Miền Trung dải đất nối hai đầu đất nước, nơi thiên nhiên đầy thử thách mà rất đỗi nên thơ, con người chân chất, cởi mở, thấm đượm tình yêu quê hương đất nước. Xuôi theo dải đất này từ Thanh Hóa tới Bình Thuận, ta sẽ bắt gặp vô vàn cảnh sắc hữu tình, công trình lịch sử giàu giá trị truyền thống hay những loại hình nghệ thuật dân gian, lối sống, ngôn ngữ, ẩm thực đặc sắc. Khởi hành từ di tích thành nhà Hồ (Thanh Hóa), đến Động Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình) – kiệt tác của thiên nhiên. Cập bến cố đô Huế với sự tinh tế của Nhã nhạc và sự uy nghiêm của kiến trúc cung đình. Đi qua mảnh đất cố đô, Quảng Nam chào đón du khách với khu di tích thánh địa Mỹ Sơn và đô thị cổ Hội An…Không chỉ ấp ôm trong mình “con đường di sản” đã được cả thế giới công nhận, miền Trung còn sở hữu vô vàn cảnh sắc thiên nhiên khiến bao trái tim say mê. Có dãy Trường Sơn chạy dọc sống lưng, mặt nhìn ra biển Đông lộng gió, miền Trung là sự tiếp nối liên tục của cảnh sắc núi rừng hùng vĩ và biển cả mênh mông. Không chỉ vậy, trải qua bề dày lịch sử, người dân nơi đây đã xây dựng được một bản sắc văn hóa vùng miền độc đáo trong đó có lễ hội Cầu Ngư.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
Cơ sở lý luận
Văn hóa là một hệ thống các giá trị đa dạng, bao gồm cả vật chất và tinh thần, được hình thành và phát triển qua quá trình sáng tạo của con người trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội.
Lễ hội là sự kiện văn hóa cộng đồng, thể hiện tôn kính của con người đối với thần linh và phản ánh ước mơ của họ trước cuộc sống "Lễ" bao gồm các hành vi và động tác thể hiện sự tôn trọng, trong khi "Hội" là hoạt động văn hóa, tôn giáo và nghệ thuật xuất phát từ nhu cầu sống của cộng đồng.
Văn hóa biển là gì?
Văn hóa biển là một phần quan trọng của nhân học biển, tập trung vào việc nghiên cứu văn hóa và xã hội của cộng đồng ngư dân cùng cư dân ven biển Nghiên cứu này bao gồm các hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội liên quan đến đời sống trên biển, góp phần hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa con người và môi trường biển.
Cơ sở thực tiễn
Ngành đánh bắt thủy sản của Việt Nam có nguồn gốc lâu đời, phát triển mạnh mẽ ở các tỉnh phía Nam nhờ vào ngư trường phong phú Sự nguy hiểm trên biển khiến ngư dân tin vào sự phù trợ của thần linh, đặc biệt là cá voi, được coi là Đức Ngư, Ông Nam Hải Khi cá voi chết dạt vào bờ, làng biển tổ chức lễ tang trang trọng và lập lăng thờ cúng Hàng năm, sau Tết, ngư dân tổ chức lễ tế cá Ông kết hợp với lễ hội Cầu Ngư và lễ ra quân đánh bắt vụ cá nam, thể hiện ước vọng an lành và may mắn trong những chuyến ra khơi Lễ hội Cầu Ngư không chỉ là hoạt động văn hóa độc đáo mà còn mang ý nghĩa tinh thần, khẳng định niềm tin và ý chí vượt khó của ngư dân trong hành trình tìm kiếm hạnh phúc.
Ngư dân luôn tin tưởng vào sự độ trì của Ông Nam Hải và thường cầu cúng, nhưng họ không ỷ lại hoàn toàn vào số mệnh Họ vẫn giữ vững ý chí và quyết tâm, sẵn sàng đối mặt với sóng gió, bão bùng trong cuộc sống Sự kiên cường của họ thể hiện rõ qua câu nói: “Ngàn ngày nhờ phước.”
6 cả/ một bữa phải gắng công/ dẫu nước ngược cũng xông/ gặp gió giông cũng lướt” (Trích Hò Bá trạo)
Lễ hội Cầu Ngư, theo nhà nghiên cứu Trần Hồng, đã tồn tại liên tục qua các thời kỳ lịch sử, với người dân miền biển duy trì lễ tế Ông hàng năm, ngay cả trong giai đoạn bài trừ mê tín từ 1982-1984 Nhà nghiên cứu Võ Văn Hòe nhấn mạnh rằng lễ hội này có đủ cơ sở xã hội để tồn tại, vì ngư dân và biển vẫn còn Giáo sư Ngô Đức Thịnh cho rằng lễ hội là sự kết hợp giữa các hình thức nghệ thuật và giá trị văn hóa, giúp bảo tồn những giá trị văn hóa qua các thế hệ Tại lễ hội Cầu Ngư, yếu tố thiêng liêng kết hợp hài hòa với các hoạt động vui chơi giải trí, tạo nên không khí phấn khởi và niềm tin cho ngư dân trong cuộc sống và nghề nghiệp của họ.
Bảo tồn và phát huy lễ hội Cầu Ngư không chỉ giúp gìn giữ tín ngưỡng dân gian mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam mà còn tạo cơ hội để tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống.
Lễ hội Cầu Ngư tại 7 biển đảo không chỉ là một sự kiện văn hóa, mà còn là nguồn tư liệu quý giá, thể hiện rõ nét kinh nghiệm ứng xử với biển của các thế hệ người Việt Nam Sự hiện hữu của lễ hội này mang lại những bằng chứng vật chất và tinh thần, phản ánh tính nhân văn sâu sắc trong mối quan hệ của người Việt với biển cả.
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LỄ HỘI CẦU NGƯ
Nguồn gốc thờ cúng cá Ông
Lễ hội Cầu Ngư, hay còn gọi là lễ hội cúng cá Ông, là một sự kiện văn hóa đặc sắc của ngư dân các làng chài ven biển miền Trung Lễ hội này tái hiện phong tục thờ cúng cá Ông một cách sinh động, dựa trên những truyền thuyết dân gian kỳ ảo Người dân tin tưởng rằng cá voi/cá Ông là loài vật thiêng liêng, mang lại sự phù trợ cho họ trong cuộc sống hàng ngày.
Trần Hồng trong cuốn "Các lễ hội vùng biển miền Trung" đã kể lại truyền thuyết về cá Ông, cho rằng cá Ông là một mảnh vải của áo cà sa Phật Bà Quan Âm, được xé ra và rơi xuống biển Với bộ xương đặc biệt, cá Ông có khả năng "Thâu Đường" (rút ngắn khoảng cách) và được Phật Bà Quan Âm giao nhiệm vụ cứu người gặp nạn trên biển.
Trong lịch sử triều Nguyễn, câu chuyện vua Nguyễn Ánh – Gia Long được ghi lại rằng trong thời gian bôn tẩu, ông đã được cá Ông cứu sống khi thuyền của ông sắp bị đắm, trong lúc bị quân Tây Sơn truy đuổi trên biển Truyền thuyết này tương tự như những câu chuyện phổ biến tại Vàm Láng, xã Vàm Láng, huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang, và cũng được biết đến rộng rãi ở các tỉnh Nam Bộ như Bà Rịa - Vũng Tàu.
Tp Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Bến Tre những nơi đã từng lưu dấu chân của
Theo truyền thuyết ở Bình Thuận, vua Gia Long đã trải qua một lần nguy hiểm khi thuyền rồng của ông bị phong ba và trôi dạt đến Bình Thuận Nhờ có cá Ông cứu giúp, thuyền đã được đưa vào bờ, nhưng cá Ông đã kiệt sức và chết Để tri ân, vua đã sắc phong cho cá voi và ra lệnh cho các xã ven biển xây dựng đền thờ cá Ông.
Trong thần thoại Chăm, cá voi được xem là hóa thân của vị thần Cha-Aih-Va, người đã bị trừng phạt vì tự ý biến thành cá voi để trở về quê hương sau thời gian tu luyện Sau đó, Cha-Aih-Va đổi tên thành Po Riyah (thần Sóng Biển) và có lúc hóa thân thành thiên nga, cứu giúp những người gặp nạn trên biển Theo bài ca Patan Gahlau, vua cá voi từng sống ở Lào, nơi người dân đã xây dựng các ngôi đền để thờ phụng vị thần hộ mệnh này.
Tác phẩm đầu tiên trong thư tịch đề cập đến cá voi ở nước ta là Ô châu cận lục:
Vào khoảng thời gian triều đại Lê, có một loài cá voi xuất hiện theo dòng nước, và khi thủy triều rút, người dân ven biển đã bắt được chúng Một số người đã tận dụng xương sống của cá để làm xà nóc cho việc xây dựng nhà cửa.
Trong tác phẩm "Thối thực ký văn," Trương Quốc Dụng mô tả loài cá Hải Thu, còn được gọi là cá Ông voi, với đặc điểm nổi bật là thân hình dày không có vảy, đuôi giống tôm và kỳ sắc bén Ông cũng nhấn mạnh tính cách nhân hậu của loài cá này, khi cho rằng chúng thường xuất hiện để cứu người trong những tình huống nguy hiểm như khi thuyền gặp bão tố và có thể bị đắm, chúng sẽ nổi lên và vẫy đuôi để đưa người gặp nạn gần bờ an toàn.
Theo Gia Định thành thông chí, trong những lúc thuyền bè đối mặt với sóng gió nguy hiểm, thần cá Ông thường xuất hiện để bảo vệ và dìu đỡ mạn thuyền, giúp người dân được an toàn Khi thuyền gặp nạn và có nguy cơ chìm đắm, thần cũng sẽ đưa người vào bờ, thể hiện sự cứu giúp kỳ diệu của ngài.
Nước Nam, từ Linh Giang đến Hà Tiên, nổi bật với những hiện tượng linh nghiệm mà không nơi nào khác có được Theo Trịnh Hoài Đức (2005:237), sự kỳ diệu này chỉ xuất hiện ở khu vực này, khẳng định sự độc đáo và đặc sắc của văn hóa địa phương.
Việc thờ cá Ông có nhiều ý kiến trái chiều về nguồn gốc, với nhiều người cho rằng tục lệ này xuất phát từ người Chăm, một tộc người đã sinh sống lâu đời ở miền Trung, và người Việt đã tiếp nhận khi di cư vào vùng đất này Theo Lê Quang Nghiêm, người Việt ở miền Bắc không có tục thờ cá Ông cho đến khi đến Chiêm Thành Đinh Văn Hạnh cũng đồng tình rằng tục thờ cá Ông của người Việt hiện nay có nguồn gốc từ người Chăm Tuy nhiên, Trần Quốc Vượng lại khẳng định rằng thờ cá Ông là tín ngưỡng của người Việt, được phát triển tại vùng đất mới từ tín ngưỡng thờ cá đã có từ lâu Trần Chí Bền cũng nhấn mạnh rằng tín ngưỡng thờ cá voi không chỉ riêng người Chăm mà còn có sự hiện diện từ xa xưa trong văn hóa của người Việt.
Nguồn gốc thờ cá Ông hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, nhưng đều chung một điểm khi hình thành trong môi trường biển đầy thử thách Người dân tôn vinh cá voi như một loài động vật thiêng liêng vì đã giúp đỡ họ trong cuộc sống mưu sinh gian khó trên biển Ngoài việc cúng tế tại lăng Ông vào các dịp sóc, vọng, lễ tết, họ còn tổ chức lễ hội Cầu Ngư để tạ ơn và cầu xin Đức Ngư Ông phù hộ cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, và sự thịnh vượng trong làm ăn.
2.2 Thời gian tổ chức lễ hôi Cầu Ngư
Mùa xuân đánh dấu sự khởi đầu của năm mới, tượng trưng cho sự sinh sôi và phát triển Đây là thời điểm cỏ cây hoa lá đâm chồi nảy lộc, khoe sắc cùng đất trời Đối với người Việt, mùa xuân còn gắn liền với mùa lễ hội, bắt đầu ngay sau Tết Nguyên Đán với hàng ngàn lễ hội lớn nhỏ, phản ánh văn hóa truyền thống và đời sống tâm linh phong phú Từ lễ hội chùa Hương, lễ hội Đền Gióng đến ngày hội cồng chiêng Tây Nguyên, các lễ hội như lễ cơm mới, lễ xuống đồng, và lễ cầu ngư của người miền xuôi và ngư dân vùng biển đều thể hiện vẻ đẹp văn hóa dân tộc Tại các làng chài từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, sau Tết Nguyên Đán, người dân khẩn trương chuẩn bị cho lễ hội Cầu Ngư, với thời gian tổ chức khác nhau tùy thuộc vào thời tiết và mùa cá Các địa phương có thể chọn ngày kỷ niệm cá Ông lụy, ngày cá Ông được triều đình sắc phong, hoặc kết hợp với lễ nông nghiệp như lễ cầu mưa, lễ cầu an, tạo nên một hình thức lễ hội đặc sắc.
Lễ hội Cầu Ngư, hay còn gọi là ngày giỗ Ông, được tổ chức tại các vùng ven biển miền Trung Việt Nam Tùy vào từng địa phương, lễ hội này có thể diễn ra hàng năm, mỗi 2-3 năm, hoặc chỉ tổ chức khi có điều kiện thuận lợi Thời gian tổ chức thường rơi vào khoảng từ tháng Giêng âm lịch.
Tháng Giêng và tháng 2 âm lịch là thời điểm quan trọng trong lịch âm, tập trung vào vụ cá nam Lễ hội được tổ chức nhằm tạ ơn cá Ông và cầu ngư, thể hiện mong muốn cho mùa cá bội thu và quốc thái dân an Tại Nam Bộ, các lễ hội cũng diễn ra sôi nổi trong thời gian này.
Trong 11 ngày tháng biển động, cá voi thường gặp nạn và xác cá thường dạt vào bờ, thể hiện sự tương tác giữa con người và thiên nhiên [Nguyễn Thành Lợi 2004: 416] Mặc dù thời gian tổ chức lễ hội Cầu Ngư khác nhau ở từng vùng, nhưng tất cả đều phản ánh mong muốn của ngư dân sống hòa hợp với thiên nhiên, tìm kiếm sự thuận lợi và bình an giữa biển cả khắc nghiệt Dưới đây là thời điểm tổ chức của một số lễ hội Cầu Ngư tại các tỉnh miền Trung.
- Thanh Hóa: làng Diễm Phố, xã Ngư Lộc, huyện Hậu Lộc trước tổ chức vào ngày
23 tháng 12 âm lịch (ngày cá Ông giạt vào làng), sau đổi ngày 15 tháng Hai âm lịch, từ năm 1945 đổi sang các ngày 22 – 24 tháng Hai âm lịch
- Nghệ An: Quỳnh Lưu vào ngày 12 và 13 tháng Giêng âm lịch
- Hà Tĩnh: miếu thờ Đức Ngư Ông (xã Cẩm Nhượng, Cẩm Xuyên) vào 8/4 âm lịch
- Quảng Bình: làng Cảnh Dương vào Rằm tháng Giêng hàng năm
- Quảng Trị: thôn Vịnh Mốc, xã Vĩnh Thạch (Rằm tháng 5 âm lịch)
- Thừa Thiên- Huế: Thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang vào tháng Giêng hàng năm
- Đà Nẵng: Thanh Khê (6/1 âm lịch), Mân Thái, Thọ Quang (26/1 âm lịch), Tân Chính (16/2 âm lịch)
- Quảng Nam: Tam Hải (20/1 âm lịch), Cẩm Thanh (10/2 âm lịch)
- Quảng Ngãi: An Vĩnh (Lý Sơn) (20/2 âm lịch), An Bảng ( 15/1 âm lịch), Bình Thạnh (18/1 âm lịch và 15/8 âm lịch), Bình Thuận (15/2 âm lịch và 16/2 âm lịch),
Bình Dương (8/1 âm lịch và 15/7 âm Lịch), Nghĩa An (16/1 âm lịch), Phổ Thạnh (3/1 âm lịch)
- Bình Định: Nhơn Hải (12/2 âm lịch), Đề Gi (10/4 âm lịch), Tiên Châu (15/12 âm lịch), Lăng Ông ở 72 Nguyễn Huệ (Quy Nhơn) (5/2 âm lịch)
- Phú Yên: Long Thủy (23/7 âm lịch)
Địa điểm tổ chức lễ hội Cầu Ngư
Lễ hội Cầu Ngư của cư dân ven biển miền Trung, tại mỗi địa phương, địa điểm tổ chức khác nhau
Lễ hội Cầu Ngư được tổ chức trang nghiêm từ ngày 22 đến 24 tháng 2 âm lịch hàng năm tại xã Ngư Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa Đây là một lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa vùng biển, thu hút hàng nghìn người tham gia mỗi năm Từ sáng sớm, không khí lễ hội tràn ngập sự hân hoan của người dân địa phương.
Lộc (Thanh Hóa) đã tổ chức lễ rước kiệu và rước Long Châu, một loại thuyền rồng, tại sân văn hóa của xã Nghi lễ diễn ra trang nghiêm, thể hiện lòng thành của ngư dân và mong ước được thần linh chứng giám.
13 Đông đảo người dân trong xã dự lễ rước thuyền Long Châu tại Ngư Lộc, Thanh hóa Nguồn: Quách Du,https://laodong.vn/
Lễ hội cầu ngư thôn Sâm Linh Tây, xã Tam Quang, huyện Núi Thành, Quảng Nam diễn ra vào ngày 16 tháng Giêng hàng năm Vào sáng sớm, ngư dân làng chài Sâm Riêng cùng các ngư lão trong làng chuẩn bị cho lễ nghinh thần (rước thần) cá Ông tại cửa biển.
An Hòa (xã Tam Quang)
Lễ hội cầu ngư tại Bình Định diễn ra vào mùa xuân, thường được tổ chức tại lăng thờ cá Ông Đây là dịp để tưởng niệm và cải táng hài cốt của cá voi (cá Ông) bị chết trôi dạt vào bờ.
Lễ hội cầu ngư diễn ra ở nhiều địa phương khác nhau, thường được tổ chức tại bãi biển hoặc lăng thờ cá Ông, đặc biệt phổ biến ở khu vực miền Nam.
Tổ chức lễ hội ngoài làng Vạn không chỉ diễn ra tại khu vực chung mà còn ở từng gia đình, nơi mọi người đón Ông tại nhà Đặc điểm tự nhiên của vùng sông nước với nhiều tàu thuyền neo đậu hai bên bờ các con rạch nhỏ khiến cho ghe lễ rước Ông phải đi vào những rạch này, giúp người dân dễ dàng chiêm ngưỡng và nghinh đón Ông về với cộng đồng Mỗi ghe thuyền đều chuẩn bị mâm cúng thịnh soạn, và khi ghe đi qua, các chủ thuyền thành tâm khấn lạy cầu xin Ông phù hộ cho gia đình mình những điều tốt đẹp.
NÉT VĂN HÓA ĐẶC TRƯNG Ở LỄ HỘI CẦU NGƯ
Các hoạt động diễn ra trước lễ hội
Lễ hội Cầu Ngư được tổ chức trong 2 hoặc 3 ngày tùy theo địa phương, tuy chỉ diễn ra trong thời gian ngắn nhưng công tác chuẩn bị rất công phu Khoảng nửa tháng trước lễ hội, các phái tộc, vạn trưởng, ban phụng sự di tích Lăng và chính quyền địa phương họp bàn để thành lập Ban tổ chức Đặc biệt, nếu tổ chức Long Châu, thời gian chuẩn bị sẽ kéo dài hơn do yêu cầu đầu tư nhiều công sức và tài chính Vài ngày trước lễ hội, các tàu thuyền đánh cá tập trung gần bờ, treo cờ Tổ quốc, trong khi Ban tổ chức cùng nhân dân dựng rạp và trang trí bàn thờ một cách rực rỡ và trang nghiêm.
Các ngư dân chuẩn bị phần lễ rất cẩn thận, từ việc chọn lễ vật, tổ chức ban lễ, đến việc dọn dẹp lăng thờ cá Ông để đảm bảo buổi lễ trang nghiêm Về phần hội, các đội tham gia chuẩn bị kỹ lưỡng cho các tiết mục múa hát như hát bả trạo và các trò chơi như đua thuyền, kéo co, thi lắc thuyền thúng, và đan lưới Mỗi đội phân công những thanh niên khỏe mạnh cho đua thuyền và những người phụ nữ khéo tay cho phần thi đan lưới Tất cả các hoạt động chuẩn bị trước lễ hội được ngư dân vùng biển thực hiện tỉ mỉ nhằm đảm bảo buổi lễ diễn ra thành công tốt đẹp.
3.2 Các hoạt động có tính chất nghi thức
Lễ hội Cầu Ngư được tổ chức trang trọng theo phong tục của từng địa phương ven biển thờ cúng cá Ông, với bàn thờ được thiết lập gần mép biển, hướng ra khơi Một điều cấm kỵ trong lễ hội là không cúng lễ vật bằng hải sản Mặc dù mỗi địa phương có các bước tiến hành riêng, nhưng các lễ chính như Lễ Rước sắc phong, Lễ Nghinh Ông và Lễ Tế chánh luôn được đảm bảo thực hiện.
Lễ Rước sắc diễn ra vào sáng ngày đầu tiên của Lễ hội, với sự tham gia của Ban Tế lễ, các vị cao niên, những người phục vụ lễ hội và dân làng trong trang phục trang nghiêm Tất cả tề tựu tại Nhà Tiền hiền để chuẩn bị cho cuộc lễ, bao gồm ba nghi thức chính.
Lễ Thỉnh sắc được tổ chức trang trọng trước chánh điện của Nhà Tiền hiền, trong đó Ban Tế lễ đại diện cho dân làng dâng hương và xin phép Thành hoàng cùng các vị Tiền Hậu hiền để thỉnh sắc Ông Nam Hải về Lăng bái tế Ở một số địa phương, Lễ Thỉnh sắc còn được coi là Lễ đặc biệt.
Rước sắc là một nghi thức được tổ chức long trọng với đám rước bài bản, thu hút sự tham gia đông đảo của dân làng Sự kiện này không chỉ tạo ra không khí thiêng liêng, trang trọng mà còn mang lại sự nhộn nhịp, tưng bừng, để lại ấn tượng sâu sắc cho mọi người.
Khi đám rước đến Lăng, Ban Tế lễ tiến hành đưa Long đình vào Chánh điện Sau khi Long đình được đặt trong Lăng, vị Chánh tế sẽ đặt sắc phong lên bàn thờ để thực hiện nghi lễ.
Lễ Khai sắc và mở đầu cho Lễ hội Cầu Ngư
Hiện nay, nhiều làng biển đã kết hợp Đình làng và Lăng Ông thành một nơi thờ tự chung, dẫn đến việc giản lược các nghi thức truyền thống trong lễ hội Hệ quả là nhiều địa phương không còn duy trì Lễ Rước sắc theo nghi thức cổ truyền, mà chỉ giữ lại phần Lễ Khai sắc, một nghi thức bắt buộc trước khi diễn ra lễ hội.
Lễ Nghinh Ông được tổ chức khi thủy triều đang lên, nhằm rước hồn Ông Nam Hải từ biển về lăng trước khi tiến hành Tế chánh Đây là nghi thức quan trọng trong nhiều lễ hội lớn tại các làng có sắc phong của vua, từ Bắc vào Nam, chỉ khác nhau ở quy mô tổ chức.
Lễ Nghinh Ông có những đặc điểm riêng biệt, đặc biệt là thời gian tổ chức khác nhau giữa các làng do ảnh hưởng của thủy triều Mỗi làng tiến hành lễ Cầu Ngư vào những thời điểm không giống nhau; ví dụ, khi một làng tổ chức vào lúc 9 giờ sáng, thì làng khác có thể tiến hành vào thời gian khác.
Lễ Nghinh Ông kéo dài khoảng 2 giờ, diễn ra tại sân lăng với sự hiện diện đông đảo của người hành lễ Ban Tế lễ đã chuẩn bị một chiếc thuyền lễ dài khoảng 1 mét, trên đó có tam sinh và hoa quả Sau khi hoàn tất nghi thức tế lễ, chiếc thuyền được thả xuống biển Ngư dân đưa kiệu ra cửa biển, nơi có bàn án đầy đủ vật phẩm và văn tế được cúng đọc Đoàn thuyền rực rỡ cờ xí, bao gồm ghe Lễ Chính, ghe Bả Trạo và ghe Dắt, rước Ông từ biển vào bãi Theo sau là những thuyền ghe lớn nhỏ của bà con ngư dân, tạo nên không khí vui tươi, hồ hởi đặc biệt.
Đoàn ghe lễ ra khơi khoảng một cây số rồi dừng lại để bắt đầu lễ tế Chủ tế thắp hương khấn vái Ông Nam Hải, ngay sau khi khấn xong, đoàn bá trạo bắt đầu trình diễn Lễ xây chầu hát Bả trạo là một nghi thức bắt buộc, thể hiện sự hòa quyện giữa hát và múa, với đạo cụ là mái chèo Đội hình trình diễn bao gồm các con trạo, tạo nên không khí trang trọng và sống động cho buổi lễ.
Trong lễ hội chèo Bả trạo, các nghệ nhân biểu diễn dưới sự chỉ huy của tổng mũi, tổng thương và tổng lái, tạo thành hình dáng chiếc thuyền rồng để đưa linh hồn cá Ông đến miền cực lạc Nội dung chính của buổi lễ là tạ ơn và ca ngợi đức cá Ông, cầu xin thần ban cho ngư dân cuộc sống bình an và no đủ Sau khi kết thúc phần trình diễn, vị chủ tế ra hiệu cho lễ sinh thả chiếc thuyền lễ vật xuống biển để tạ ơn thủy thần, đồng thời tiến hành lễ rước hồn Ông Nam Hải về nhập lăng.
Những chiếc ghe quay về bến, trong đó ghe lễ di chuyển chậm rãi ở giữa, còn hai ghe phụ lướt nhanh phía trước, liên tục đan chéo nhau Hình ảnh này mô phỏng hành trình của Ông Nam Hải vượt qua bão tố để cứu người gặp nạn Khi gần đến bờ, hai ghe phụ quay lại hộ tống ghe lễ, cùng nhau cặp bến an toàn.
Đoàn người tham gia lễ Nghinh Ông đã cùng nhau tiến xuống bến để vào lăng, nơi cửa lăng đã được mở sẵn Chủ tế đã vào chánh điện dâng hương và thực hiện nghi lễ cáo yết, sau đó đưa linh vị Ông Nam Hải nhập lăng Lễ Nghinh Ông, kết hợp với các trò diễn dân gian như chèo Bả trạo, được coi là nghi thức độc đáo nhất trong lễ hội Cầu Ngư của ngư dân miền biển Trung Bộ Đặc biệt, đoàn thuyền rực rỡ đã rước Ông từ biển vào bãi biển tại Khánh Hòa, tạo nên không khí trang trọng và linh thiêng cho buổi lễ.
Chủ lễ dâng hương mời thần Nam Hải về Lăng Ông tại Nhơn Hải, Bình Định
Kế theo Nghinh Ông với trò diễn chèo Bả trạo là lễ Tế chánh của hội Cầu Ngư
Trong bất cứ lễ hội nào, lễ Tế chánh bao giờ cũng là giây phút thiêng liêng nhất
Các hoạt động vui chơi giải trí
Lễ hội là sự kết hợp giữa hoạt động lễ và hội, diễn ra đồng thời trong không gian và thời gian nhất định tại Việt Nam Thông thường, lễ hội có lễ thì mới có hội, nhưng cũng có những trường hợp chỉ có lễ mà không có hội Hoạt động hội giúp con người giải tỏa căng thẳng, lấy lại sức lực để bắt đầu một vụ sản xuất mới hiệu quả hơn Trong lễ hội Cầu Ngư, phần nghi lễ được xen kẽ với các hoạt động hội như hát Bả trạo, hò đối đáp trên thuyền, tổ chức hát bội, thi đua ghe, lắc thúng, đấu võ, đánh vật, thi đan lưới và thi câu cá, thể hiện nét văn hóa đặc trưng của ngư dân ven biển.
Hát bội là một loại hình nghệ thuật quan trọng trong lễ hội cúng cá Ông của ngư dân, thường được gọi là hát thứ lễ, hát án hay hát cúng lăng Các tuồng tích trong lễ hội thường mang chủ đề “đánh đông dẹp bắc”, như Tiết Nhơn Quý chinh đông hay Mộc Quế Anh dâng cây, và thường kết thúc với màn “tôn vương”, biểu trưng cho sự chuyển mình từ bĩ cực sang thái lai, thường là tuồng Sơn Hậu Những vở tuồng này thường có kết thúc có hậu, ít cảnh bạo lực, và thời gian diễn có thể kéo dài đến 2 - 3 giờ sáng, thu hút đông đảo khán giả và mang tính giải trí cao, không gắn liền với nghi lễ.
Hội đua thuyền là hoạt động được mong chờ nhất trong lễ hội đầu xuân, với mục đích cầu mong mưa thuận gió hòa và mang lại may mắn cho làng Mỗi làng sẽ thành lập đội đua gồm trai tráng từ 18 đến 35 tuổi, với tối đa 30 thành viên, kinh phí do dân làng quyên góp Vào sáng ngày hội, các cụ cao niên và trai làng đứng bên bờ sông thắp hương cầu nguyện, trong khi không khí bên bờ sông trở nên nhộn nhịp Khi lệnh xuất phát được đưa ra, các thuyền lao nhanh, tạo nên không khí sôi động với tiếng hò reo và trống, mõ vang lên Dòng sông trở nên sống động với những chiếc thuyền rực rỡ màu sắc, và sau cuộc thi, đội chiến thắng vui mừng ca hát, trong khi đội thua hứa hẹn sẽ cố gắng hơn cho năm sau.
Trưởng đoàn hát Bội cùng diễn viên đã thực hiện nghi thức khai diễn hát Bội tại Tuy Phong, Bình Thuận Bên cạnh đó, sự kiện đua ghe truyền thống trên phá Tam Giang ở Huế cũng thu hút sự chú ý của nhiều người Nguồn: http://baotangbinhthuan.com/.
Nguồn: https://stttt.thuathienhue.gov.vn/
Thi lắc lung ở Bình Thuận Nguồn: https://www.dulich4phuong.net/
Thi đan lưới ở xã Đức Lợi, Quảng Ngãi Nguồn: http://baoquangngai.vn
3.4 Hát Bả trạo –hình thức diễn xướng đậm chất văn hóa vùng biển
Hát Bả trạo, còn gọi là hò bá trạo hay chèo bả trạo, là một loại hình văn hóa dân gian có nguồn gốc từ văn hóa biển, phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân Từ "bả" có nghĩa là nắm chắc, còn "trạo" là chèo đò, thể hiện tinh thần đoàn kết giữa các thành viên trên thuyền, giúp họ vượt qua sóng gió và mang về mùa bội thu cho ngư dân.
Hát Bả trạo là một loại múa hát dân gian diễn ra hàng năm hoặc 2-3 năm một lần, thường trong lễ tế cá Ông, lễ đưa tang cá Ông (cá voi) và các lễ hội cầu mùa của ngư dân Nội dung của hát Bả trạo ca ngợi công đức của cá Ông trong việc cứu giúp người dân và hỗ trợ đánh bắt cá tôm, đồng thời phản ánh quá trình lao động vất vả của ngư dân trên biển Qua đó, bài hát cũng tôn vinh sự phong phú của biển cả và thể hiện tinh thần đoàn kết của ngư dân, hướng tới cuộc sống ấm no, đầy đủ.
Hát Bả trạo là một hình thức nghệ thuật thể hiện quá trình ra khơi đánh cá, từ lúc thuyền rời bến cho đến khi trở về Trong hành trình này, người nghệ sĩ diễn tả những khoảnh khắc vất vả chống chọi với giông bão cũng như những lúc biển lặng, ánh trăng sáng, khi họ quăng lưới và buông câu.
Chèo thuyền là một loại hình nghệ thuật diễn xướng tổng hợp, bao gồm tổng mũi, tổng lái, tổng khoan và các tay chèo, kết hợp nhiều làn điệu dân ca như hò, vè, lí, hát tuồng và nói lối Nội dung của Bả trạo mang tính chất gần giống như một vở diễn, với lời hát chứa đựng nhiều câu văn cầu siêu, cầu hồn, xen lẫn giữa các từ ngữ Hán và Nôm.
Đội hát Bả trạo bao gồm các thành viên như Tổng Mũi, Tổng Khoang và Tổng Lái, cùng với từ 10 đến 16 con trạo tùy thuộc vào tổ chức của từng địa phương, nhưng luôn đảm bảo số lượng con trạo là số chẵn.
Trong trang phục truyền thống, Tổng Lái thường mặc áo dài đen, quần dài trắng và khăn đóng đen, trong khi Tổng Mũi có thể mặc trang phục giống Tổng Lái hoặc chọn bộ đồ rực rỡ như diễn viên tuồng, tay cầm cặp sênh điều khiển Tổng Khoang nổi bật với áo ba màu, quần ngắn và tay cầm gàu tát nước Các thành viên tham gia khác tạo thành đội chèo, trong đó các con trạo mặc áo quần đồng màu, quấn xà cạp, chít khăn, thắt lưng vải, chân đi đất và cầm mái chèo dài 1m20.
Nhạc cụ chính của hát bả trạo bao gồm đàn cò, trống, kèn và sênh Nghệ thuật trình diễn hát bả trạo thể hiện sự hòa quyện giữa âm nhạc, lời ca và các động tác của Tổng Mũi, Tổng Khoang và Tổng Lái, tất cả đều được điều khiển một cách nhịp nhàng dưới sự dẫn dắt của Tổng Mũi.
Bản chèo hát Bả trạo gồm 3 giai đoạn:
- Đầu tiên ra khơi đánh bắt cá (trời yên biển lặng)
Vào ngày thứ hai, khi thời tiết bất ngờ nổi gió và bão tố, toàn bộ ngư dân phải khẩn trương chèo chống để cứu vãn thuyền khỏi nguy cơ đắm Nhờ sự cứu hộ kịp thời của Ông, thuyền đã được đẩy khỏi tình trạng chìm, giúp ngư dân vượt qua cơn bão Cuối cùng, biển trời trở lại bình yên, mang lại sự an toàn cho mọi người.
- Thứ ba là cảm tạ Ngài, chèo đưa linh tiễn Ngài trở về với biển khơi Ngư dân vui mừng đưa thuyền về bình an
- Trích đoạn hò bả trạo:
Nay nghinh Ông đã tới lăng trào
Cây bá trạo chèo hầu lấy thảo…
Lại trở sang giọng Nam Xuân:
Lấy thảo hai hàng nước mắt
Phải chi Ông còn biển Bắc lộng khơi
Lưng đai tẻ bạc sáng ngời
Làm tôi thủy phủ cứu người dương gian…
Ai đi giống dạng Ông đi
Bọt bèo trôi nổi một khi giữa trời…
Sau những câu xướng đó, thì tất cả chuyển sang điệu hò Bá trạo Đoàn bá trạo vừa hát, vừa chèo trong nhịp chèo khỏe khoắn, sinh động
Phiêu phiêu hề nhất trạo ba, (Hò hỡi lơ!)
Khinh khinh hề trục lãng qua
Thừa phong hành phất phất (Hố khoan hò khoan!)
Thừa phong hành phất phất (Hố khoan hò khoan!)
Quơi, trạo nhập giáng ca!
Quơi, trạo nhập giáng ca!
Hát Bả trạo là một loại hình nghệ thuật diễn xướng mang đậm ý nghĩa tâm linh, kết hợp với yếu tố sôi nổi và kịch tính qua những lời ca và động tác múa Suốt nhiều năm qua, nghệ thuật này vẫn được duy trì và truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác, đặc biệt trong các lễ hội Cầu Ngư của ngư dân.
Hát múa bả trạo trên sông Hoài trong
Festival Di sản Quảng Nam
Hát bả trạo tại lễ hội cầu ngư Đà Nẵng (https://www.baodanang.vn/)
Lễ hội Cầu Ngư là một biểu tượng văn hóa đặc sắc, phản ánh tín ngưỡng dân gian và phong tục tập quán của ngư dân ven biển miền Trung Sự kiện này không chỉ gắn liền với đời sống sinh hoạt hàng ngày mà còn thể hiện mối liên hệ mật thiết giữa con người và biển cả Qua thời gian, lễ hội vẫn duy trì những đặc trưng văn hóa biển, tạo nên sự hòa quyện giữa truyền thống và hiện đại trong cộng đồng ngư dân.
Lễ hội Cầu Ngư và nghệ thuật diễn xướng hát Bả trạo là những biểu hiện văn hóa đặc trưng của đồng bào ven biển miền Trung, thể hiện sự phong phú và tinh tế trong đời sống sinh hoạt Lễ hội không chỉ phản ánh tâm lý cầu mong mưa thuận gió hòa và cuộc sống an lành, mà còn góp phần thắt chặt tình đoàn kết giữa các ngư dân làng chài.
KẾT LUẬN
Lễ hội Cầu Ngư là một biểu tượng văn hóa đặc sắc của ngư dân ven biển miền Trung, lưu giữ tín ngưỡng dân gian và phong tục tập quán độc đáo Lễ hội không chỉ phản ánh mối liên hệ mật thiết giữa đời sống sinh hoạt và văn hóa của cộng đồng ngư dân, mà còn thể hiện sự hòa quyện giữa các yếu tố văn hóa biển Những mối quan hệ này đã và đang tác động lẫn nhau, góp phần duy trì và phát triển những đặc trưng văn hóa biển cho đến ngày nay.
Lễ hội Cầu Ngư và nghệ thuật hát Bả trạo là những biểu hiện đặc trưng của văn hóa dân gian miền Trung, phản ánh sự phong phú và tinh tế trong đời sống của người dân ven biển Lễ hội không chỉ thể hiện tâm tư cầu mong mưa thuận gió hòa, mà còn góp phần thắt chặt tình đoàn kết giữa các ngư dân làng chài.
Trong những năm gần đây, đời sống cư dân đã có nhiều cải thiện, công việc làm ăn thuận lợi hơn Lễ hội Cầu Ngư được tổ chức công phu, vừa giữ gìn tập quán cổ truyền vừa điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh mới Việc "di phong hoán tục" là cần thiết, nhưng cần đảm bảo giữ gìn tinh thần của lễ hội và bồi đắp ý nghĩa nhân văn, thể hiện tri ân và khát vọng an lành, no đủ của người dân vùng biển.