CÁC ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN Ở TỈNH KIÊN GIANG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
Đặc điểm về địa hình
Địa hình đồng bằng ven biển (D 4) chiếm diện tích 329.480 ha, tương đương 51,9% tổng diện tích, phân bố chủ yếu ở các huyện thị trong khu vực Tứ giác Long Xuyên, bao gồm Hòn Đất, Kiên Lương và Giang Thành, cũng như Bán đảo Cà Mau với các huyện An Biên, An Minh, U Minh Thượng và Vĩnh Thuận.
(ii) Địa hình đồng bằng phù sa mới (D2) có diện tích 215.788 ha (34,0%) phân bố ở phía Bắc huyện Kiên Lương, Hòn Đất và các huyện thuộc vùng Tây sông Hậu.
Địa hình núi thấp, đồi cao, đồi trung bình, đồi thấp và gò tại khu vực huyện đảo Phú Quốc, Kiên Hải và các núi ven biển Hà Tiên, Kiên Lương, Hòn Đất chiếm diện tích 49.640 ha, tương đương 7,8% tổng diện tích.
(iv) Địa hình Kacxtơ đai thấp (K2) gồm các núi đá vôi có diện tích 420 ha phân bố ở huyện Kiên Lương, thành phố Hà Tiên.
(v)Địa hình sụt võng đầm hồ (T5) có diện tích khoảng 2.012 ha phân bố ở thành phố Hà Tiên.
Đặc điểm về độ dốc
Độ dốc của địa hình được chia thành 5 cấp: Độ dốc cấp I: < 7 0 ; Độ dốc cấp II: 8 0 - 15 0 ; Độ dốc cấp III: 16 0 - 25 0 ; Độ dốc cấp IV: 26 0 - 35 0 ; Độ dốc cấp V: > 35 0
Tỉnh Kiên Giang có tổng diện tích đất đai bằng phẳng lên tới 596.536 ha, chiếm 94% tổng diện tích tự nhiên Các huyện có địa hình hoàn toàn bằng phẳng bao gồm An Biên, An Minh, U Minh Thượng, Giồng Riềng, Tân Hiệp, Gò Quao, Châu Thành, Hòn Đất và thành phố Rạch Giá Khu vực có độ dốc trên 7 độ chủ yếu tập trung ở vùng hải đảo và một phần nhỏ tại Tứ giác Long Xuyên (thành phố Hà Tiên và huyện Kiên Lương) Diện tích có độ dốc lớn (cấp IV, V) chỉ chiếm 1,8% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh, chủ yếu phân bố ở huyện đảo Phú Quốc và Kiên Hải.
Đặc điểm về khí hậu
Tỉnh Kiên Giang thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với đặc điểm nóng ẩm quanh năm Khí hậu nơi đây được chia thành hai mùa rõ rệt trong năm.
Mùa mưa tại khu vực này diễn ra từ đầu tháng 5 đến tháng 11, với lượng mưa chiếm đến 90% tổng lượng mưa hàng năm Lượng mưa trung bình dao động từ 88,1 đến 544,5 mm mỗi tháng, và số ngày có mưa trung bình từ 135 đến 162 ngày trong năm Mặc dù có lượng mưa lớn, nhưng vẫn xuất hiện những khoảng thời gian khô hạn kéo dài từ 7 đến 15 ngày, được gọi là hạn Bà Chằng Đặc biệt, nửa cuối mùa mưa thường trùng với mùa lũ, dẫn đến tình trạng ngập úng thường xuyên.
Mùa khô tại khu vực này kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, chỉ chiếm khoảng 10% tổng lượng mưa hàng năm Trong các tháng 1, 2 và 3, lượng mưa rất thấp, dao động từ 11 đến 50 mm, dẫn đến tình trạng xâm nhập mặn sâu vào nội đồng.
Các thông số khí tượng đặc trưng như sau:
+ Nhiệt độ bình quân năm: 28,0 0 C
+ Nhiệt độ bình quân tháng nóng nhất (tháng 6): 29,3 0 C + Nhiệt độ bình quân tháng lạnh nhất (tháng 12): 26,1 0 C
+ Tổng số giờ nắng trung bình năm: 2.455,2 giờ + Tháng có số giờ nắng cao nhất (tháng 4): 273,5 giờ + Tháng có số giờ nắng thấp nhất (tháng 7): 155,2 giờ
- Độ ẩm không khí tương đối bình quân năm: 78-84%
+ Gió mùa Tây Nam (từ tháng 5 - tháng 10) có tốc độ từ: 2,5 - 4,5 m/s. + Gió mùa Đông Bắc (tháng 11 - tháng 4 năm sau) tốc độ từ: 1,6-2,8 m/s.
+ Lượng mưa trung bình năm là 1.600 - 2.000 mm ở đất liền và 2.400 - 2.800 mm ở hải đảo.
Mùa mưa tại khu vực này kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, với tháng 8 là tháng có lượng mưa cao nhất, đạt 321 mm Ngược lại, mùa khô diễn ra từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, trong đó tháng 4 là tháng khô nhất với chỉ 7,7 mm mưa.
+ Số ngày mưa trung bình năm là 168 ngày.
Mạng lưới sông rạch
Kiên Giang sở hữu một mạng lưới dòng chảy phong phú với tổng chiều dài khoảng 2.055km, bao gồm các sông tự nhiên như sông Giang Thành, sông Cái Lớn và sông Cái Bé Hệ thống kênh mương tại đây bắt nguồn từ sông Hậu và phân nhánh ra các kênh cấp II, cấp III vào nội đồng, tạo nên một hệ thống thủy lợi đa dạng và phong phú.
Sông Cái Lớn dài 44,8 km, chịu ảnh hưởng của nước mặn vào mùa khô, chủ yếu phục vụ cho việc tiêu nước trong mùa mưa mà chưa có tác dụng lớn trong việc cung cấp nước ngọt vào mùa khô Tuy nhiên, nếu trong tương lai có thể xây dựng hệ thống điều tiết trên sông, sông sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc ngọt hóa vùng U Minh Thượng.
Sông Cái Bé dài 58,2 km, đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp bằng cách cung cấp nước ngọt từ kênh Thác Lác và Thị Đội, giúp đẩy lùi tình trạng xâm nhập mặn của nước biển trong mùa khô Tuy nhiên, từ giữa đến cuối mùa khô, sông Cái Bé lại bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn.
-Sông Giang Thành: Bắt nguồn từ Campuchia, chảy ra đầm Đông Hồ - Hà Tiên.
Vào mùa khô, sông Giang Thành chịu tác động lớn từ thủy triều biển Tây, cung cấp nước mặn cho hoạt động nuôi trồng thủy sản Trong khi đó, vào mùa mưa, sông đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu nước và thoát lũ, giúp bảo vệ môi trường sống xung quanh.
Các kênh trục như Vĩnh Tế, T3, Tám Ngàn, Tri Tôn, Ba Thê, Kiên Hảo, Rạch Giá – Long Xuyên, Đòn Dông, Cái Sắn, Thốt Nốt, Thị Đội và Ô Môn đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn nước ngọt, thoát lũ và tiêu phèn, kết nối sông Hậu với biển Tây và sông Cái Lớn, Cái Bé.
Các kênh trục lớn như Rạch Giá - Hà Tiên, Cán Gáo, Làng Thứ Bảy và Chắc Băng không chỉ có chức năng tiêu nước mà còn giúp điều tiết độ mặn trong mùa khô.
Chế độ thủy văn
Chế độ thủy văn trên địa bàn tỉnh Kiên Giang rất phức tạp, chịu ảnh hưởng bởi
Bốn yếu tố chính ảnh hưởng đến chế độ thủy văn của sông Mê Kông bao gồm: chế độ thủy văn sông Mê Kông, thủy triều của biển Tây và biển Đông (thông qua sông Hậu), chế độ mưa nội đồng, và đặc điểm hình thái các sông rạch Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc xác định đặc điểm chính của chế độ thủy văn khu vực.
- Chế độ thủy văn trên phần đất liền: Chi phối bởi thủy triều biển Tây, thủy văn sông Hậu và chế độ thủy văn nội đồng:
Chế độ triều biển Tây là chế độ triều hỗn hợp thiên về nhật triều, với biên độ triều dao động từ 0,8 m đến 1,0 m Trong một ngày, hai đỉnh triều chênh lệch không đáng kể, chỉ từ 0,5 đến 0,7 m Tại Rạch Giá, biên độ triều lớn nhất ghi nhận được là 118 cm vào tháng 1, trong khi biên độ nhỏ nhất là 2,0 cm vào tháng 10.
Chế độ thủy văn sông Hậu chịu ảnh hưởng lớn từ lưu lượng nước ở thượng nguồn và thủy triều biển Đông Từ tháng 7 đến tháng 12, dòng chảy ngược hầu như không xảy ra Tuy nhiên, vào cuối tháng 11 và đầu tháng 12, lượng nước từ thượng nguồn giảm, trong khi hoạt động của bán nhật triều ở biển Đông gia tăng, dẫn đến sự xuất hiện của dòng chảy ngược về Châu Đốc Biên độ triều lớn nhất tại Châu Đốc thường diễn ra vào tháng 10.
16 cm, tăng dần lên 101 cm vào tháng 1 và đạt đến 126 cm vào tháng 5.
Thủy văn nội đồng ở tỉnh Kiên Giang có ảnh hưởng lớn đến chế độ dòng chảy, đặc biệt trong nửa đầu mùa mưa Chế độ mưa nội đồng không chỉ làm tăng mức ngập mà còn thay đổi độ chua phèn trong các kênh rạch Mỗi tiểu vùng trong tỉnh đều có đặc điểm dòng chảy riêng, tạo nên sự phức tạp trong hệ thống thủy văn.
Chế độ thủy văn của đảo Phú Quốc bị ảnh hưởng bởi địa hình, lượng mưa, thảm thực vật và triều biển Tây Tác động của chế độ thủy văn đến phát triển kinh tế - xã hội ở Phú Quốc là rất lớn Do đó, việc bảo vệ thảm thực vật là cần thiết để duy trì trữ lượng nước mặt và nước ngầm, phục vụ cho nhu cầu phát triển ngày càng tăng của đảo.
Chế độ ngập lũ và úng tại vùng U Minh Thượng và Tây sông Hậu diễn ra do mưa tập trung và địa hình thấp trũng, gây ngập úng kéo dài nhiều tháng trong năm Vào nửa cuối mùa mưa, hầu hết diện tích canh tác ở Tứ giác Long Xuyên và Tây sông Hậu đều bị ảnh hưởng bởi ngập lũ, với mức độ và thời gian ngập khác nhau.
Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt của tỉnh Kiên Giang chủ yếu là nước mưa và nước của sông Hậu cung cấp thông qua các kênh nối với sông Hậu.
Nước mưa tại khu vực này có tổng lượng mưa trung bình đạt 2.323mm/năm, với mùa mưa kéo dài ổn định từ 7 đến 8 tháng, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp Đặc biệt, lượng mưa từ tháng 5 đến tháng 6 rất quan trọng, đặc biệt khi lưu lượng nước sông Hậu bị giảm do các hồ chứa ở thượng nguồn Tuy nhiên, thời kỳ mưa nhiều thường trùng với thời điểm ngập lũ, gây khó khăn trong việc tiêu thoát nước, và có thể xuất hiện các đợt hạn ngắn trong những tháng đầu mùa mưa.
Nguồn nước sông Hậu có lưu lượng dồi dào và chất lượng tốt, với lưu lượng mùa lũ tại Châu Đốc đạt 5.400 m³/s và mùa kiệt là 300 m³/s Tại Cần Thơ, lưu lượng trung bình vào mùa kiệt là 835 m³/s, trong khi tháng lớn nhất có thể lên tới 13.680 m³/s Nguồn nước này hiện đang cung cấp nước tưới cho hai vùng Tứ giác Long Xuyên và Tây sông Hậu, đồng thời có khả năng ngọt hóa vùng U Minh Thượng trong tương lai Vùng ven biển Tứ Giác Long Xuyên đã xây dựng hệ thống cống kiểm soát mặn, và việc phát triển hệ thống kiểm soát mặn trên sông Cái Lớn sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nước từ sông Hậu, kết hợp với việc bố trí cơ cấu sử dụng đất tiết kiệm nước vào mùa kiệt, nhằm ứng phó với tình trạng xây dựng hồ chứa ở thượng nguồn.
VQG Phú Quốc đã xây dựng hồ nước Dương Đông với dung tích 3,3 triệu m³ và công suất 15.000 m³/ngày, cung cấp nước sinh hoạt cho hơn 11.500 hộ, chiếm 38% tổng số hộ trên đảo Tuy nhiên, nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và kinh doanh tại Phú Quốc hiện nay vượt xa khả năng cung cấp của hồ Dương Đông Do đó, trong tương lai, sẽ cần xây dựng thêm các hồ chứa nước để đáp ứng nhu cầu này.
- Hồ chứa nước Suối Lớn có dung tích 1,5 triệu m 3 , có công suất 3.000 m 3 /ngày.
-Hồ chứa nước Rạch Cá có dung tích 1 triệu m 3 , có công suất 2.000 m 3 /ngày.
Hồ chứa nước Cửa Cạn có dung tích 33 triệu m³ và công suất 25.000 m³/ngày, cung cấp nguồn nước từ các suối trong rừng Nguồn nước này được điều tiết hoàn toàn bởi rừng, nơi có vai trò quan trọng trong việc điều hòa nước Với lượng mưa bình quân cao nhất vùng ĐBSCL và địa hình phức tạp, rừng giúp giảm dòng chảy bề mặt, ngăn chặn xói mòn đất, hạn chế lắng đọng trong lòng sông và hồ, đồng thời điều hòa dòng chảy vào các hồ chứa nước, tăng cường lượng nước trong mùa khô và giảm thiểu lượng nước trong mùa mưa.
Nước ngầm ở Kiên Giang khá dồi dào về lượng nhưng nhiều khu vực bị hạn chế về chất lượng do bị nhiễm mặn và phèn.
Khu vực nước ngầm tại các huyện An Biên, U Minh Thượng, Vĩnh Thuận, Gò Quao, cùng một phần huyện Giồng Riềng giáp Châu Thành và một phần nhỏ huyện Tân Hiệp, có chất lượng và trữ lượng tốt với hàm lượng Clo khoảng 400 mg/l và độ sâu khai thác từ 80 đến 430 m.
Khu vực nước ngầm có chất lượng kém, với hàm lượng Clo từ 400 - 1.000 mg/l Nguồn nước này được khai thác ở độ sâu từ 40 - 60 m tại các khu vực như Hòn Đất, dọc theo kênh T3 đến Hà Tiên, Rạch Giá, và một phần An Minh từ kênh ấp Năm Tỷ (giáp Cà Mau) tới Rạch thứ 8 Biển, cùng một phần nhỏ ở phía Tây An Biên, nơi độ sâu khai thác đạt từ 80 - 110 m.
Khu vực nước ngầm bị mặn có hàm lượng Clo vượt mức 1.000 mg/l, chủ yếu tập trung tại các xã Hòa Điền, Tân Khánh Hòa (Kiên Lương), Phú Mỹ (Giang Thành), Mỹ Đức (Hà Tiên) Khu vực này trải dài phía Nam quốc lộ 80 từ kênh Luỳnh Huỳnh đến kênh Ba Hòn thuộc huyện Kiên Lương, bao gồm kênh Tám Ngàn của huyện Hòn Đất, một phần xã Nam Thái của huyện An Biên và khu vực kênh Chín Rưỡi Biển giáp với Vân Khánh thuộc huyện An Minh.
Khu vực khoan sâu quá 60 m bị nhiễm mặn tập trung ở khu vực Giồng Riềng và một phần của huyện Tân Hiệp.
Hai huyện đảo Phú Quốc và Kiên Hải hiện chưa có tài liệu đánh giá trữ lượng nước ngầm, nhưng kết quả khai thác từ các giếng tại Bãi Thơm và khu vực xung quanh cho thấy nguồn nước ngầm đang có xu hướng giảm, đặc biệt vào mùa khô, với tình trạng xâm nhập mặn ở những vùng gần biển Để đảm bảo cung cấp nước cho các khu công nghiệp và dân cư, cần xây dựng hồ trữ nước mưa và trồng rừng để phủ xanh các diện tích đất trống Về lâu dài, cần hạn chế khai thác nước dưới đất và chuyển sang nghiên cứu sử dụng nguồn nước mặt cho sinh hoạt và công nghiệp.
ĐẶC ĐIỂM VỀ HIỆN TRẠNG RỪNG, CẢNH QUAN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG
Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp thời điểm năm 2019
Theo kết quả rà soát và cập nhật, tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp tại tỉnh Kiên Giang tính đến năm 2019 là 82.652,10 ha Chi tiết về diện tích các loại đất và loại rừng được trình bày trong Bảng 10.
- Diện tích đất có rừng: 60.916,18 ha (chiếm 73,70% đất lâm nghiệp)
+ Diện tích có rừng tự nhiên: 46.237,30 ha (chiếm 55,94% đất lâm nghiệp)
Rừng tự nhiên lá rộng thường xanh: 35.746,81 ha
R ừng tự nhiên ngập mặn: 1.111,29 ha
Rừng tự nhiên ngập phèn: 9.379,20 ha
+ Diện tích có rừng trồng: 14.678,88 ha (chiếm 17,76% đất lâm nghiệp)
- Diện tích đất chưa có rừng: 21.735,92 ha (chiếm 26,30% đất lâm nghiệp)
Bảng 1 Hiện trạng rừng tỉnh Kiên Giang năm 2019
TT Loại đất, loại rừng Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Đất lâm nghiệp 82.652,10 100,00
1.1 Rừng gỗ núi đất lá rộng 35.746,81 43,25
2.1 Rừng gỗ trồng có trữ lượng 13.893,15 16,81
2.2 Rừng gỗ trồng chưa có trữ lượng 785,73 0,95
II Đất chưa có rừng 21.735,92 26,30
1 Đất trống có cây gỗ tái sinh 5.290,88 6,40
TT Loại đất, loại rừng Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Đất lâm nghiệp 82.652,10 100,00
2 Đất trống không có cây gỗ tái sinh 6.204,91 7,51
Nguồn: Báo cáo kết quả rà soát 3 loại rừng theo QĐ 551/QĐ-UBND ngày 5/3/2020
Diện tích các loại đất, loại rừng tỉnh Kiên Giang thời điểm năm 2019 phân theo ba loại rừng được thể hiện tại Bảng 2.
Bảng 2 Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp phân theo ba loại rừng ĐVT: ha
TT Loại đất, loại rừng Diện tích Rừng Rừng Rừng đặc dụng phòng hộ sản xuất Đất lâm nghiệp 82.652,10 39.786,27 31.358,02 11.507,81
1 Rừng tự nhiên 46.237,30 34.289,95 10.897,12 1.050,23 1.1 Rừng gỗ núi đất lá rộng 35.746,81 27.571,94 8.174,87
2.1 Rừng gỗ trồng có trữ lượng 13.893,15 1.201,64 9.428,96 3.262,55 2.2 Rừng gỗ trồng chưa có trữ lượng 785,73 499,22 283,32 3,19
4. Đất chưa có rừng Đất trống có cây gỗ tái sinh Đất trống không có cây gỗ tái sinh Mặt nước ven biển Đất trống khác
Nguồn: Báo cáo kết quả rà soát 3 loại rừng theo QĐ 551/QĐ-UBND ngày 5/3/2020
Diện tích rừng đặc dụng của tỉnh đạt 39.786,27 ha, chiếm 48,14% tổng diện tích đất lâm nghiệp, trong khi rừng phòng hộ có diện tích 31.358,02 ha (37,94%) và rừng sản xuất 11.507,81 ha (13,92%) Cơ cấu này cho thấy rừng đặc dụng chiếm tỷ lệ lớn, phản ánh giá trị đa dạng sinh học và tiềm năng bảo tồn cao của tài nguyên rừng tỉnh Đặc biệt, rừng phòng hộ có diện tích lớn hơn 2,7 lần so với rừng sản xuất, cho thấy khả năng cung ứng các dịch vụ môi trường rừng đáng kể.
Thực trạng về quản lý rừng và đất rừng phân theo chủ rừng
Hiện tại, diện tích rừng đạt 82.652,10 ha, trong đó 75.593,12 ha đã được giao cho 11 chủ quản lý, còn lại 7.058,98 ha chưa có chủ quản lý.
- Các tổ chức quản lý diện tích 75.593,12 ha rừng và đất lâm nghiệp, bao gồm:
+ Vườn quốc gia Phú Quốc (rừng đặc dụng, phòng hộ): 36.590,34 ha
+ Vườn quốc gia U Minh Thượng: 8.529,45 ha
+ Ban quản lý rừng Kiên Giang 21.104,17 ha
+ Khu bảo tồn loài – sinh cảnh Phú Mỹ: 1.044,07 ha
+ Lâm trường Hòn Đất: 953,71 ha
+ Ban quản lý dự án Lâm trường 422: 3.982,68 ha + Công ty cổ phần gỗ MDF VRG Kiên Giang: 1.096,87 ha
+ RSX Công an tỉnh: 1.131,90 ha
- Đất rừng do địa phương quản lý 7.058,98 ha, bao gồm:
+ UBND huyện Giang Thành: 549,65 ha
+ Hộ gia đình huyện Giồng Riềng: 2.402,32 ha
+ Hộ gia đình huyện U Minh Thượng: 4.107,01 ha
Về địa lý – cảnh quan
Kiên Giang, một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, có thành phố Rạch Giá là trung tâm hành chính Thành phố này nằm trên tuyến quốc lộ 80 và cách thành phố Hồ Chí Minh một khoảng cách đáng kể.
235 km và cách thành phố Cần Thơ 175 km, là cơ sở hậu cần rất quan trọng cho phát triển du lịch Phú Quốc và Hà Tiên.
Cầu Vàm Cống đã hoàn thành, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông bộ giữa thành phố Hồ Chí Minh và Rạch Giá, Hà Tiên Sự kết nối này, cùng với các phương tiện vận tải thủy hiện đại, sẽ thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của tiềm năng du lịch tại Phú Quốc, Hà Tiên và Kiên Hải.
Kiên Giang được hưởng lợi từ sự hỗ trợ phát triển du lịch từ thành phố Hồ Chí Minh, nơi có hơn 10 triệu dân, cùng với hơn 16 triệu cư dân ở đồng bằng sông Cửu Long và dân cư có thu nhập cao tại các khu vực khác trong cả nước Điều này tạo ra một thị trường du lịch đầy tiềm năng cho Kiên Giang.
Hà Tiên đã được Chính phủ xác định là một trong những trung tâm du lịch lớn của Việt Nam Nằm cách Phú Quốc chưa đến 50 km, Hà Tiên được kết nối với Phú Quốc qua các hòn đảo nhỏ xinh đẹp Sự kết hợp giữa Phú Quốc, Kiên Hải và Hà Tiên tạo ra một môi trường du lịch phong phú và hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách.
Phú Quốc được quy hoạch thành một đô thị biển đặc sắc, nổi bật với giá trị khác biệt và là trung tâm du lịch nghỉ dưỡng chất lượng cao Nơi đây không chỉ thu hút du khách trong nước mà còn cả quốc tế, đồng thời phát triển thành trung tâm thương mại và dịch vụ tầm cỡ khu vực và quốc tế.
Phát triển kinh tế xã hội cần gắn liền với việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, vì đây là nền tảng cho sự bền vững của cả hai lĩnh vực Đặc biệt, việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển du lịch sinh thái tại các địa điểm như đảo Phú Quốc, Kiên Hải và thành phố Hà Tiên Sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường là chìa khóa cho sự phát triển bền vững trong tương lai.
Vai trò của tài nguyên rừng đối với sự phát triển du lịch
Kiên Giang là tỉnh có diện tích rừng lớn, chiếm khoảng 30% tổng diện tích đất rừng của vùng đồng bằng sông Cửu Long Nhờ vào điều kiện khí hậu, địa hình và tài nguyên đất đai, rừng Kiên Giang sở hữu những đặc điểm sinh thái độc đáo, mang lại tiềm năng và lợi thế riêng cho phát triển bền vững.
Tài nguyên thực vật rừng tại tỉnh Kiên Giang rất đa dạng, bao gồm hệ sinh thái rừng lá rộng thường xanh, rừng ngập mặn ven biển và rừng ngập nước nội địa Đặc biệt, thảm thực vật ở vùng hải đảo và vùng ngập nước theo mùa thể hiện tính đa dạng và đặc thù Đai rừng ven biển, kéo dài từ Hà Tiên đến rạch Tiểu Dừa, bao gồm rừng ngập mặn và rừng lá rộng thường xanh trên các núi thấp, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ ven biển và tạo cảnh quan cho khu du lịch nghỉ dưỡng.
Thảm thực vật rừng không chỉ tạo nên những cảnh quan thiên nhiên đặc sắc mà còn gắn liền với sự phát triển du lịch tại các khu vực nổi tiếng như Phú Quốc, Hà Tiên và Hòn Chông Các khu rừng này lưu trữ nguồn gen quý hiếm, bảo vệ nguồn nước và hỗ trợ phát triển du lịch sinh thái, từ đó tạo ra thu nhập cho người dân địa phương.
Thảm thực vật rừng trên các hòn đảo không chỉ tạo nên cảnh quan thiên nhiên xanh tươi mà còn góp phần hình thành các hệ sinh thái đa dạng, là yếu tố quan trọng trong phát triển du lịch Sự tăng trưởng và phát triển bền vững của ngành du lịch phụ thuộc vào lượng khách du lịch, trong khi đó, nguồn nước ngọt – một yếu tố thiết yếu cho du lịch – lại phụ thuộc vào thảm thực vật rừng đầu nguồn Vì vậy, tất cả các cơ sở kinh doanh du lịch trên đảo đều sử dụng dịch vụ môi trường rừng, mặc dù mức độ liên quan đến rừng có thể khác nhau.
Kiên Giang sở hữu bờ biển dài hơn 200 km, với rừng phòng hộ ven biển đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bờ biển khỏi xói lở và bảo vệ cuộc sống của người dân trước thiên tai Ngoài ra, rừng còn giúp lấn biển và mở rộng diện tích đất đai, đáp ứng nhu cầu phát triển đa dạng của xã hội.
Các khu rừng ở vùng đồng trũng ngập nước trên đất phèn không chỉ hạn chế quá trình phèn hoá mà còn là môi trường sống cho các loài thủy sản nước ngọt Những rừng này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và điều tiết nguồn nước ngọt phục vụ sinh hoạt và sản xuất, đồng thời cung cấp nhiều sản phẩm từ rừng cho người dân địa phương.
Ý nghĩa môi trường của thảm thực vật rừng trên các đảo
Rừng không chỉ mang lại giá trị về tài nguyên động thực vật mà còn đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái tự nhiên Nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến các yếu tố khí hậu và đất đai, giúp điều hòa khí hậu, giữ đất, chống xói mòn và cải tạo đất.
Với sự phát triển kinh tế xã hội mạnh mẽ trên các đảo như Phú Quốc và Kiên Hải, dân số và cơ sở hạ tầng ngày càng gia tăng, cùng với sự hình thành và mở rộng của nhiều khu du lịch, diện tích rừng lại không có dấu hiệu tăng lên Trong bối cảnh này, vai trò của rừng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, không chỉ là lá chắn gió mà còn là một hệ thống lọc không khí tự nhiên, giúp làm sạch không khí và giảm bụi bẩn.
Một hectare rừng có khả năng hấp thụ 36,4 tấn bụi mỗi năm từ không khí, trong khi nước bốc hơi từ sông, suối và biển tạo thành mây và mưa trở lại trái đất Nhờ vào thảm thực vật xanh, lượng nước khổng lồ này được hút vào bộ rễ, sau đó bốc hơi qua tán lá (khí khổng), phần còn lại thẩm thấu vào đất tạo ra các mạch nước ngầm Do đó, sự xói mòn và rửa trôi được hạn chế, cùng với quá trình mùn hóa các chất thải hữu cơ bởi vi sinh vật, động vật đất và nấm, góp phần làm cho đất trở nên màu mỡ hơn.
Hệ sinh thái rừng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì cân bằng năng lượng, vật chất và thông tin, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội Trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay, vai trò của rừng càng trở nên thiết yếu hơn bao giờ hết.
PHÂN TÍCH CÁC LOẠI DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG SẼ THỰC HIỆN VÀ CÓ TIỀM NĂNG THỰC HIỆN
Khái quát về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo quy định tại Luật Lâm nghiệp và Nghị định số 156/2018/NĐ-CP
1.1 Các loại DVMTR và các đối tượng phải chi trả tiền DVMTR
- Các loại DVMTR gồm (Điều 61 Luật Lâm nghiệp):
+ Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối.
+ Điều tiết, duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội.
Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc hấp thụ và lưu giữ carbon, góp phần giảm phát thải khí nhà kính Bằng cách hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, cũng như thực hiện quản lý rừng bền vững, chúng ta có thể thúc đẩy tăng trưởng xanh và bảo vệ môi trường.
+ Bảo vệ, duy trì vẻ đẹp cảnh quan tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng cho kinh doanh dịch vụ du lịch.
Cung cấp bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên từ rừng là yếu tố quan trọng trong nuôi trồng thủy sản Nguồn nước sạch và các yếu tố môi trường từ hệ sinh thái rừng cũng đóng vai trò thiết yếu trong việc duy trì sự phát triển bền vững của ngành này.
- Các đối tượng phải chi trả DVMTR gồm (Điều 63 Luật Lâm nghiệp)
Các cơ sở sản xuất thủy điện cần phải thanh toán phí dịch vụ liên quan đến việc bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, và bồi lắng cho lòng hồ, lòng sông, lòng suối Đồng thời, họ cũng phải thực hiện các biện pháp điều tiết và duy trì nguồn nước cần thiết cho hoạt động sản xuất thủy điện.
+ Cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch phải chi trả tiền dịch vụ về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất nước sạch;
+ Cơ sở sản xuất công nghiệp phải chi trả tiền dịch vụ về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất công nghiệp;
Các tổ chức và cá nhân hoạt động trong lĩnh vực du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và giải trí cần phải thanh toán phí dịch vụ nhằm bảo vệ và duy trì vẻ đẹp của cảnh quan tự nhiên, đồng thời góp phần bảo tồn đa dạng sinh học trong hệ sinh thái rừng.
Các tổ chức và cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh gây ra lượng khí nhà kính lớn sẽ phải chịu chi phí dịch vụ cho việc hấp thụ và lưu giữ carbon từ rừng.
Các cơ sở nuôi trồng thủy sản cần phải thanh toán cho dịch vụ cung cấp bãi đẻ, nguồn thức ăn, con giống tự nhiên, nước và các yếu tố môi trường cũng như hệ sinh thái rừng phục vụ cho hoạt động nuôi trồng.
1.2 Mức chi trả tiền DVMTR (Điều 59 Nghị định 156)
- Mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng áp dụng đối với cơ sở sản xuất thủy điện là 36 đồng/kwh điện thương phẩm.
- Mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng áp dụng đối với cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch là 52 đồng/m 3 nước thương phẩm.
- Mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng đối với cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước từ nguồn nước là 50 đồng/m 3
Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 63 của Luật Lâm nghiệp, mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng của các tổ chức và cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí tối thiểu là 1% trên tổng doanh thu thực hiện trong kỳ Mức chi trả cụ thể sẽ được xác định dựa trên điều kiện thực tiễn và thỏa thuận giữa bên cung ứng và bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng.
Doanh nghiệp nuôi trồng thủy sản hoặc liên kết với hộ gia đình, cá nhân nuôi trồng thủy sản phải chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng tối thiểu 1% tổng doanh thu trong kỳ, theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 63 của Luật Lâm nghiệp Mức chi trả cụ thể sẽ được thỏa thuận giữa bên cung ứng và bên sử dụng dịch vụ dựa trên điều kiện thực tiễn.
1.3 Các đối tượng được nhận tiền DVMTR
Tại Điều 63, Luật Lâm nghiệp quy định các đối tượng được nhận tiền chi trả DVMTR gồm:
Chủ rừng bao gồm các tổ chức như Ban quản lý rừng đặc dụng, Ban quản lý rừng phòng hộ, các doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được giao rừng, cũng như các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân Ngoài ra, còn có tổ chức khoa học, công nghệ, giáo dục về lâm nghiệp, hộ gia đình, cá nhân trong nước, cộng đồng dân cư, và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước cho thuê đất để trồng rừng sản xuất.
Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư có thể ký hợp đồng nhận khoán để bảo vệ và phát triển rừng với các chủ rừng là tổ chức do Nhà nước thành lập.
- UBND cấp xã và tổ chức khác được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng theo quy định của pháp luật.
1.4 Các hình thức chi trả tiền DVMTR
Theo Khoản 3, Điều 63 Luật Lâm nghiệp, bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng có thể thanh toán trực tiếp cho bên cung ứng dịch vụ, hoặc thông qua quỹ bảo vệ và phát triển rừng Nhà nước khuyến khích việc áp dụng hình thức chi trả trực tiếp giữa các bên, nếu có sự thỏa thuận dựa trên mức giá do Chính phủ quy định.
1.5 Quản lý, sử dụng tiền DVMTR ủy thác qua Quỹ BV&PTR tỉnh
Theo Nghị định số 156/2018/NĐ-CP, Quỹ BV&PTR tỉnh Kiên Giang có thể trích tối đa 10% số tiền DVMTR thực thu trong năm cho các chi phí bộ máy Quỹ, bao gồm chi thường xuyên và chi không thường xuyên Ngoài ra, Quỹ cũng được phép trích tối đa 5% số tiền DVMTR để lập quỹ dự phòng, sử dụng theo quy định Số tiền còn lại sau khi trừ các kinh phí quản lý và dự phòng sẽ được Quỹ BV&PTR tỉnh Kiên Giang chi trả cho các đơn vị chủ rừng và các đối tượng cung ứng DVMTR.
1.6 Quản lý, sử dụng tiền DVMTR theo hình thức trực tiếp
Tổ chức chủ rừng sử dụng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) theo quy định tại Nghị định số 156/2018/NĐ-CP Cụ thể, chủ rừng trích 10% tổng số tiền DVMTR để chi cho công tác quản lý các khu rừng cung ứng dịch vụ này Số tiền còn lại sau khi trích kinh phí quản lý sẽ được chủ rừng chi trả cho bên nhận khoán theo quy định.
Các loại DVMTR đủ điều kiện triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước tỉnh Kiên Giang cung cấp nước sinh hoạt cho 11 đơn vị hành chính trên địa bàn tỉnh, bao gồm Thành phố Rạch Giá, Thành phố Hà Tiên, huyện Kiên Lương, Hòn Chông, Hòn Đất, Tân Hiệp, Châu Thành, Giồng Riềng, An Biên, An Minh và Phú Quốc.
Theo quy định của pháp luật, các cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch có trách nhiệm chi trả tiền dịch vụ cho việc điều tiết và duy trì nguồn nước phục vụ sản xuất nước sạch.
Dịch vụ môi trường rừng liên quan đến việc "Điều tiết, duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội" đã đủ điều kiện thực hiện tại tỉnh Kiên Giang.
2.2 Bảo vệ, duy trì vẻ đẹp cảnh quan tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng cho kinh doanh dịch vụ du lịch.
2.2.1 Vườn quốc gia Phú Quốc
Phú Quốc trong tương lai sẽ trở thành một khu đô thị du lịch biển đảo hàng đầu, với mục tiêu phát triển thành trung tâm du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng chất lượng cao, đáp ứng tiêu chuẩn khu vực và quốc tế Khu vực này sẽ có môi trường sống hiện đại, xanh, thân thiện và an toàn, đồng thời là một trung tâm kinh tế năng động với các dịch vụ và giải trí cao cấp, cũng như các trung tâm thương mại và hội nghị quốc tế hiện đại Du lịch được xác định là ngành kinh tế trọng tâm, theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch xây dựng đảo Phú Quốc đến năm 2030.
Xây dựng đảo Phú Quốc theo hướng phát triển bền vững, kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa Đồng thời, cần chú trọng bảo vệ môi trường và đảm bảo an ninh quốc phòng cho vùng và quốc gia.
Để xây dựng thành phố biển đảo trở thành trung tâm du lịch và dịch vụ cao cấp, cũng như trung tâm khoa học công nghệ của quốc gia và khu vực Đông Nam Á, cần thực hiện từng bước cụ thể.
- Các khu vực phát triển du lịch tập trung:
Bãi Thơm nằm ở phía Bắc đảo, là khu resort nghỉ dưỡng sinh thái cao cấp với nhiều tiện ích như giải trí thể thao biển, sân golf và công viên chuyên đề biển Khu vực này có quy mô lên tới 375 ha, trong đó sân golf chiếm 100 ha, đồng thời còn có cơ hội tham quan các làng nghề truyền thống.
+Gành Dầu: vị trí tại phía Bắc đảo: là khu du lịch sinh thái hỗn hợp kết hợp khu dân cư làng chài truyền thống Quy mô 25 ha;
+ Rạch Tràm: vị trí phía Bắc đảo; là khu nghỉ dưỡng 4 - 5 sao, kết hợp tham quan rừng tràm, rừng ngập mặn Quy mô 102 ha;
Rạch Vẹm, nằm ở phía Tây Bắc của đảo, là một khu nghỉ dưỡng sinh thái cao cấp với quy mô 202 ha Nơi đây không chỉ mang đến không gian thư giãn mà còn kết hợp tham quan rừng sinh cảnh đặc trưng và khám phá các làng nghề truyền thống.
Bãi Dài, tọa lạc ở bờ biển phía Tây của đảo, là một khu nghỉ dưỡng cao cấp kết hợp với các hoạt động giải trí sân golf, thể thao biển và tham quan làng nghề Với quy mô lên tới 567 ha, trong đó sân golf chiếm 154 ha, Bãi Dài hứa hẹn mang đến trải nghiệm nghỉ dưỡng tuyệt vời cho du khách.
+ Vũng Bầu: vị trí bờ biển phía Tây; là khu nghỉ dưỡng 4 - 5 sao, kết hợp điểm ngắm cảnh và giải trí thể thao biển Quy mô 394 ha;
Cửa Cạn, tọa lạc ở bờ Tây đảo, là khu nghỉ dưỡng sinh thái cao cấp với quy mô 250 ha, bao gồm sân golf rộng 102 ha Tại đây, du khách có thể thưởng ngoạn cảnh đẹp, tham gia các hoạt động giải trí thể thao trên sông và biển, cũng như khám phá các làng nghề truyền thống.
+ Bãi Ông Lang: vị trí phía Nam Bãi Cửa Cạn; là khu du lịch nghỉ dưỡng sinh thái cao cấp Quy mô 200 ha;
+ Bãi Khem: vị trí nằm về phía Đông Nam của đảo; là một khu nghỉ dưỡng sinh thái cao cấp, thể thao biển Quy mô 99 ha;
Bãi Sao nằm ở bờ biển phía Đông Nam của đảo, nổi bật với vai trò là khu nghỉ dưỡng sinh thái cao cấp Nơi đây không chỉ thu hút du khách bởi các hoạt động thể thao biển đa dạng mà còn có sân golf rộng lớn với diện tích lên đến 220 ha, trong tổng quy mô 397 ha.
+ Mũi Ông Đội: vị trí ở phía Đông Nam đảo; là khu nghỉ dưỡng sinh thái cao cấp, ngắm cảnh, thể thao biển Quy mô 40 ha;
+ Bãi Đá Chồng: vị trí tại phía Đông Bắc đảo; là khu dịch vụ du lịch, khu nghỉ dưỡng sinh thái, trung tâm dịch vụ casino Quy mô 135 ha;
+ Suối Đá Bàn: vị trí trung tâm đảo, dưới chân núi Hàm Ninh; là khu du lịch sinh thái Quy mô 115 ha;
+ Quần đảo Nam An Thới: vị trí ở phía cực Nam của đảo, thuộc xã An Thới.
Hòn Thơm là khu vực du lịch sinh thái nổi bật với các hoạt động dưới tán rừng, kết hợp tham quan bảo tồn môi trường biển Du khách có thể tham gia lặn biển, thể thao biển và khám phá các làng nghề địa phương Khu vực này sẽ được chỉnh trang các khu dân cư, phát triển các khu du lịch, dịch vụ và bến du thuyền trên diện tích 150 ha.
Theo Quyết định số 31/QĐ-TTg, Khu kinh tế Phú Quốc được thành lập trên toàn bộ huyện đảo Phú Quốc với tổng diện tích 58.923 ha, trong đó Vườn quốc gia Phú Quốc chiếm 50% diện tích tự nhiên.
Các địa điểm du lịch sinh thái tại Phú Quốc thường nằm gần rừng VQG Phú Quốc, nơi cung cấp cảnh quan đẹp và khí hậu trong lành Điều này không chỉ thu hút du khách đến tham quan mà còn tạo điều kiện lý tưởng cho nghỉ dưỡng và các hoạt động vui chơi, giải trí.
Quy định của pháp luật về chi trả loại DVMTR này: Luật Lâm nghiệp (Điều
63) quy định: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí phải chi trả tiền dịch vụ về bảo vệ, duy trì vẻ đẹp cảnh quan tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng” Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp (Điều
Phân tích các loại DVMTR chưa đủ điều kiện triển khai thực hiện
3.1 Dịch vụ MTR về bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối
Cơ sở sản xuất thủy điện phải thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) để bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, sông, suối, đồng thời điều tiết và duy trì nguồn nước phục vụ cho sản xuất thủy điện.
- Lý do chưa đủ điều kiện thực hiện: Trên địa bàn tỉnh Kiên Giang không có cơ sở sản xuất thủy điện.
3.2 Dịch vụ MTR về điều tiết, duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội
Theo quy định của pháp luật, các cơ sở sản xuất công nghiệp có trách nhiệm chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) nhằm điều tiết và duy trì nguồn nước phục vụ cho hoạt động sản xuất của mình.
- Lý do chưa đủ điều kiện thực hiện: Do chưa xác định được nguồn nước cung cấp.
3.3 Dịch vụ MTR về cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn, con giống tự nhiên, nguồn nước từ rừng và các yếu tố từ môi trường, hệ sinh thái rừng để nuôi trồng thủy sản
Theo quy định pháp luật, các cơ sở nuôi trồng thủy sản có trách nhiệm chi trả tiền cho dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn, con giống tự nhiên, nguồn nước, cũng như các yếu tố từ môi trường và hệ sinh thái rừng phục vụ cho hoạt động nuôi trồng thủy sản.
Từ những bài học kinh nghiệm triển khai tại tỉnh Cà Mau và một số tỉnh khác, cần thiết phải có quy định chi tiết và cụ thể hơn về cơ chế chi trả để đảm bảo đủ điều kiện thực hiện.
3.4 Dịch vụ MTR về hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng; giảm phát thải khí nhà kính từ hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý rừng bền vững, tăng trưởng xanh
Theo quy định của pháp luật, các tổ chức và cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh gây ra lượng khí nhà kính lớn phải thực hiện nghĩa vụ chi trả tiền dịch vụ cho việc hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng.
- Lý do chưa đủ điều kiện thực hiện: Đang chờ hướng dẫn của Chính phủ; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
THỰC HIỆN CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG
Thực hiện chi trả đối với loại DVMTR về “điều tiết, duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội” của các cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch
Theo báo cáo của Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước Kiên Giang, kết quả sản xuất và kinh doanh nước sạch tại tỉnh Kiên Giang trong ba năm qua cho thấy sự phát triển đáng kể trong cung cấp nước sạch cho cộng đồng.
Bảng 3 Sản lượng nước kinh doanh nước sạch trong 3 năm gần đây Đvt: m 3
TT Đơn vị hành chánh Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019
Nguồn: Công ty TNHH MTV Cấp thoán nước Kiên Giang, năm 2020
1.2 Mức chi trả và xác định số tiền DVMTR phải chi trả
- Mức chi trả theo quy định tại Khoản 2, Điều 59, Nghị định số 156/2018/NĐ-
CP là 52 đồng/m 3 nước thương phẩm.
- Số tiền phải chi trả tính bằng:
Tổng sản lượng nước thương phẩm/năm x 52 đồng/m 3
- Số liệu sản lượng nước thương phẩm: sử dụng số liệu sản lượng nước thương phẩm do Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước Kiên Giang cung cấp.
Dự kiến, dịch vụ này sẽ mang lại khoảng 1,6 tỷ đồng mỗi năm, dựa trên số liệu trung bình của ba năm gần đây, với số tiền cụ thể cho từng năm được tính theo kết quả kinh doanh hàng năm.
Bảng 4 Số tiền chi trả DVMTR từ kinh doanh nước sạch Đvt: đồng
TT Đơn vị hành Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Bình quân chánh
TT Đơn vị hành Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Bình quân chánh
Toàn tỉnh 1.463.497.828 1.637.040.184 1.708.429.736 1.602.989.249 1.3 Phương thức chi trả ủy thác tiền DVMTR của các cơ sở SXKD nước sạch
Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước Kiên Giang sẽ ký hợp đồng ủy thác với Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Kiên Giang để sử dụng dịch vụ môi trường rừng nhằm điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất cũng như đời sống xã hội.
Hợp đồng ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Mẫu số 01 Phụ lục VI kèm theo Nghị định 156.
2 Thực hiện chi trả đối với loại DVMTR về “bảo vệ, duy trì vẻ đẹp cảnh quan tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng cho kinh doanh dịch vụ du lịch” của các cơ sở kinh doanh du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí
2.1 Lý luận về quy định các tiêu chí để xác định đối tượng kinh doanh du lịch phải chi trả tiền DVMTR
2.1.1 Quy định của Luật Lâm nghiệp và Nghị định 156/2018/NĐ-CP về đối tượng phải chi trả tiền DVMTR
Dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và duy trì vẻ đẹp cảnh quan tự nhiên, đồng thời bảo tồn đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng Theo khoản 4 Điều 61 của Luật Lâm nghiệp, việc phát triển các dịch vụ này không chỉ góp phần vào việc bảo vệ môi trường mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh dịch vụ du lịch, mang lại lợi ích kinh tế bền vững cho cộng đồng.
Tổ chức và cá nhân hoạt động trong lĩnh vực du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và giải trí có trách nhiệm chi trả tiền dịch vụ nhằm bảo vệ và duy trì vẻ đẹp của cảnh quan tự nhiên cũng như bảo tồn đa dạng sinh học trong hệ sinh thái rừng, theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 63 của Luật Lâm nghiệp.
Khoản 4 Điều 57 Nghị định 156/2018/NĐ-CP quy định rằng các tổ chức và cá nhân cung cấp dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và giải trí phải thực hiện chi trả trực tiếp cho các hoạt động như lữ hành, vận tải, lưu trú, ăn uống, mua sắm, thể thao, vui chơi giải trí, chăm sóc sức khỏe, tham quan, quảng cáo, và các dịch vụ liên quan khác phục vụ khách du lịch trong khu vực rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) của chủ rừng.
Câu “trong phạm vi khu rừng cung ứng DVMTR” có nhiều cách hiểu khác nhau Một số người nghĩ rằng nó ám chỉ đến “du lịch dưới tán rừng”, trong khi những người khác lại hiểu đây là các cơ sở du lịch cung cấp dịch vụ bên trong khu rừng.
Để phát triển bền vững ngành du lịch trên đảo Phú Quốc và các hòn đảo khác thuộc tỉnh Kiên Giang, UBND tỉnh cần quy định phạm vi khu rừng cung ứng DVMTR là toàn bộ diện tích rừng trên đảo Du lịch không chỉ là ngành kinh tế mũi nhọn mà còn cần được duy trì lâu dài, dựa vào sự bền vững của thảm thực vật rừng Nếu rừng bị tàn phá, du lịch sẽ không thể hấp dẫn du khách và phát triển bền vững Do đó, các cơ sở kinh doanh du lịch và du khách cần chi trả tiền DVMTR để bảo vệ rừng tự nhiên Hành động này sẽ được du khách ủng hộ nếu việc sử dụng nguồn tiền được công khai và minh bạch.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 62 của Luật Lâm nghiệp, tiền chi trả DVMTR được xem là một yếu tố trong giá thành sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của bên sử dụng DVMTR Điều này có nghĩa là tiền chi trả DVMTR không thuộc về cơ sở kinh doanh du lịch mà là khoản chi của khách du lịch Pháp luật cho phép các cơ sở kinh doanh du lịch hạch toán tiền chi trả DVMTR vào giá thành sản phẩm du lịch của họ.
2.1.2 Vai trò của thảm thực vật rừng và hệ sinh thái rừng ở các hòn đảo tỉnh Kiên Giang
Rừng tự nhiên trên đảo Phú Quốc và các xã đảo thuộc huyện Kiên Hải như Nam Du, An Sơn, Lại Sơn, cùng Tiên Hải thuộc TP Hà Tiên, tạo nên một hệ sinh thái phong phú và lớn Đây là điều kiện lý tưởng mà bất kỳ hòn đảo nào cũng khao khát So với đảo Singapore, có diện tích tương đương với Phú Quốc, việc sở hữu một khu rừng tự nhiên rộng lớn như vậy không phải là điều dễ dàng.
Rừng tự nhiên và núi non ở các hòn đảo tỉnh Kiên Giang tạo nên một cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, thu hút mạnh mẽ khách du lịch Nếu đảo chỉ có đồi trọc và rừng thưa thớt, du khách sẽ không có lý do để ghé thăm.
Các cơ sở kinh doanh du lịch trên các hòn đảo đều tận dụng được giá trị hấp dẫn vô hình từ thảm thực vật rừng và cảnh quan rừng, bất kể vị trí của chúng trên đảo.
Biển mang lại gió và rừng cung cấp không khí trong lành, tạo điều kiện lý tưởng cho du khách và nhà đầu tư xây dựng khách sạn tại Phú Quốc, Nam Du Những điểm đến này thu hút du khách không chỉ bởi vẻ đẹp của biển và bãi tắm mà còn nhờ vào sự hiện diện của rừng tự nhiên nhiệt đới, điều mà ít nơi nào có được, ngay cả ở các quốc gia như Thái Lan hay Indonesia.
Hệ sinh thái rừng trên các hòn đảo không chỉ mang lại trải nghiệm tắm biển và thưởng thức hải sản mà còn cung cấp cho du khách những sản phẩm du lịch sinh thái phong phú, đậm chất văn hóa bản địa Du khách có cơ hội tham quan và khám phá cảnh quan rừng, tìm hiểu về các loài động, thực vật đặc trưng trên núi, cũng như khám phá nét đẹp thiên nhiên miền Đông Nam Bộ và vùng đất ngập nước của đồng bằng sông Cửu Long.
Do đó, rừng góp phần làm đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, tăng thêm nguồn thu cho ngành du lịch và cho địa phương.
Khám phá hệ sinh thái rừng ngập nước đặc trung vùng ĐBSCL ở VQG Phú Quốc
Tham quan rừng cây họ Dầu đặc trưng vùng Đông Nam bộ tại VQG Phú Quốc
Hình 1 Một số sinh cảnh rừng tại VQG Phú Quốc