạn của tác giả. Tuy nhiên, điều này lại không được các tác giả của các cuốn từ điển giải thích tiếng Việt dành cho học sinh tiểu học chú ý. Chỉ hai trong bốn cuốn có trình bày ý tưởng biên soạn nhưng không phải cuốn nào cũng trình bày một cách rõ ràng.
2.2.1.1. Ý tưởng lập bảng từ
Về bảng từ, chỉ có cuốn NNY trình bày ý tưởng một cách đầy đủ, rõ ràng.
Các tác giả xác định trong phần Lời dẫn “Sách này thuộc loại từ điển giáo khoa, bởi vì nó miêu tả từ ngữ với mục đích để học tiếng Việt, không đơn thuần chỉ để tra cứu. Và do đó, nó là một tài liệu học tập, cùng với các sách giáo khoa Tiếng Việt làm thành một chỉnh thể giáo khoa Tiếng Việt dùng cho học sinh tiểu học” [48]. Trên cơ sở đó, bảng từ được các tác giả xác định theo một số tiêu chí cơ bản như sau:
(1) không thu thập những từ mà trẻ em đã quen thuộc.
61
(2) không thu thập những từ xa lạ với vốn từ trong ngôn ngữ giao tiếp thường ngày và trong các sách giáo khoa.
(3) thu thập những từ các em chưa biết hoặc biết nhưng chưa chắc chắn, chưa thấu đáo, chưa ổn định
(4) thu thập những từ ngữ cần thiết cho việc chuyển tải dung lượng kiến thức cần cung cấp cho học sinh thuộc bậc học này và những từ ngữ cần cho hoạt động ngôn ngữ của học sinh theo chỉ số của giáo học pháp ngôn ngữ và tâm lí học lứa tuổi.
(5) thu thập một số lượng nhất định những từ được coi là quá tải ở mức độ cho phép, để hình thành ở học sinh lớp giao thoa kiến thức giữa cái đã biết và cái chưa biết.
Trong cuốn NH, các tác giả của nó không trình bày ý tưởng gì về bảng từ.
Nhưng phần Lời nói đầu của nhà xuất bản cho biết rằng trong cuốn từ điển này “Các từ tra cứu được soạn theo bộ sách giáo khoa từ lớp 1 đến lớp 5”.
Câu này giúp chúng ta biết phạm vi của các đơn vị đầu mục được thu thập.
2.2.1.2. Ý tưởng về cách giải thích
Tác giả của cuốn NNY viết: “Từ điển giáo khoa tiếng Việt-Tiểu học giải ngữ theo cách từ điển tường giải, kết hợp miêu tả bằng ngôn ngữ tự nhiên với hình vẽ, đi từ trực cảm đến khái quát, từ cụ thể đến trừu tượng, từ cái đã biết đến cái chưa biết, từ dễ đến khó. Tính khái quát, đơn giản, dễ hiểu là yêu cầu của lời giải thích”.
Hai cuốn NMH và KV không có Lời nói đầu, nên rất khó nhận biết được ý tưởng của các tác giả khi biên soạn quyển từ điển của mình.
Tóm lại, chúng ta có thể thấy rằng, hầu hết các tác giả của các cuốn từ điển giải thích tiếng Việt dành cho HSTH đều không có ý tưởng rõ ràng khi biên soạn. Chính điều đó đã khiến cho cấu trúc vĩ mô và vi mô của chúng tồn tại những vấn đề đáng bàn như phần dưới đây chúng tôi sẽ phân tích.
62 2.2.2. Cấu trúc vĩ mô của từ điển
2.2.2.1. Bảng từ
Khi chúng tôi khảo sát bảng từ, cơ cấu bảng từ và cách sắp xếp các mục từ là hai nội dung chính được đề cập.
a. Cơ cấu bảng từ (1) Số lượng mục từ
Các từ điển tiếng Việt dành cho HSTH có số lượng mục từ rất khác nhau:
NH (16.000 mục từ), KV (50.000 mục từ), NNY (khoảng 4.500 mục từ), NMH (khoảng 14.000 mục từ). Đặc biệt, cuốn KV, các tác giả của nó ghi ở bìa 1 là 150.000 mục từ, nhưng theo sự tính toán của chúng tôi thì số lượng mục từ chỉ vào khoảng 50.000 (so sánh: cuốn HP và cuốn Petit Larousse (Tiểu từ điển Larousse): khoảng 39-40.000 mục từ). Trong khi đó, các từ điển nước ngoài, số lượng mục từ khác nhau tùy theo lứa tuổi, dành cho lứa tuổi 5- 8 (tương ứng HSTH những lớp đầu cấp), các tác giả thường đưa vào chỉ khoảng 6.000 mục từ; còn dành cho lứa tuổi 9-12 (cuối cấp Tiểu học), số lượng mục từ vào khoảng 20.000.
Ý tưởng của các tác giả khi biên soạn từ điển ảnh hưởng đến việc lựa chọn các đơn vị đưa vào bảng từ. Vì thế, ở các từ điển, chúng ta nhận thấy sự khác nhau về số lượng, về cơ cấu, về cách sắp xếp các đơn vị mục từ.
Trong cuốn NH, các mục từ được chọn dựa trên các đơn vị từ vựng xuất hiện trong sách giáo khoa tiểu học. Tuy nhiên, vì các tác giả chưa tính đến nguồn ngữ liệu từ các sách, truyện dành cho lứa tuổi HSTH, nên bảng từ có thể vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu tra cứu của trẻ.
Cuốn NNY (khoảng 4.500 mục từ) chỉ đưa vào những từ khó xuất hiện trong SGK, nhưng là từ lớp Một đến lớp Tám (hệ sách cũ). Số lượng từ này
63
đối với HSTH theo chúng tôi vừa thừa vừa thiếu. Thiếu vì các tác giả bỏ qua đa số các từ cơ bản, nên đối với HSTH sẽ có những từ các em cần tìm lại không có trong từ điển. Thừa vì các tác giả chọn từ đầu mục trong SGK không chỉ của cấp Tiểu học (lớp Một đến lớp Năm), mà trong cả các SGK lớp Sáu đến lớp Tám nên sẽ có những từ mà HSTH chưa cần biết đến.
Còn cuốn KV, bảng từ chừng 50.000 mục (theo tính toán của chúng tôi) và cuốn NMH với khoảng 14.000 mục từ; tuy nhiên, các tác giả những cuốn này lại không đưa ra những cơ sở lí thuyết cần yếu làm chỗ dựa cho số lượng các mục từ đưa vào từ điển nên những con số này không đảm bảo được độ tin cậy và rất thiếu sức thuyết phục.
(2) Các đơn vị mục từ
Thông thường, trong bảng từ, các nhà biên soạn từ điển thu thập các đơn vị ngôn ngữ có tư cách là từ và tương đương với từ. Ngoài ra, họ cũng có thể đưa vào các ngữ cố định, các đơn vị dưới từ có sức sản sinh cao (như các yếu tố Hán-Việt thường dùng để cấu tạo từ như: bất, hóa, vô,...). Thế nhưng, trong các từ điển được khảo sát, xuất hiện cả những đơn vị ngôn ngữ như cụm từ tự do, đơn vị ngôn ngữ dưới từ không có sức sản sinh cao.
Hầu hết các từ điển ngôn ngữ không đưa vào các cụm từ tự do, vì nếu đưa vào thì không có khả năng hạn chế số lượng mục từ. Tuy nhiên, trong các từ điển dành cho HSTH mà chúng tôi khảo sát, số lượng những đơn vị từ vựng thuộc loại này có mặt không ít. Ví dụ: NH đưa: nắc nỏm khen, nắng chang chang, nén nỗi xúc động, ngày mai đông xuân, nghìn độ lửa, ngôn ngữ hội họa, nhảy liên liến. Hay KV: vác mặt lên, vạn hóa công ty...
Các đơn vị dưới từ (không có sức sản sinh cao) cũng không phải hiếm gặp. KV thu thập các yếu tố Hán Việt: nại, nặc, vấn... Trong khi đó, trong HP, một cuốn từ điển phổ thông, các tác giả cũng chỉ lấy đến các yếu tố Hán Việt
64
như: bất, hóa, ... Ngược lại với tình hình trên, trong NNY lại không đưa vào các đơn vị dưới từ. Ngay cả những từ đơn tiết cũng hiếm gặp: trong 3 vần A, N, V, chỉ có một từ đơn tiết là “ách”.
Có thể thấy, về các đơn vị từ vựng trong bảng từ, các nhà biên soạn từ điển dành cho HSTH chưa đưa ra được những tiêu chí hợp lí có tính lí luận để lựa chọn các đơn vị từ vựng cụ thể.
(3) Các lớp từ loại
Kết quả khảo sát theo các lớp từ loại cho thấy nổi lên hai vấn đề sau: sự có mặt của các danh từ riêng và sự khiếm khuyết trong việc thu thập và giải thích các từ hư (tình thái từ và quan hệ từ).
Về danh từ riêng: Có thể nhận thấy rằng hầu hết các từ điển được khảo sát đều không đưa danh từ riêng, ngoại trừ cuốn NH có đưa tên đất, tên người xuất hiện trong SGK tiểu học. Việc đưa danh từ riêng vào từ điển ngôn ngữ vẫn là một vấn đề nhiều nhà từ điển học còn đang trăn trở. Đa số các từ điển ngôn ngữ đều không đưa dạng mục từ này vào trong bảng từ vì tính chất bách khoa của nó. Nhưng, như phần lí thuyết chúng ta đã đề cập đến, nhiều tác giả cho rằng, đối với HSTH, những đơn vị từ vựng này cũng rất cần phải giải thích. Chúng góp phần làm cho trẻ em hiểu rõ hơn về các nội dung được đề cập đến trong chương trình học ở nhà trường. Tuy nhiên, trong cuốn từ điển NH, cách các tác giả xử lí chúng khiến chúng trở nên quá khác biệt so với các mục từ xung quanh về dung lượng, kích cỡ của mục từ. Chẳng hạn, có những mục từ giải thích tên riêng dài đến cả một trang từ điển, trong khi thông thường, các mục từ khác chỉ chiếm hai đến ba dòng. Điều đó khiến cho người sử dụng từ điển tự nhiên chú ý đến những mục từ này nhiều hơn hẳn những mục từ khác, gây một sự sao lãng không đáng có khi tra từ. Chúng tôi nghĩ rằng, nếu tách những mục từ này thành một phần riêng thì sẽ tốt hơn cho việc
65
sử dụng từ điển và hình thức cuốn từ điển có lẽ cũng sẽ đẹp mắt hơn. Chúng ta hãy xem một số trang từ điển có chứa danh từ riêng để thấy rõ điều này:
trang 19, có mục từ Ác-si-mét; trang 275, có các mục từ: sông Bạch Đằng, sông Bến Hải, sông Đơ-ni-ép, sông Hồng, sông Mã, sông Như Nguyệt.
66
67
68
Về quan hệ từ, tình thái từ: có rất ít từ điển dành cho HSTH xử lí các đơn vị từ vựng này hoặc nếu có thì cũng không đầy đủ. Chẳng hạn, khi khảo sát các thán từ à, ư, nhỉ thì ba từ điển NNY, NH, NHM không có mục từ ư, nhỉ.
Còn trong KV, có mục từ ư, nhưng được giải thích như sau:
(KV) ư 2. Tiếng đặt sau câu để hỏi: Anh ta giàu đến thế ư?
Nếu giải thích như vậy, thì lời giải thích này có thể áp dụng cho khá nhiều từ (như à, hả...) , chứ không chỉ riêng từ ư. Trong khi đó, mục từ ư trong HP bao gồm ba nghĩa rõ ràng: “biểu thị ý hỏi”, “biểu thị thái độ ngạc nhiên”,
“biểu thị thái độ không được bằng lòng” như sau:
(HP) ư1 tr. (thường dùng ở cuối câu). 1 Từ biểu thị ý hỏi, tỏ ra có điều hơi lấy làm lạ hoặc còn băn khoăn. Mai anh đi thật ư? Chả lẽ chịu bó tay ư? 2 Từ biểu thị thái độ ngạc nhiên trước điều mình có phần không ngờ tới, nêu ra như muốn hỏi lại người đối thoại hoặc tự hỏi lại mình. Anh đã về đấy ư? Bác ấy mất thật rồi ư? Người ấy mà cũng lừa dối ư?Nghèo đến thế kia ư? 3 (kng.) Từ biểu thị thái độ không được bằng lòng, không được vừa ý về điều nêu ra dưới dạng như muốn hỏi, để cho người đối thoại tự suy nghĩ lấy. Làm ăn thế ư? Học hành thế ư con?
Hay các quan hệ từ và, bằng, của không có mặt trong từ điển NH, NNY, NHM. Chính, cả, ngay, với tư cách là trợ từ nhấn mạnh cũng không được xét đến trong các từ điển này. Trong khi đó, trong RB, chúng ta thấy mục từ et (và), même (ngay (cả), ý nhấn mạnh) cũng có mặt và được giải thích như sau:
(RB) et conjonction. Et, c’est un mot qui sert à relier deux mots ou deux phrases. Papa et Maman sont venus. Je vais prendre mon bain et après j’irai me coucher. (và liên từ. Và, đó là một từ dùng để nối hai từ hoặc hai câu. Bố và Mẹ đã về. Tôi tắm và sau đó, tôi đi ngủ).
(RB) même adverbe. 1. L’épicerie est ouverte tous les jours, même le dimanche, elle est ouverte aussi le dimanche. 2. Il pleut, mais Loic joue quand
69
même dehors, il joue dehors bien qu’il pleuve, malgré la pluie. (ngay (cả) trạng từ. 1. Cửa hàng tạp hóa mở tất cả các ngày, ngay cả ngày chủ nhật, nó cũng mở cửa vào ngày chủ nhật. 2. Trời mưa, nhưng Loic vẫn còn/cứ chơi ở ngoài trời, nó chơi ở ngoài trời mặc dầu trời mưa).
Như vậy, về cơ cấu bảng từ, các tác giả mới chỉ chú ý đến các thực từ (danh từ, động từ, tính từ, đại từ), chưa quan tâm nhiều đến các hư từ (quan hệ từ, tình thái từ). Trong thực tế, đây là những từ loại mà trẻ em thường sử dụng và cũng được đưa vào học trong chương trình sách giáo khoa tiểu học [Tiếng Việt 5, tập 1, tr. 109, 121, 131; Tiếng Việt 5, tập 2, tr. 12, 21, 32, 38, 54, 97].
(4) Thuật ngữ, từ cũ, cổ, từ địa phương, từ vay mượn
Như nhiều tác giả đã phân tích, các lớp từ thuật ngữ, từ cũ, cổ, từ địa phương, từ vay mượn đều là những đối tượng cần giải thích cho HSTH. Vấn đề cần quan tâm là trong từ điển giải thích dành cho các em, chúng chỉ có thể được đưa vào ở một chừng mực nhất định nào đó và phải có những tiêu chí rõ ràng để giới hạn.
Kết quả khảo sát cho thấy có những cuốn từ điển đưa vào một lượng quá lớn những thuật ngữ, từ cổ, cũ v.v. Đó là trường hợp cuốn từ điển KV. Số từ đầu mục của cuốn này vào khoảng 50.000 (theo sự tính toán của chúng tôi).
Đạt đến con số nói trên dường như là do việc từ điển này đưa vào một lượng lớn các thuật ngữ, từ cũ, từ cổ, từ địa phương... Ý tưởng biên soạn không được các tác giả trình bày một cách tường minh, nhưng ở vần N (93 trang) có 67 thuật ngữ Phật học (được chú phật) và một số lượng đáng kể các thuật ngữ được chú là y, lý, triết... Việc lựa chọn các thuật ngữ này cũng đặt ra một vấn đề vì đó là những ngành học rất xa lạ với trẻ em, do vậy hầu như chúng không có tác dụng sử dụng đối với trẻ. Còn về những từ cũ, từ cổ, ở vần A, trong HP, chúng tôi thống kê được 31 từ được chú cũ. Tương ứng với các từ đó
70
trong KV là 21 từ. Ngoài ra, trong KV còn có những từ là từ cũ, từ cổ (không được chú) mà trong HP không được thu thập.
Tóm lại, có thể nhận thấy các tác giả của các từ điển tiếng Việt dành cho HSTH chưa có một tiêu chí xác định hợp lí để lựa chọn các đơn vị mục từ.
Điều đó dẫn đến nhiều điều bất cập: bảng từ không có tính hệ thống, các đơn vị được thu thập thiếu hợp lí như: thu thập cả cụm từ tự do, thuật ngữ quá sâu, đơn vị dưới từ không có sức sản sinh cao, quá nhiều từ cũ, từ cổ, không quan tâm đầy đủ đến một số từ loại như quan hệ từ, tình thái từ....
b. Cách sắp xếp các mục từ
Trong việc sắp xếp các mục từ, người ta thường đề cập đến việc sắp xếp theo trật tự bảng chữ cái và sắp xếp theo thứ tự các dấu thanh.
Về việc sắp xếp theo trật tự bảng chữ cái, trong các từ điển tiếng Việt, thường tồn tại hai cách sắp xếp: sắp xếp đơn và sắp xếp kép. Trong đó, sắp xếp đơn là cách sắp xếp mà các đơn vị của bảng từ được xếp liên tục theo vần a, b, c,…, còn sắp xếp kép là cách sắp xếp mà đơn vị đầu mục từ là các tiếng với tư cách là từ hoặc là yếu tố đứng đầu để tạo từ, bên dưới là những từ ghép có chứa đơn vị đầu mục từ đó.
Các từ điển tiếng Việt dành cho HSTH đều dùng cách sắp xếp đơn. Các đơn vị từ ngữ được xếp theo bảng chữ cái. Sự khác nhau giữa các từ điển là có những cuốn sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái gồm cả những âm kép: CH, GH, GI, KH, NG, NGH, NH, PH, TH, TR. Ví dụ trong vần C, từ điển NH, sau cậy cục là mục từ cha truyền con nối. Còn trong KV, sau vần C là vần CH; hoặc N, NG, NH cũng được tách thành ba vần khác nhau.
Vấn đề sắp xếp theo dấu thanh, trong các từ điển dành cho HSTH tồn tại hai cách khác nhau. Trong KV, các mục từ được xếp theo trật tự: ngang, sắc, huyền, ngã, hỏi, nặng; NMH: ngang, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng; còn trong
71
NNY, NH : ngang, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng. Từ điển học là một ngành gắn bó chặt chẽ với ngôn ngữ học. Vì thế, việc thừa hưởng những kết quả nghiên cứu lí thuyết ngôn ngữ trong các lĩnh vực ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp trong quá trình biên soạn từ điển đóng vai trò rất quan trọng, nhất là trong các loại từ điển ngôn ngữ, đặc biệt là từ điển giải thích. Cách sắp xếp theo dấu thanh:
ngang, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng là theo lưỡng phân (âm vực cao-âm vực thấp) phổ biến trong các tài liệu Ngữ âm học hiện nay.
2.2.2.2. Các phần phụ chú khác
Trong bốn cuốn từ điển dành cho HSTH được khảo sát, chỉ có cuốn NH và NNY có các phần phụ chú khác ngoài bảng từ.
Cuốn NNY, có Lời xuất bản, Lời nói đầu cho lần tái bản, Lời dẫn, Hướng dẫn sử dụng. Ở các phần này, các tác giả cung cấp cho người sử dụng các thông tin về ý đồ biên soạn từ điển, cách sắp xếp, bảng chữ viết tắt, kí hiệu,...
để độc giả tiện sử dụng.
Cuốn NH, có phần Hướng dẫn sử dụng từ điển, Bảng âm vị và tên chữ cái tiếng Việt mở rộng. Vấn đề là trong phần Hướng dẫn sử dụng từ điển, các tác giả đưa vào nhiều thông tin chẳng liên quan gì đến việc sử dụng từ điển như : Khái quát về ngữ âm, Viết hoa tên riêng trong sách giáo khoa, Quy định về chính tả trong sách giáo khoa, Quy định khác. Các phần này hoàn toàn tương đương với phần Bảng âm vị và tên chữ cái tiếng Việt mở rộng, vậy mà chúng lại nằm trong phần Hướng dẫn sử dụng từ điển. Điều này chứng tỏ một cách làm việc thiếu chuyên nghiệp, không tham khảo để kế thừa những ưu điểm của các công trình có trước. Trong khi đó, trong các từ điển nước ngoài, chúng tôi thấy những phần phụ chú được trình bày rất sinh động, đẹp mắt và dễ nắm bắt. Chúng ta hãy xem các phần phụ chú trong từ điển Robert Junior chẳng hạn. Sau trang bìa 1 là hai trang cờ các quốc gia, tiếp đến: lời nói đầu