1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các rào cản ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp tại thành phố hồ chí minh

103 103 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 2,32 MB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ NGHIÊN CỨU (13)
    • 1.1. Đ ẶT VẤN ĐỀ (13)
    • 1.2. T ÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI (14)
    • 1.3. T ỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN (15)
      • 1.3.1. Các nghiên cứu trên thế giới (15)
      • 1.3.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam (17)
      • 1.3.3. Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp (18)
    • 1.4. M ỤC TIÊU NGHIÊN CỨU (19)
      • 1.4.1. Mục tiêu chung (19)
      • 1.4.2. Mục tiêu cụ thể (20)
    • 1.5. C ÂU HỎI NGHIÊN CỨU (20)
    • 1.6. Đ ỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU (20)
      • 1.6.1. Đối tượng nghiên cứu (20)
      • 1.6.2. Phạm vi nghiên cứu (20)
    • 1.7. P HƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (21)
    • 1.8. Đ ÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI (21)
    • 1.9. K ẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI (22)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (22)
    • 2.1. L Ý THUYẾT VỀ KHỞI NGHIỆP (24)
      • 2.1.1. Khái niệm khởi nghiệp, khởi sự kinh doanh (0)
      • 2.1.2. Ý định khởi nghiệp (25)
      • 2.1.3. Rào cản khởi nghiệp (26)
      • 2.1.4 Người khởi nghiệp và tiềm năng khởi nghiệp (0)
      • 2.1.5. Vai trò của khởi nghiệp (28)
    • 2.2. L Ý THUYẾT VỀ HÀNH VI , Ý ĐỊNH (29)
    • 2.3. L ƯỢC KHẢO CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN (30)
      • 2.3.1. Các mô hình nghiên cứu trên thế giới (30)
      • 2.3.2. Các mô hình nghiên cứu trong nước (34)
    • 2.4. M Ô HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU (39)
      • 2.4.2. Các giả thuyết nghiên cứu (40)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (22)
    • 3.1. Q UY TRÌNH NGHIÊN CỨU (41)
    • 3.2. N GHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH (41)
      • 3.2.1. Thiết kế thang đo nháp (42)
      • 3.2.2. Thảo luận nhóm (43)
      • 3.2.3. Kết quả nghiên cứu định tính (44)
    • 3.3. N GHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG (47)
      • 3.3.1. Thiết kế mẫu (47)
      • 3.3.2. Quy trình thu thập dữ liệu (48)
      • 3.3.3. Phương pháp phân tích số liệu (0)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (22)
    • 4.1. T HỐNG KÊ MÔ TẢ (53)
      • 4.1.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu (53)
      • 4.1.2. Thống kê mô tả các thang đo (0)
    • 4.2. K IỂM ĐỊNH THANG ĐO (57)
      • 4.2.1. Thang đo “Thiếu kiến thức và kinh nghiệm” (57)
      • 4.2.2. Thang đo “Thiếu nguồn vốn” (57)
      • 4.2.3. Thang đo “Thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao” (0)
      • 4.2.4. Thang đo “Thiếu sự tin tưởng và ủng hộ của cộng đồng” (0)
      • 4.2.5. Thang đo “Vấn đề ra quyết định” (59)
      • 4.2.6. Thang đo “Áp lực về thời gian” (0)
      • 4.2.7. Thang đo “Ý định khởi nghiệp” (59)
    • 4.3. P HÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ (EFA) (60)
      • 4.3.1. Biến độc lập (60)
      • 4.3.2. Biến phụ thuộc (62)
    • 4.4. P HÂN TÍCH HỒI QUY TUYẾN TÍNH (64)
      • 4.4.1. Mô hình hồi quy (64)
      • 4.4.2. Kiểm tra các giả định của mô hình hồi quy (66)
      • 4.4.3. Kiểm định các giả thuyết của mô hình và thảo luận các kết quả (68)
      • 4.4.4. Kiểm định sự khác biệt của các biến định tính (0)
    • 4.5. T HẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (73)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ (74)
    • 5.1. K ẾT LUẬN (74)
    • 5.2. H ÀM Ý QUẢN TRỊ (75)
      • 5.2.1. Thiếu kiến thức và kinh nghiệm (75)
      • 5.2.2. Thiếu nguồn vốn (76)
      • 5.2.3. Thiếu sự tin tưởng và ủng hộ của cộng đồng (0)
    • 5.3. K IẾN NGHỊ (78)
      • 5.3.1. Đối với Chính phủ (78)

Nội dung

GIỚI THIỆU VỀ NGHIÊN CỨU

Đ ẶT VẤN ĐỀ

Khởi nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sáng tạo, phát triển kinh tế và tạo ra việc làm cho người lao động Tại Mỹ, thu nhập trung bình đã tăng gấp 700 lần kể từ thế kỷ 19, trong khi hơn 90% tài sản và 34 triệu việc làm được tạo ra từ các doanh nghiệp khởi nghiệp trong thập niên 80 và 90.

Tại Việt Nam, các doanh nghiệp mới, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ từ khu vực tư nhân, đóng góp gần 50% GDP và thu hút khoảng 90% lao động mới Do đó, thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp là một giải pháp hiệu quả để giải quyết việc làm, tăng tính năng động của nền kinh tế và giảm tỷ lệ thất nghiệp Tuy nhiên, các yếu tố ảnh hưởng đến khởi nghiệp có thể khác nhau tùy thuộc vào động lực cá nhân, quốc gia, và thậm chí là giới tính của những người khởi nghiệp.

Tính đến hiện nay, Việt Nam đã có hàng trăm nghìn doanh nghiệp, bao gồm doanh nghiệp nhà nước, tư nhân và có vốn đầu tư nước ngoài Tinh thần khởi nghiệp kinh doanh là yếu tố quan trọng giúp hình thành lực lượng doanh nghiệp này Việc công nhận đóng góp của giới doanh nhân và xây dựng tinh thần khởi nghiệp trong thời kỳ hội nhập là cần thiết để thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

Khởi nghiệp hiện đang trở thành xu hướng toàn cầu, thúc đẩy tinh thần sáng tạo và phát huy nguồn lực xã hội Tại Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam, phong trào này đang được đẩy mạnh trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập, giúp người dân tiếp cận các cơ hội kinh doanh đa dạng Khởi nghiệp không chỉ là phương thức hiệu quả để giải quyết các vấn đề xã hội mà còn tạo ra giá trị mới cho nền kinh tế.

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, tổng số vốn đăng ký mới và bổ sung của doanh nghiệp trong tháng 1/2021 đạt 395,1 nghìn tỷ đồng, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước Cả nước có gần 10,1 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký 155,1 nghìn tỷ đồng và 115,9 nghìn lao động đăng ký, tương ứng với mức tăng 21,9% về số doanh nghiệp, 25,9% về vốn đăng ký và 37,2% về số lao động so với cùng kỳ năm 2020 Điều này cho thấy sự đóng góp quan trọng của các doanh nghiệp mới khởi sự trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế.

Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, vốn đăng ký bình quân của một doanh nghiệp mới thành lập trong tháng đạt 15,4 tỷ đồng, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước Nếu tính thêm 240 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm từ 4.015 doanh nghiệp, tổng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong tháng 01/2021 đạt 395,1 nghìn tỷ đồng, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm 2020.

Việc xây dựng và phát triển các lĩnh vực kinh doanh mới, cùng với việc thực hiện những ý tưởng sáng tạo, là điều cần thiết trong bối cảnh thị trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay Đối với nguồn nhân lực trẻ, đây không chỉ là thách thức mà còn là cơ hội để khẳng định sự sáng tạo và tài năng của bản thân.

T ÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Giai đoạn 2017 – 2025 được Chính Phủ xác định là thời kỳ vàng cho khởi nghiệp, với sự bùng nổ của nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp (DNKN) và các điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của chúng Các DNKN không chỉ tạo ra nhiều việc làm mới mà còn huy động nguồn lực từ xã hội, góp phần tích cực cho cộng đồng và truyền cảm hứng cho các tài năng kinh doanh trẻ Hơn nữa, DNKN còn thúc đẩy sự năng động của nền kinh tế thị trường, ngày càng đóng góp nhiều hơn vào tổng GDP nhờ số lượng tăng lên và sự phân bổ rộng rãi trong các ngành, lĩnh vực và địa phương.

Khởi nghiệp đang thu hút sự quan tâm mạnh mẽ từ các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu trên toàn cầu, đặc biệt là tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng khởi nghiệp không chỉ tạo ra sự tăng trưởng kinh tế mà còn góp phần vào phát triển xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của cộng đồng, đồng thời tạo ra nhiều việc làm Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện nay thường tập trung vào những yếu tố thúc đẩy khởi nghiệp hơn là những rào cản trong việc khởi sự doanh nghiệp.

Hiện tại, chưa có nghiên cứu nào về rào cản tác động đến ý định khởi nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh Việc khám phá và đo lường các yếu tố rào cản ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chính sách tạo lập môi trường khởi nghiệp Điều này cũng nhằm đề ra các giải pháp thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp cho mọi lứa tuổi và đối tượng có đam mê, nhiệt huyết Xuất phát từ lý do này, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Các rào cản ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sĩ của mình.

T ỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp là một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Nhiều công trình khoa học đã được công bố trên các tạp chí và sách báo tại Việt Nam cũng như trên toàn cầu.

1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Zahariah Mohd Zain và ctg (2010) với nghiên cứu “Entrepreneurship Intention

Nghiên cứu "Ý định kinh doanh của sinh viên kinh tế tại Malaysia" được thực hiện trên 228 sinh viên từ các trường đại học công ở Malaysia, nhằm xác định mức độ ý định kinh doanh của họ Phương pháp nghiên cứu bao gồm đánh giá độ tin cậy bằng thang đo Cronbach’s Alpha, thống kê mô tả và kiểm tra hệ số tương quan Pearson Kết quả cho thấy ý định kinh doanh của sinh viên kinh tế Malaysia đạt mức cao 67,1% Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định kinh doanh bao gồm việc tham gia các khóa học kinh doanh, ảnh hưởng từ truyền thống kinh doanh của gia đình và đặc điểm cá nhân của sinh viên.

Abdullah Azhar và ctg (2010) nghiên cứu chủ đề “Entrepreneurial Intentions among Business Students in Pakistan”, Journal of Business Systems, Governance and

Nghiên cứu trong tạp chí Ethics, Vol 5, No 2, tập trung vào việc đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến ý định kinh doanh của sinh viên kinh tế tại Pakistan Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi sử dụng thang đo Likert, với cỡ mẫu 376 từ đối tượng là sinh viên tốt nghiệp ngành kinh doanh và các doanh nhân mới Tác giả áp dụng phương pháp thống kê mô tả, đánh giá độ tin cậy bằng thang đo Cronbach’s Alpha, sử dụng hệ số tương quan Pearson và phân tích hồi quy để xử lý dữ liệu Kết quả cho thấy các yếu tố nhân khẩu học như giới tính, tuổi tác, kinh nghiệm, nền tảng giáo dục và công việc của gia đình, cùng với các yếu tố hành vi như sự thu hút chuyên nghiệp, năng lực kinh doanh, đánh giá xã hội, kinh nghiệm, kiến thức kinh doanh và giáo dục kinh doanh có ảnh hưởng lớn đến ý định kinh doanh, trong đó sự thu hút chuyên nghiệp có tác động mạnh mẽ nhất.

Wenjun Wang và ctg (2011) với nghiên cứu “Determinants of Entrepreneurial

Nghiên cứu "Ý định kinh doanh của sinh viên đại học tại Trung Quốc và Mỹ" được công bố trong Tạp chí Nghiên cứu Doanh nghiệp Toàn cầu, mùa Đông và Xuân 2011, đã so sánh các yếu tố quyết định ý định kinh doanh của sinh viên hai nước Qua khảo sát 399 sinh viên từ 3 trường đại học ở Trung Quốc và 4 trường ở Mỹ, sử dụng thang đo Likert 5 điểm và phương pháp thống kê mô tả, nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự ham muốn kinh doanh, sự sẵn sàng kinh doanh và kinh nghiệm làm việc có tác động trực tiếp đến ý định kinh doanh ở cả hai quốc gia Bên cạnh đó, nền tảng kinh doanh gia đình và tính cách doanh nhân cũng ảnh hưởng gián tiếp đến ý định kinh doanh Tuy nhiên, trong khi kinh nghiệm làm việc có tác động trực tiếp và gián tiếp đến ý định kinh doanh ở Trung Quốc, thì ở Mỹ, yếu tố này không có ảnh hưởng Ngược lại, thu nhập gia đình lại có tác động tiêu cực đến ý định kinh doanh của sinh viên Mỹ Nền tảng kinh doanh gia đình thúc đẩy sự ham muốn kinh doanh ở sinh viên Trung Quốc, trong khi lại ảnh hưởng tích cực đến sự sẵn sàng kinh doanh ở sinh viên Mỹ.

1.3.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến và cộng sự (2011) về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên ĐHQG TP Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng ý định khởi nghiệp của sinh viên chịu tác động chủ yếu bởi hai nhóm yếu tố: yếu tố cá nhân, bao gồm sự sẵn sàng kinh doanh, tính cách cá nhân và sự ham muốn kinh doanh, và yếu tố môi trường, đặc biệt là nguồn vốn Nghiên cứu được thực hiện thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp với 514 sinh viên từ các trường thành viên của ĐHQG TP HCM, và dữ liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS để kiểm định mô hình nghiên cứu.

Hoàng Thị Phương Thảo và Bùi Thị Thanh Chi (2013) đã tiến hành nghiên cứu về "Ý định khởi nghiệp của nữ học viên MBA tại TP Hồ Chí Minh" nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của nhóm đối tượng này Nghiên cứu được thực hiện với 222 nữ học viên từ các trường ĐH Kinh tế, ĐH Bách khoa và ĐH Mở TP HCM, sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu qua bảng câu hỏi gửi đến email Các phương pháp phân tích nhân tố (EFA), phân tích tương quan và hồi quy đa biến được áp dụng để kiểm định giả thuyết, cùng với phân tích mô tả để giải thích các yếu tố ảnh hưởng Kết quả cho thấy có 6 yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp, trong đó yếu tố đặc điểm cá nhân có tác động mạnh nhất Nghiên cứu này cung cấp thông tin quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách, tổ chức xã hội và cá nhân trong việc thúc đẩy khởi nghiệp từ nguồn lực nữ học viên MBA, góp phần phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ và kinh tế quốc gia.

Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2016) đã tiến hành nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên ngành Quản trị kinh doanh tại các trường đại học và cao đẳng ở Thành phố Cần Thơ Nghiên cứu thu thập dữ liệu từ 400 sinh viên và đề xuất mô hình nghiên cứu với 7 yếu tố tác động đến ý định khởi sự doanh nghiệp, bao gồm giáo dục, quy chuẩn chủ quan, kinh nghiệm làm việc, thái độ, nguồn vốn, sẵn sàng kinh doanh và sự đam mê kinh doanh Các phương pháp kiểm định như Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy tuyến tính đa biến đã được áp dụng trong nghiên cứu Kết quả cho thấy

Bài viết đề cập đến bốn yếu tố chính tác động đến ý định khởi sự doanh nghiệp (KSDN) của sinh viên ngành Quản trị kinh doanh (QTKD), bao gồm thái độ và đam mê, sự sẵn sàng kinh doanh, quy chuẩn chủ quan và giáo dục Trong số đó, thái độ và đam mê được xác định là hai yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến ý định KSDN của sinh viên.

1.3.3 Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp

Tổng hợp các nghiên cứu cho thấy nhiều yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp Tuy nhiên, do sự khác biệt về phạm vi và nội dung nghiên cứu, cũng như đặc thù nền kinh tế, văn hóa - xã hội và thời điểm nghiên cứu, các nghiên cứu trước đây mà tác giả tham khảo có những khoảng cách nhất định so với đề tài mà tác giả đang nghiên cứu.

Bảng 1.1: Bảng tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng chính của các nghiên cứu trước

STT Lý thuyết Các yếu tố ảnh hưởng

1 Zahariah Mohd Zain và ctg (2010)

(1) Tham gia các khóa học kinh doanh

(2) Ảnh hưởng từ truyền thống kinh doanh của gia đình

(5) Công việc của gia đình

(6) Sự thu hút chuyên nghiệp

(8) Đánh giá xã hội

(1) Sự ham muốn kinh doanh

(2) Sự sẵn sàng kinh doanh

4 Nguyễn Thị Yến và cộng sự (2011)

(1) Sự sẵn sàng kinh doanh

(3) Sự ham muốn kinh doanh

5 Hoàng Thị Phương Thảo và Bùi Thị

(2) Nguồn vốn cho khởi nghiệp

(4) Hỗ trợ từ gia đình

(6) Rào cản gia đình

6 Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2016)

(1) Thái độ và sự đam mê

(2) Sự sẵn sàng kinh doanh

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

M ỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu các yếu tố rào cản ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của các nhà khởi nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh nhằm xác định mức độ tác động của chúng Từ đó, nghiên cứu đề xuất các phương án hạn chế và những hàm ý quản trị nhằm gia tăng ý định khởi nghiệp trong khu vực này.

1.4.2 Mục tiêu cụ thể Đề tài nghiên cứu xác định các mục tiêu cơ bản như sau: Đầu tiên là xác định các yếu tố rào cản ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của nhóm đối tượng trẻ đang sinh sống, học tập và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh

Thứ hai, nghiên cứu này nhằm đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố rào cản đến ý định khởi nghiệp của nhóm đối tượng khảo sát đang sinh sống, học tập và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh.

Thứ ba, đề xuất hàm ý quản trị nhằm củng cố và gia tăng ý định khởi nghiệp của nhóm đối tượng khảo sát đang sinh sống, học tập và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh.

C ÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Để đạt được mục tiêu của đề tài, cần xác định rõ những rào cản ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh Việc phân tích các yếu tố này sẽ giúp hiểu rõ hơn về môi trường khởi nghiệp và từ đó đưa ra giải pháp hiệu quả nhằm thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp trong khu vực.

Thứ hai là mức độ ảnh hưởng của những yếu tố đó đến ý định khởi nghiệp như thế nào?

Sau khi phân tích các yếu tố rào cản ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh, có một số hàm ý quản trị quan trọng được đề xuất Đầu tiên, cần cải thiện môi trường kinh doanh bằng cách đơn giản hóa các thủ tục hành chính và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nhân Thứ hai, việc tăng cường đào tạo và hỗ trợ kỹ năng khởi nghiệp cho người dân sẽ giúp nâng cao khả năng cạnh tranh Cuối cùng, cần xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp mạnh mẽ hơn thông qua việc kết nối các nhà đầu tư, doanh nghiệp và các tổ chức hỗ trợ để thúc đẩy sự phát triển bền vững của các dự án khởi nghiệp.

Cuối cùng là có tồn tại sự khác biệt giữa các đối được khảo sát hay không?

Đ ỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.6.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Là các yếu tố rào cản ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh Đối tượng khảo sát: Nghiên cứu thực hiện khảo sát 400 người thuộc tất cả các đối tượng hiện đang sinh sống, học tập và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh

Phạm vi không gian: Nghiên cứu về các yếu tố rào cản ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp được thực hiện trên địa bàn TP.HCM

Thời gian nghiên cứu được thực hiện từ tháng 02/2020 đến tháng 07/2020 Dữ liệu được thu thập bao gồm dữ liệu thứ cấp từ năm 2017 đến 2020 và dữ liệu sơ cấp từ các phiếu khảo sát.

400 đối tượng đang sinh sống, học tập và làm việc tại TP.HCM.

P HƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu được thực hiện thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính Bao gồm:

Nghiên cứu định tính nhằm khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh Quá trình nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở lý thuyết và lược khảo các nghiên cứu trước đó liên quan đến đề tài, cùng với phương pháp chuyên gia để đề xuất các giả thuyết và mô hình nghiên cứu phù hợp Kết quả của nghiên cứu định tính sẽ là cơ sở để xây dựng các câu hỏi phục vụ cho việc thu thập dữ liệu trong quá trình nghiên cứu định lượng.

Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua khảo sát 400 đối tượng khởi nghiệp đang sinh sống và làm việc tại TP.HCM Bảng câu hỏi khảo sát được gửi đến đối tượng để tự trả lời, sau đó kết quả sẽ được tổng hợp và phân tích Phương pháp khảo sát bao gồm hai hình thức: khảo sát trực tiếp qua phỏng vấn và khảo sát gián tiếp thông qua email với mẫu khảo sát đã được xác định trước.

Đ ÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Nghiên cứu gần đây về khởi nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, ngoài việc xem xét ý định khởi nghiệp, cần phân tích các rào cản ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp của các đối tượng Mặc dù phong trào khởi nghiệp đang phát triển mạnh, tỷ lệ thất bại cũng đáng kể, khiến nhiều người e dè trong việc khởi nghiệp Khái niệm "Rào cản" được đưa ra nhằm giúp các nhà làm luật và chính sách hiểu rõ hơn về môi trường khởi nghiệp, từ đó có thể đề xuất các hành động cụ thể để thúc đẩy ý định khởi nghiệp Việc này không chỉ góp phần tăng cường số lượng và chất lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa mà còn đóng góp quan trọng vào GDP Việt Nam.

K ẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI

Luận văn bao gồm 5 chương, kèm theo các phần như lời cảm ơn, lời cam đoan, danh mục chữ viết tắt, danh mục các bảng, danh mục các hình, và danh mục tài liệu tham khảo cùng các phụ lục.

Lý do chọn đề tài nghiên cứu này xuất phát từ nhu cầu tìm hiểu sâu sắc về vấn đề cụ thể trong lĩnh vực liên quan Mục tiêu nghiên cứu nhằm khám phá và giải đáp các câu hỏi nghiên cứu chính, tập trung vào đối tượng và phạm vi nghiên cứu rõ ràng Phương pháp nghiên cứu được áp dụng sẽ đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả Tổng quan đề tài sẽ cung cấp cái nhìn tổng quát về các khía cạnh của vấn đề, trong khi việc làm rõ ý nghĩa thực hiện đề tài sẽ nhấn mạnh tầm quan trọng và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu Cuối cùng, bố cục của đề tài sẽ được sắp xếp một cách logic, giúp người đọc dễ dàng theo dõi và hiểu rõ nội dung nghiên cứu.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

L Ý THUYẾT VỀ KHỞI NGHIỆP

2.1.1 Khái niệm khởi nghiệp, khởi sự kinh doanh

Khởi nghiệp là một thuật ngữ rộng, được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Theo từ điển Tiếng Việt, khởi nghiệp có nghĩa là bắt đầu sự nghiệp Trong tiếng Anh, thuật ngữ này được gọi là Entrepreneurship (hay Start-up), có nguồn gốc từ tiếng Pháp "Entreprendre", mang ý nghĩa là sự đảm đương.

Khởi nghiệp là một quá trình bền vững bắt đầu từ việc nhận biết cơ hội, phát triển ý tưởng và thành lập doanh nghiệp mới Theo tổ chức Global Entrepreneurship Monitor (GEM), doanh nghiệp mới sẽ trải qua ba giai đoạn: hình thành, phát triển ý tưởng và duy trì, phát triển doanh nghiệp Các học giả trong lĩnh vực kinh tế lao động cho rằng khởi nghiệp là sự lựa chọn giữa việc làm thuê và tự tạo việc làm cho bản thân.

Khởi nghiệp là quá trình chấp nhận rủi ro để tự làm chủ và tạo lập một doanh nghiệp mới, trong đó người khởi nghiệp có thể thuê người khác làm việc cho mình Được định nghĩa là việc cá nhân tận dụng cơ hội thị trường và năng lực bản thân để xây dựng một công việc kinh doanh mới, khởi nghiệp không chỉ mang lại cơ hội phát triển cá nhân mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế.

Khởi sự kinh doanh là quá trình bắt đầu và xây dựng một công việc kinh doanh mới Từ trước đến nay, có hai cách tiếp cận chính trong việc khởi nghiệp.

 Từ góc độ lựa chọn nghề nghiệp

Khởi sự kinh doanh là lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân, cho phép họ tự tạo việc làm cho chính mình thay vì làm thuê cho người khác Đây là quyết định của những người không sợ rủi ro, muốn làm chủ công việc kinh doanh của mình và có khả năng thuê người khác làm việc cho họ Làm thuê có nghĩa là làm việc cho một doanh nghiệp hoặc tổ chức do người khác sở hữu, trong khi khởi sự kinh doanh thể hiện sự tự chủ và khả năng tự mở doanh nghiệp.

 Từ góc độ tạo dựng doanh nghiệp mới

Khởi sự kinh doanh được định nghĩa bởi Wortman (2005) là quá trình mà một cá nhân chấp nhận rủi ro để thành lập một doanh nghiệp mới và tự làm chủ với mục tiêu làm giàu Điều này bao gồm việc bắt đầu tạo lập một công việc kinh doanh mới thông qua việc đầu tư vốn hoặc mở cửa hàng kinh doanh.

Khởi sự kinh doanh và tự tạo việc làm có sự khác biệt nhất định Tự tạo việc làm nhấn mạnh việc làm chủ bản thân mà không làm thuê cho ai, trong khi khởi sự kinh doanh có thể bao gồm việc thành lập doanh nghiệp mới để tận dụng cơ hội thị trường, nhưng vẫn có thể thuê người khác quản lý Dù có sự khác biệt, cả hai đều đề cập đến việc cá nhân hoặc nhóm tạo dựng một công việc kinh doanh mới.

2.1.1.3 Phân biệt khởi nghiệp và khởi sự kinh doanh

Khởi nghiệp là quá trình nhận diện cơ hội, phát triển ý tưởng, thành lập doanh nghiệp và duy trì, phát triển hoạt động kinh doanh Trong khi đó, khởi sự kinh doanh là lựa chọn để tạo dựng một công việc kinh doanh mới.

Khởi nghiệp thường bắt đầu từ việc bạn chỉ có vốn và hai bàn tay trắng, không phải khi bạn đã có sẵn cơ sở để phát triển Khởi sự kinh doanh hiểu đơn giản là việc bắt đầu một công việc kinh doanh mới, trong khi vẫn có thể tồn tại các công việc kinh doanh khác Dưới đây là một số điểm khác biệt giữa khởi nghiệp và khởi sự kinh doanh theo sự tìm hiểu của tác giả.

Ý định khởi sự kinh doanh là trạng thái nhận thức trước khi thực hiện hành vi, thể hiện mức độ cam kết về việc thành lập doanh nghiệp trong tương lai (Krueger, 2003; 1993) Theo Bird (1988), ý định này phản ánh tâm lý cá nhân hướng tới việc thiết lập hoạt động kinh doanh Shapero và Sokol (1982) cho rằng những người có ý định khởi sự kinh doanh là những cá nhân sẵn sàng nắm bắt cơ hội kinh doanh hấp dẫn Hành động khởi sự sẽ xảy ra khi cá nhân có thái độ tích cực và ý định rõ ràng về hành động đó Một ý định mạnh mẽ sẽ dẫn đến nỗ lực để bắt đầu công việc kinh doanh, quan điểm này cũng được Krueger và Brazeal ủng hộ.

Theo nghiên cứu của tác giả năm 1994, những người có ý định khởi sự kinh doanh thường chấp nhận rủi ro và thực hiện các hoạt động cần thiết khi nhận thấy cơ hội kinh doanh Begley và Tan (2001) cho rằng những cá nhân này chưa thực hiện bất kỳ hành vi cụ thể nào để khởi sự kinh doanh, như tìm kiếm cơ hội hay huy động vốn, nhưng họ vẫn mang trong mình khát khao và niềm tin tích cực vào khả năng thành công trong việc khởi nghiệp.

Như vậy, ý định khởi sự kinh doanh có khả năng dự báo chính xác các hành vi khởi sự kinh doanh trong tương lai

Rào cản, theo từ điển Tiếng Việt, là những yếu tố gây khó khăn hoặc cản trở sự tiếp cận và phát triển của cá nhân hoặc tổ chức trong một lĩnh vực nào đó Những yếu tố này có thể mang lại ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực trong quá trình phát triển.

2.1.3.2 Yếu tố rào cản trong khởi nghiệp

Theo Wagner (2010), rào cản khởi nghiệp là những yếu tố cản trở hoặc kìm hãm sự gia nhập và phát triển của một yếu tố mới trong thị trường hiện tại.

Nói cách khác, rào cản khởi nghiệp là những yếu tố làm chậm hoặc ngăn chặn ý định khởi sự kinh doanh Các yếu tố đó có thể là:

- Rào cản về yếu tố chính trị: chính sách, pháp luật về kinh doanh

- Rào cản về kiến thức của đối tượng khởi sự kinh doanh

- Rào cản thuộc về yếu tố cộng đồng, gia đình

- Rào cản từ chính bản thân đối tượng khởi sự kinh doanh (giới tính, niềm tin vào bản thân, )

- Hạn chế trong việc tiếp cận nguồn vốn

2.1.4 Người khởi nghiệp và tiềm năng khởi nghiệp

Người khởi nghiệp là người sáng lập doanh nghiệp mới nhằm cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ cho thị trường Theo Knight (1921), họ là những người dự đoán và hành động dựa trên sự thay đổi và không chắc chắn của thị trường McClelland (1961) cho rằng người khởi nghiệp có nhu cầu cao về thành công, là người năng động và dám nghĩ dám làm, luôn tìm kiếm sự thay đổi và khai thác cơ hội Drucker (1964) nhấn mạnh rằng người khởi nghiệp hiệu quả biết cách chuyển đổi nguồn lực sẵn có thành tài nguyên có thể khai thác Shapero (1981) định nghĩa người khởi nghiệp là những người nắm bắt cơ hội để thành lập doanh nghiệp khi có điều kiện thuận lợi Bird (1988) mô tả họ là những người tạo dựng công việc kinh doanh mới, trong khi MacMillan và Katz (1992) xác định người khởi nghiệp là những người kiếm tiền thông qua việc bắt đầu hoặc quản lý các doanh nghiệp có tính rủi ro.

Những người có tiềm năng khởi nghiệp kinh doanh thường là những cá nhân nhạy bén với các cơ hội kinh doanh mà họ nhận thấy Họ không ngại đối mặt với thách thức, chấp nhận rủi ro và dám mạo hiểm để hiện thực hóa ước mơ của mình.

L Ý THUYẾT VỀ HÀNH VI , Ý ĐỊNH

Mô hình hành vi dự định của Ajzen (1991) cho thấy rằng hành vi con người thường được lập kế hoạch và có thể dự đoán được thông qua ý định Thuyết này đề cập đến ba yếu tố chính: (i) thái độ của cá nhân đối với hành vi, (ii) chuẩn mực chủ quan, và (iii) nhận thức về khả năng kiểm soát hành vi Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ý định và hành vi của con người.

Thái độ, theo định nghĩa của Fishbein và Ajzen (1975), là niềm tin về một hành vi cụ thể, từ đó con người sẽ suy nghĩ, đánh giá và phản ứng với hành vi đó Thái độ phản ánh mức độ cá nhân phản ứng tích cực hoặc tiêu cực đối với hành vi, như đã được Liủỏn (2004) chỉ ra.

Chuẩn mực chủ quan, theo Ajzen (1991), là nhận thức về tác động của xã hội lên cá nhân Điều này có nghĩa là cá nhân có thể thay đổi suy nghĩ của mình khi bị ảnh hưởng bởi ý kiến của người xung quanh hoặc những định kiến trong xã hội.

Nhận thức về khả năng kiểm soát đối với hành vi là mức độ nhận biết sự dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi, từ đó cá nhân tự điều tiết hành vi và suy nghĩ của bản thân (Ajzen, 1991) Khả năng kiểm soát đối với hành vi có thể được hình thành từ kinh nghiệm hoặc do cá nhân có khả năng dự đoán tương lai.

Hình 2.1: Mô hình về ý định của Ajzen (1991)

L ƯỢC KHẢO CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

2.3.1 Các mô hình nghiên cứu trên thế giới

2.3.1.1 Mô hình của Shapero và Sokol (1982)

Mô hình này phân tích việc thành lập doanh nghiệp mới như một sự kiện kinh doanh, được giải thích qua sự tương tác giữa các yếu tố thuộc hoàn cảnh như sáng kiến, tập trung nguồn lực, quản lý, quyền tự chủ tương đối và rủi ro Quyết định lựa chọn kinh doanh phụ thuộc vào một số thay đổi bên ngoài Theo nghiên cứu của Peterman và Kennedy (2003), sự lựa chọn cá nhân để bắt đầu một công việc kinh doanh phụ thuộc vào ba yếu tố: (i) thay đổi trong đời sống, (ii) cảm nhận về mong muốn khởi sự kinh doanh, và (iii) cảm nhận tính khả thi của việc khởi sự kinh doanh.

Theo mô hình này, ý định khởi sự kinh doanh xuất hiện khi cá nhân nhận thấy một cơ hội khả thi và mong muốn nắm bắt Để chuyển đổi ý định thành hành động, cần có những chất xúc tác, thường là những thay đổi trong cuộc sống Những thay đổi này có thể mang tính tiêu cực như nợ nần hay khó khăn trong gia đình (nhân tố đẩy), hoặc tích cực như có nguồn tài trợ và nhận diện cơ hội kinh doanh (nhân tố kéo).

Yếu tố cảm nhận về mong muốn khởi sự kinh doanh phản ánh suy nghĩ của cá nhân về sự hấp dẫn của việc này, được hình thành từ văn hóa, gia đình, bạn bè và người thân Những cá nhân sống trong xã hội coi trọng doanh nhân thường có xu hướng muốn trở thành doanh nhân Tương tự, nếu gia đình, bạn bè và người thân của một cá nhân là doanh nhân, họ cũng sẽ có xu hướng thích trở thành doanh nhân.

Yếu tố cảm nhận tính khả thi khởi sự kinh doanh phản ánh suy nghĩ cá nhân về khả năng thực hiện các hành vi tương ứng Khi cá nhân nhận thức rõ tính khả thi của công việc trong tương lai, họ có xu hướng khởi sự kinh doanh Hỗ trợ tài chính, sức ảnh hưởng của doanh nhân thành đạt, và sự tư vấn từ các thể chế trong quá trình thành lập và vận hành sẽ nâng cao cảm nhận về tính khả thi của cá nhân.

Cảm nhận về mong muốn khởi sự kinh doanh và tính khả thi có mối tương tác chặt chẽ: nếu cá nhân nhận thức rằng khởi nghiệp là không khả thi, họ có thể không có mong muốn bắt đầu Sự khát khao này ảnh hưởng đến "sự kiện kinh doanh" thông qua hệ thống giá trị cá nhân và xã hội, bao gồm gia đình, bạn bè và môi trường giáo dục Tính khả thi bị tác động bởi các yếu tố như kỹ năng cá nhân, rủi ro tiềm ẩn trong kế hoạch kinh doanh, cùng với nguồn lực về con người và tài chính.

Mô hình này đã được kiểm định bởi các nhà nghiên cứu khác như Krueger và Brazeal (1994), Miar và Noboa (2003)

Hình 2.2: Thang đo ý định khởi sự kinh doanh của Shapero và Sokol (1982)

(Nguồn: Shapero và Sokol, 1982) 2.3.1.2 Mô hình của Krueger và Brazeal (1994)

Hai tác giả đã tiếp nối quan điểm của Shapero và Sokol (1982) và Ajzen

Theo quan điểm của tác giả vào năm 1991, một cá nhân có mong muốn khởi sự kinh doanh và cảm nhận về tính khả thi sẽ có tiềm năng để bắt đầu doanh nghiệp Trước khi trở thành doanh nhân, cá nhân cần có tiềm năng kinh doanh, do đó, tác giả đã áp dụng quan điểm tâm lý xã hội và xem xét các yếu tố môi trường để phát triển mô hình nghiên cứu Mô hình này nhấn mạnh tiềm năng của việc khởi nghiệp, bao gồm tính khả thi, sự khát khao và xu hướng hành động, trong đó xu hướng hành động thể hiện cam kết của cá nhân trong việc thực hiện các quyết định đã đưa ra.

Hình 2.3: Thang đo ý định khởi sự kinh doanh của Krueger và Brazeal (1994)

(Nguồn: Krueger và Brazeal, 1994) 2.3.1.3 Mô hình của Lüthje và Franke (2004)

Lüthje và Franke (2004) chỉ ra rằng ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên chịu ảnh hưởng từ hai yếu tố chính: yếu tố nội tại (đặc điểm cá nhân) và yếu tố môi trường bên ngoài (thị trường, tài chính, môi trường giáo dục) Các tác giả nhấn mạnh rằng yếu tố môi trường bên ngoài, đặc biệt là môi trường giáo dục đại học, có tác động trực tiếp đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên.

Hình 2.4: Thang đo ý định khởi sự kinh doanh của Lüthje và Franke (2004)

Tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên, bao gồm giới tính, nền tảng gia đình, cảm nhận về khát khao, cảm nhận về tính khả thi và ảnh hưởng xã hội.

Nghiên cứu chỉ ra rằng giới tính và nền tảng gia đình là hai yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên Nam sinh viên có xu hướng khởi sự kinh doanh cao hơn nữ giới Nền tảng gia đình và sự ảnh hưởng từ cha mẹ đóng vai trò nổi bật trong việc hình thành thái độ đối với tinh thần kinh doanh, đặc biệt nếu gia đình có truyền thống kinh doanh Những người có gia đình làm về kinh doanh có xu hướng khởi sự kinh doanh cao hơn so với những người không có.

Nghiên cứu chỉ ra rằng sự nhìn nhận tích cực về cơ hội kinh doanh và khao khát thực hiện công việc này có ảnh hưởng mạnh mẽ đến ý định khởi sự kinh doanh Ảnh hưởng xã hội, bao gồm áp lực từ gia đình, bạn bè và môi trường giáo dục, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhận thức của cá nhân về việc thực hiện hành vi khởi nghiệp Kuehn (2008) cho rằng những cá nhân có mối quan hệ xã hội tốt sẽ có hiệu suất cao hơn trong khởi sự kinh doanh Ngoài ra, sinh viên đến từ các môi trường tích cực với "tinh thần kinh doanh" sẽ có sự củng cố và tăng cường ý định khởi nghiệp của mình.

Hình 2.5: Thang đo ý định khởi sự kinh doanh của Wilbard (2009)

2.3.1.5 Mô hình của Wongnaa và Seyram (2014)

Nghiên cứu này phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp của sinh viên Đại học Bách khoa Kumasi Kết quả cho thấy rằng tính cách, sự hỗ trợ từ gia đình và bạn bè, nghề nghiệp của cha mẹ, môi trường giáo dục khuyến khích tinh thần kinh doanh, giới tính và khả năng tiếp cận tài chính đều có tác động tích cực đến quyết định khởi sự kinh doanh của sinh viên.

Nghiên cứu cho thấy sinh viên có tính cách hướng ngoại và ổn định cảm xúc có khả năng khởi sự kinh doanh cao hơn Sự hỗ trợ từ gia đình và bạn bè đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh tâm trí của sinh viên Những cá nhân sinh ra trong gia đình có truyền thống kinh doanh thường có xu hướng khởi sự kinh doanh nhiều hơn Thiếu giáo dục tinh thần kinh doanh dẫn đến mức độ thấp trong ý định khởi sự kinh doanh, đặc biệt là ở sinh viên nam so với sinh viên nữ Hơn nữa, sinh viên có điều kiện tiếp cận tài chính tốt thường thể hiện sự nhiệt tình và tham vọng trong việc khởi nghiệp hơn những người có nguồn lực tài chính hạn chế.

Hình 2.6: Thang đo ý định khởi sự kinh doanh Wongnaa và Seyram (2014)

2.3.2 Các mô hình nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu của Bùi Huỳnh Tuấn Duy và cộng sự (2011) tập trung vào các sinh viên tại trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Mục tiêu của nhóm tác giả là khám phá những yếu tố ảnh hưởng đến tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên bằng cách áp dụng mô hình Entrepreneur Scan được phát triển bởi hai tác giả Driessen và Zwart.

Nghiên cứu năm 1999 về tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Bách Khoa chỉ ra rằng có bảy yếu tố chính ảnh hưởng đến khả năng này, bao gồm nhu cầu thành đạt, nhu cầu tự chủ, định hướng xã hội, sự tự tin, khả năng am hiểu thị trường, khả năng sáng tạo và khả năng thích ứng Trong số đó, nhu cầu tự chủ có tác động ngược chiều đến mô hình, trong khi sáu yếu tố còn lại đều tác động tích cực.

Hình 2.7: Mô hình ý định KSKD của Bùi Huỳnh Tuấn Duy và cộng sự (2011)

(Nguồn: Bùi Huỳnh Tuấn Duy và cộng sự, 2011)

Nguyễn Doãn Chí Luân (2012) cho rằng ý định khởi nghiệp được hình thành từ các yếu tố nội tại như cảm nhận sự khát khao và tính khả thi, cùng với các yếu tố bên ngoài như chuẩn mực xã hội, môi trường giáo dục đại học, và điều kiện thị trường, tài chính Nghiên cứu đã chỉ ra bốn yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, với mức độ tác động giảm dần theo thứ tự: cảm nhận sự khát khao, điều kiện thị trường và tài chính, cảm nhận tính khả thi, và môi trường giáo dục đại học Đặc biệt, chuẩn mực xã hội không có tác động đến ý định khởi nghiệp trong nghiên cứu này.

Hình 2.8: Mô hình ý định khởi sự kinh doanh của Nguyễn Doãn Chí Luân (2012)

(Nguồn: Nguyễn Doãn Chí Luân, 2012)

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Q UY TRÌNH NGHIÊN CỨU

Để hoàn thành bài nghiên cứu theo các mục tiêu đã đề ra, tác giả đã xây dựng quy trình nghiên cứu cụ thể.

Hình 3.1: Quy trình thực hiện nghiên cứu

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)

N GHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH

Mục đích của nghiên cứu định tính là kiểm tra, sàng lọc và xác định mối quan hệ giữa các biến trong mô hình lý thuyết ban đầu, được hình thành từ cơ sở lý thuyết Nghiên cứu này cũng nhằm điều chỉnh thang đo đã được sử dụng trong các nghiên cứu trước đó, do sự khác biệt về văn hóa có thể gây hiểu nhầm cho người đọc Trong giai đoạn nghiên cứu định tính, tác giả thực hiện thảo luận nhóm tập trung dựa trên thang đo nháp đã xây dựng, từ đó loại bỏ những biến không phù hợp và bổ sung các biến mới phù hợp hơn Cuối cùng, nghiên cứu tổng hợp lại để xây dựng thang đo chính thức áp dụng cho toàn bộ bài nghiên cứu.

3.2.1 Thiết kế thang đo nháp

Thang đo nháp được xây dựng dựa trên sự tổng hợp của tác giả từ các tài liệu nghiên cứu có liên quan trước đó Cụ thể:

Bảng 3.1: Thang đo nháp của bài nghiên cứu

Ký hiệu Biến quan sát Nguồn

Thiếu kiến thức và kinh nghiệm

KT1 Các khởi nghiệp còn thiếu nhiều kiến thức thực tế

Shapero và Sokol (1982); Wilbard (2009); Wongnaa và Seyram (2014); Nguyễn Doãn Chí Luân (2012); Nguyễn Thu Thủy (2015)

KT2 Các chương trình đào tạo được chưa trang bị kiến thức cần thiết cho các khởi nghiệp

KT3 Các khởi nghiệp còn thiếu nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh

KT4 Các khởi nghiệp chưa có nhiều điều kiện để cọ xát và thử nghiệm

Shapero và Sokol (1982); Krueger và Brazeal (1994); Lüthje và Franke (2004); Bùi Huỳnh Tuấn Duy và cộng sự (2011); Nguyễn Doãn Chí Luân (2012)

NV1 Nguồn vốn để khởi nghiệp rất khó khăn

Các khởi nghiệp sẽ gặp rủi ro về nguồn vốn vay trong quá trình kinh doanh

Các khởi nghiệp khó có thể huy động vốn từ những nguồn vốn khác (ngân hàng, quỹ tín dụng…)

Các khởi nghiệp gặp trở ngại khi phải vay mượn tiền từ bạn bè, người thân để kinh doanh

Thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao

Wilbard (2009); Wongnaa và Seyram (2014); Bùi Huỳnh Tuấn Duy và cộng sự (2011); Nguyễn Doãn Chí Luân (2012); Nguyễn Thu Thủy (2015)

NL1 Nguồn nhân lực cho khởi nghiệp thường có chất lượng thấp

Nguồn nhân lực cho khởi nghiệp thường là những đối tượng còn rất trẻ nên chưa có nhiều kinh nghiệm

NL3 Nguồn nhân lực cho khởi nghiệp thường tự phát và chưa được qua đào tạo

NL4 Thiếu nguồn nhân lực có chất lượng cao

Ký hiệu Biến quan sát Nguồn

Thiếu sự tin tưởng và ủng hộ của cộng đồng

Shapero và Sokol (1982); Nguyễn Doãn Chí Luân (2012); Nguyễn Thu Thủy

TT1 Các khởi nghiệp sẽ thiếu sự ủng hộ của cộng đồng

TT2 Các khởi nghiệp chưa mang lại niềm tin cho cộng đồng

TT3 Cộng đồng chưa biết và tin tưởng về các sản phẩm, dịch vụ mà các khởi nghiệp tạo ra

Vấn đề ra quyết định

QD1 Các khởi nghiệp gặp khó khăn khi phải ra nhiều quyết định trong kinh doanh

Shapero và Sokol (1982); Krueger và Brazeal (1994); Lüthje và Franke (2004); Bùi Huỳnh Tuấn Duy và cộng sự (2011); Nguyễn Doãn Chí Luân (2012); Nguyễn Thu Thủy (2015)

QD2 Có nhiều quyết định liên quan đến khởi nghiệp

QD3 Quyết định không chính xác sẽ gặp khó khăn trong quá trình khởi nghiệp Áp lực về thời gian

TG1 Khi khởi nghiệp sẽ mất nhiều thời gian cho các dự án kinh doanh

Lüthje và Franke (2004); Wilbard (2009); Wongnaa và Seyram (2014); Bùi Huỳnh Tuấn Duy và cộng sự (2011); Nguyễn Doãn Chí Luân (2012)

TG2 Quá trình thực hiện các dự án khởi nghiệp sẽ gây áp lực về tiến độ và hiệu quả của dự án

TG3 Các khởi nghiệp sẽ phải hy sinh nhiều thời gian cho dự án thay vì các sở thích cá nhân Ý định khởi nghiệp

YD1 Tôi quyết định sẽ tạo ra một công ty trong tương lai

Krueger và Brazeal (1994); Lüthje và Franke (2004); Wilbard (2009); Bùi Huỳnh Tuấn Duy và cộng sự (2011); Nguyễn Doãn Chí Luân (2012); Nguyễn Thu Thủy (2015)

YD2 Tôi muốn được tự làm chủ

YD3 Tôi có một ý định mạnh mẽ để bắt đầu một doanh nghiệp

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)

Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua kỹ thuật thảo luận nhóm tập trung với sự tham gia của 10 chuyên gia có chuyên môn và kinh nghiệm trong lĩnh vực khởi nghiệp Mục tiêu của thảo luận là xác định các biến quan sát, bao gồm biến phụ thuộc và biến độc lập trong mô hình nghiên cứu Các chuyên gia được yêu cầu nhận xét ý nghĩa từng biến và đưa ra các góp ý cải thiện Nội dung bảng câu hỏi trong phần thảo luận nhóm cũng được trình bày tại Phụ lục 02.

3.2.3 Kết quả nghiên cứu định tính

- Ý kiến của đáp viên về các khái niệm của nghiên cứu

Các đáp viên đều nhận thức rõ về ý định khởi sự kinh doanh, coi đây là hành vi chưa xảy ra Họ cho rằng ý định này chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố, bao gồm cả tính cách cá nhân và các yếu tố bên ngoài.

Kiến thức và kinh nghiệm cá nhân đóng vai trò quan trọng trong quyết định khởi nghiệp của mỗi người Các nghiên cứu cho thấy việc thiếu hụt kiến thức và kinh nghiệm là một yếu tố quyết định ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp Nabi và Holden (2008) chỉ ra rằng kinh nghiệm sống và việc học hỏi về lập nghiệp giúp cá nhân chuyển đổi ý định khởi nghiệp thành hành động thực tế Sinh viên có kinh nghiệm kinh doanh tích lũy trong quá trình học tập thường có lợi thế cao hơn và ý định khởi nghiệp rõ ràng hơn so với những người chưa có kinh nghiệm (Devonish và cộng sự, 2010).

Khi quyết định hỗ trợ khởi nghiệp, nhà đầu tư luôn cân nhắc cơ hội thành công của dự án Dù nguồn vốn đầu tư có dồi dào, không phải dự án nào cũng được nhận hỗ trợ tài chính Thiếu nguồn vốn sẽ gây ra nhiều khó khăn trong việc triển khai dự án, trở thành rào cản lớn ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của cá nhân và doanh nghiệp tại TP.HCM.

Nguồn lực chất lượng là yếu tố then chốt cho thành công trong mọi lĩnh vực, đặc biệt trong khởi nghiệp Nếu đội ngũ đồng hành thiếu chuyên môn và kinh nghiệm, khả năng thành công của dự án sẽ bị hạn chế Việc bố trí đúng người vào đúng vị trí cũng là một vấn đề quan trọng cần xem xét Hơn nữa, chế độ đãi ngộ và giữ chân nhân tài của các chủ doanh nghiệp hiện nay còn yếu, điều này cần được cải thiện để nâng cao hiệu quả hoạt động.

Sự tin tưởng và ủng hộ của cộng đồng là yếu tố quan trọng trong việc khởi nghiệp Các nhà sáng lập thường gặp khó khăn khi từ bỏ sự thoải mái trong môi trường quen thuộc để theo đuổi kinh doanh Nếu không có sự hỗ trợ từ gia đình và bạn bè, họ có thể đối mặt với nhiều thử thách Để thuyết phục gia đình, cần có thời gian để giải thích về kế hoạch kinh doanh và cách hạn chế rủi ro Khi mọi người hiểu rõ những nỗ lực và tâm huyết bạn đã bỏ ra, họ sẽ dễ dàng ủng hộ bạn hơn.

Mỗi chủ doanh nghiệp phải đối mặt với hàng trăm quyết định mỗi ngày, từ những vấn đề lớn như cơ cấu công ty cho đến những chi tiết nhỏ như giờ làm việc Sự mệt mỏi do phải ra quyết định là một hiện tượng phổ biến mà hầu hết các doanh nhân khởi nghiệp đều trải qua, đặc biệt nếu họ không chuẩn bị cho áp lực mới Đây là một trong những thử thách gian truân nhất mà họ phải đối mặt, yêu cầu sự kiên nhẫn và chiến đấu không ngừng.

Áp lực về thời gian trong khởi nghiệp là một yếu tố quan trọng Thời gian chuẩn bị kéo dài mà không thu được lợi nhuận sẽ dẫn đến lỗ vốn ngày càng lớn Nếu bạn liên tục phải bù đắp cho những tổn thất kéo dài, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc duy trì hoạt động Vì vậy, nhiều công ty khởi nghiệp hiện nay đặt mục tiêu đạt được lợi nhuận trong vòng 2-3 tháng đầu hoạt động.

- Ý kiến về thang đo nghiên cứu

Dựa trên kết quả nghiên cứu định tính, từ 30 biến quan sát ban đầu, 6 yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên đã được điều chỉnh và sử dụng trong thang đo dự kiến.

Yếu tố Kiến thức và kinh nghiệm: các phát biểu đưa ra được giữ nguyên, không điều chỉnh

Yếu tố Nguồn vốn: các phát biểu được giữ nguyên, không điều chỉnh

Yếu tố Nguồn lực có chất lượng: các phát biểu được giữ nguyên, không điều chỉnh

Yếu tố Sự tin tưởng và ủng hộ của cộng đồng: các phát biểu được giữ nguyên, không điều chỉnh

Các yếu tố quyết định bao gồm: vấn đề ra quyết định, áp lực về thời gian và ý định khởi nghiệp Tất cả các phát biểu liên quan đến những yếu tố này đều được giữ nguyên mà không có bất kỳ điều chỉnh nào.

Sau buổi thảo luận nhóm, tác giả đã tổng hợp ý kiến và xây dựng thang đo chính thức cho toàn bài.

Bảng 3.2: Thang đo chính thức của bài nghiên cứu

Mã hoá Biến quan sát

Thiếu kiến thức và kinh nghiệm

KT1 Các khởi nghiệp còn thiếu nhiều kiến thức thực tế

KT2 Các chương trình đào tạo được chưa trang bị kiến thức cần thiết cho các khởi nghiệp

KT3 Các khởi nghiệp còn thiếu nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh

KT4 Các khởi nghiệp chưa có nhiều điều kiện để cọ xát và thử nghiệm

NV1 Nguồn vốn để khởi nghiệp rất khó khăn

NV2 Các khởi nghiệp sẽ gặp rủi ro về nguồn vốn vay trong quá trình kinh doanh NV3

Các khởi nghiệp khó có thể huy động vốn từ những nguồn vốn khác (ngân hàng, quỹ tín dụng…)

Các khởi nghiệp gặp trở ngại khi phải vay mượn tiền từ bạn bè, người thân để kinh doanh

Thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao

NL1 Nguồn nhân lực cho khởi nghiệp thường có chất lượng thấp

NL2 Nguồn nhân lực cho khởi nghiệp thường là những đối tượng còn rất trẻ nên chưa có nhiều kinh nghiệm

NL3 Nguồn nhân lực cho khởi nghiệp thường tự phát và chưa được qua đào tạo NL4 Thiếu nguồn nhân lực có chất lượng cao

Thiếu sự tin tưởng và ủng hộ của cộng đồng

TT1 Các khởi nghiệp sẽ thiếu sự ủng hộ của cộng đồng

TT2 Các khởi nghiệp chưa mang lại niềm tin cho cộng đồng

TT3 Cộng đồng chưa biết và tin tưởng về các sản phẩm, dịch vụ mà các khởi nghiệp tạo ra

Vấn đề ra quyết định

QD1 Các khởi nghiệp gặp khó khăn khi phải ra nhiều quyết định trong kinh doanh QD2 Có nhiều quyết định liên quan đến khởi nghiệp

QD3 Quyết định không chính xác sẽ gặp khó khăn trong quá trình khởi nghiệp Áp lực về thời gian

TG1 Khi khởi nghiệp sẽ mất nhiều thời gian cho các dự án kinh doanh

Mã hoá Biến quan sát

TG2 Quá trình thực hiện các dự án khởi nghiệp sẽ gây áp lực về tiến độ và hiệu quả của dự án

TG3 Các khởi nghiệp sẽ phải hy sinh nhiều thời gian cho dự án thay vì các sở thích cá nhân Ý định khởi nghiệp

YD1 Tôi quyết định sẽ tạo ra một công ty trong tương lai

YD2 Tôi muốn được tự làm chủ

YD3 Tôi có một ý định mạnh mẽ để bắt đầu một doanh nghiệp

(Nguồn: Kết quả nghiên cứu định tính)

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

Ngày đăng: 08/01/2022, 13:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008). Phân tích dữ liệu với SPSS, NXB Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu với SPSS
Tác giả: Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc
Nhà XB: NXB Dân trí
Năm: 2008
2. Hoàng Thị Phương Thảo, Bùi Thị Thanh Chi (2013). Ý định khởi nghiệp của nữ học viên MBA tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Phát triển kinh tế, Số 271, Tháng 5/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Phát triển kinh tế
Tác giả: Hoàng Thị Phương Thảo, Bùi Thị Thanh Chi
Năm: 2013
3. Nguyễn Thị Yến, Trần Trọng Nghĩa, Nguyễn Quang Phú, Nguyễn Thị Ngọc Tài (2011). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Thư viện đề tài Nghiên cứu Khoa học Euréka, [online] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Yến, Trần Trọng Nghĩa, Nguyễn Quang Phú, Nguyễn Thị Ngọc Tài
Năm: 2011
4. Nguyễn Trọng Hoài (2009). Dự báo và phân tích dữ liệu trong kinh tế và tài chính, NXB Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo và phân tích dữ liệu trong kinh tế và tài chính
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoài
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2009
5. Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2016). Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên khối ngành Quản trị kinh doanh tại các trường đại học/cao đẳng trên địa bàn Thành phố Cần Thơ. Tạp chí khoa học, số 10, 02/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí khoa học
Tác giả: Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự
Năm: 2016
7. Bùi Thị Thanh Chi (2013). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của nữ học viên MBA tại thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Mở TP HồChí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của nữ học viên MBA tại thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Bùi Thị Thanh Chi
Năm: 2013
8. Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008). Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, NXB Thống kê, TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Tác giả: Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2008
9. Nguyễn Doãn Chí Luân (2012). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Đại học khối ngành Kinh tế tại TP Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Mở TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Đại học khối ngành Kinh tế tại TP Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Doãn Chí Luân
Năm: 2012
10. Nguyễn Đình Thọ (2011). Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh. NXB Lao Động Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh
Tác giả: Nguyễn Đình Thọ
Nhà XB: NXB Lao Động Xã Hội
Năm: 2011
11. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2010). Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của nam giưới ở TP Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Mở TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của nam giưới ở TP Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Huyền
Năm: 2010
12. Nguyễn Thu Thủy (2015). Nghiên cứu các nhân tốt ảnh hưởng đến tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học, Luận án Tiến sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các nhân tốt ảnh hưởng đến tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học
Tác giả: Nguyễn Thu Thủy
Năm: 2015
13. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam – VCCI (2014). Báo cáo chỉ số kinh doanh Việt Nam 2013, Hà Nội, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chỉ số kinh doanh Việt Nam 2013
Tác giả: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam – VCCI
Năm: 2014
6. Bùi Huỳnh Tuấn Duy, Lê Thị Lin, Đào Thị Xuân Duyên và Nguyễn Thu Hiền (2011). Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố tính cách cá nhân lên tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên. Tạp chí phát triển khoa học và công nghệ Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Bảng tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng chính của các nghiên cứu trước - Các rào cản ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp tại thành phố hồ chí minh
Bảng 1.1 Bảng tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng chính của các nghiên cứu trước (Trang 19)
Hình 2.1: Mô hình về ý định của Ajzen (1991) - Các rào cản ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp tại thành phố hồ chí minh
Hình 2.1 Mô hình về ý định của Ajzen (1991) (Trang 29)
Hình 2.2: Thang đo ý định khởi sự kinh doanh của Shapero và Sokol (1982) - Các rào cản ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp tại thành phố hồ chí minh
Hình 2.2 Thang đo ý định khởi sự kinh doanh của Shapero và Sokol (1982) (Trang 31)
Hình 2.3: Thang đo ý định khởi sự kinh doanh của Krueger và Brazeal (1994) - Các rào cản ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp tại thành phố hồ chí minh
Hình 2.3 Thang đo ý định khởi sự kinh doanh của Krueger và Brazeal (1994) (Trang 32)
Hình 2.4: Thang đo ý định khởi sự kinh doanh của Lüthje và Franke (2004) - Các rào cản ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp tại thành phố hồ chí minh
Hình 2.4 Thang đo ý định khởi sự kinh doanh của Lüthje và Franke (2004) (Trang 32)
Hình 2.5: Thang đo ý định khởi sự kinh doanh của Wilbard (2009) - Các rào cản ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp tại thành phố hồ chí minh
Hình 2.5 Thang đo ý định khởi sự kinh doanh của Wilbard (2009) (Trang 33)
Hình 2.6: Thang đo ý định khởi sự kinh doanh Wongnaa và Seyram (2014) - Các rào cản ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp tại thành phố hồ chí minh
Hình 2.6 Thang đo ý định khởi sự kinh doanh Wongnaa và Seyram (2014) (Trang 34)
Hình 2.8: Mô hình ý định khởi sự kinh doanh của Nguyễn Doãn Chí Luân (2012) - Các rào cản ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp tại thành phố hồ chí minh
Hình 2.8 Mô hình ý định khởi sự kinh doanh của Nguyễn Doãn Chí Luân (2012) (Trang 36)
Hình 2.9: Mô hình tiềm năng khởi sự kinh doanh của Nguyễn Thu Thủy (2015) - Các rào cản ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp tại thành phố hồ chí minh
Hình 2.9 Mô hình tiềm năng khởi sự kinh doanh của Nguyễn Thu Thủy (2015) (Trang 37)
Bảng 2.1: Tổng hợp mô hình từ các nghiên cứu trước - Các rào cản ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp tại thành phố hồ chí minh
Bảng 2.1 Tổng hợp mô hình từ các nghiên cứu trước (Trang 38)
Hình 2.10: Mô hình các rào cản ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp tại TP.HCM - Các rào cản ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp tại thành phố hồ chí minh
Hình 2.10 Mô hình các rào cản ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp tại TP.HCM (Trang 39)
Hình 3.1: Quy trình thực hiện nghiên cứu - Các rào cản ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp tại thành phố hồ chí minh
Hình 3.1 Quy trình thực hiện nghiên cứu (Trang 41)
Bảng 3.1: Thang đo nháp của bài nghiên cứu - Các rào cản ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp tại thành phố hồ chí minh
Bảng 3.1 Thang đo nháp của bài nghiên cứu (Trang 42)
Hình 3.2: Quy trình lấy mẫu - Các rào cản ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp tại thành phố hồ chí minh
Hình 3.2 Quy trình lấy mẫu (Trang 47)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w