1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cơ hội và thách thức đốivới thương mại hàng dệt may trong hội nhập WTO

45 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 275 KB

Cấu trúc

  • LỜI NÓI ĐẦU

  • CHƯƠNG I

  • THƯƠNG MẠI HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

    • I. Thương mại hàng hóa VIỆT NAM những năm đổi mới

    • II. Thương mại dệt may trên địa thị trường thế giới

    • III. Thương mại dệt may VIỆT NAM

      • 1. Một vài đặc điểm của ngành dệt may Việt Nam.

      • Ngành dệt may Việt Nam dã có lịch sử phát triển rất lâu đời .Từ hàng nghìn năm nay, người Việt đã biết trồng dâu nuôi tằm, trồng bông, lanh, gai, đay và các cây có sơ để kéo sợi, dệt vải cho ngành may mặc phục vụ cho đời sống hàng ngày và trong tang lễ, hội hè, đình đám. Bằng chứng cho sự phát triển này là đến nay vẫn còn tồn tại nhiều làng nghề truyền thống trên nhiều vùng đất nước như : Lụa Vạn Phúc, Khăn Phùng Xá , (Hà Tây) :dệt làng Mẹo (Thái Bình )…Tuy vậy, phải đến cuối thế kỉ XIX, ngành dệt may mới manh nha hình thành và phát triển trong hình hài của một ngành công nghiệp

      • 2. Thương mại hàng dệt may ở Việt Nam những năm gần đây.

      • 3. Tác động của việc bãi bỏ chế độ hạn ngạch đến ngành dệt may.

      • Sự kiện bãi bỏ hạn ngạch ngày 1/1/2005 đánh dấu một bước tiến quan trọng của xu thế tự do hoá thương mại quốc tế. Sự kiện này có tác động khác nhau đối với các quốc gia. Nó sẽ mở rộng giao dịch về hàng dệt may giữa các nước là thành viên WTO . Do Việt Nam đã dược EU,Canada dỡ bỏ việc áp dụng hạn ngạch hàng dệt may nên chỉ còn Hoa Kỳ và Thổ Nhĩ Kỳ còn áp dụng hạn ngạch đối với hàng dệt may Việt Nam vào các nước đó. Điền này đã ảnh hưởng tới ngành dệt may Việt Nam:

  • CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI THƯƠNG MẠI HÀNG DỆT MAY NƯỚC TA TRONG HỘI NHẬP WTO.

    • I. Những nét cơ bản về tổ chức thương mại thế giới WTO.

    • II. Cam kết về hàng dệt may của VIỆT NAM với WTO.

    • III . Cơ hội đối với thương mại hàng dệt may nước ta trong hội nhập

    • WTO.

    • IV. Thách thức đối vơi thương mại hàng dệt may nước ta trong hội nhập WTO.

    • Điều này sẽ tạo ra những thay đổi lớn ở thị trường nội địa. Đó là những tổ hợp các công ty nhỏ trong lĩnh vực dệt sẽ rất khó khăn và việc đóng cửa hàng loạt doanh nghiệp trong ngành là hoàn toàn có thể. Đặc biệt, với nhóm quần áo và đồ may sẵn, việc cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu là cơ hội để các thương hiệu quần áo may sẵn đẩy mạnh hoạt động tại thị trường Việt Nam. Theo phân tích từ Trung tâm Xúc tiến thương mại Việt Nam và Đầu tư TP Hồ Chí Minh cho thấy, vấn đề mấu chốt trong cuộc cạnh tranh này là kênh phân phối và thương hiệu, vốn là những lĩnh vực yếu của doanh nghiệp Việt Nam. Kết quả cuộc cạnh tranh là gì? Là các thương hiệu may sẵn của Việt Nam sẽ nhường chỗ cho các thương hiệu nước ngoài và sự sụt giảm lượng khách đáng kể tại các nhà may do nhu cầu sử dụng hàng hiệu giá rẻ tăng cao.

    • Trong những tháng đầu năm khi chúng ta gia nhập WTO tính đến tháng 4 năm 2007 mức độ sụt giảm kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường EU, thậm chí tới mức báo động ở một số thị trường lớn như Anh, Đức, Pháp, đã làm cho giới chuyên môn lo ngại mục tiêu xuất khẩu của ngành dệt may trong năm 2007 sẽ khó khăn để đạt được.

    • Một số chủng loại hàng dệt may trước đây vốn là thế mạnh chủ lực của Việt Nam sang thị trường Mỹ nhưng nay cũng giảm tới 30-40%. Thực trạng này đã làm cho nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ có vốn đầu tư nước ngoài đứng trước nguy cơ thiếu đơn hàng khó vượt qua nếu không có những giải pháp quyết liệt ngay từ bây giờ. Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, trong quý 1, năm 2007 này xuất khẩu hàng dệt may sang EU đã giảm 8% so với cùng kỳ năm ngoái, riêng thị trường Đức đã giảm tới 27,3%, Anh giảm 26% và Pháp giảm 20%.

  • CHƯƠNG III

  • PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ TẬN DỤNG CÁC CƠ HỘI VÀ KHẮC PHỤC NHỮNG THÁCH THỨC.

    • I. Mục tiêu , phương hướng phát triển của thương mại hàng

    • dệt may Việt Nam.

      • 1. Mục tiêu.

      • 2. Phương hướng .

    • II. Giải pháp cho thương mại hàng dệt may Việt Nam.

    • “Bắt mạch” được những khó khăn của ngành dệt may phái đối mặt thì bước tiếp theo chính là việc đưa ra các giải pháp thực hiện, cụ thể như sau:

    • III. Tạo lập điều kiện cần thiết để thực hiện những giải pháp.

      • 1. Điều kiện vĩ mô.

        • a. Chính phủ.

        • b.Bộ thương mại và các bộ có liên quan :

      • 2. Điều kiện vi mô.

  • Tài Liệu Tham Khảo.

Nội dung

Thương mại hàng hóa VIỆT NAM những năm đổi mới

Trong quá trình đổi mới, Việt Nam đã giữ vững thể chế chính trị và trải qua hơn 20 năm cải cách kinh tế - xã hội từ đại hội VI Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường đã phát triển mạnh mẽ, với sự quản lý của nhà nước khuyến khích lưu thông hàng hóa và mở rộng quyền đăng ký kinh doanh cho mọi tổ chức và công dân Công cuộc đổi mới đã giúp nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng, với tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ tăng nhanh chóng và chất lượng hàng hóa được nâng cao Việt Nam đã chuyển từ nền kinh tế hiện vật sang nền kinh tế hàng hóa, ưu tiên phát triển ba chương trình kinh tế chính: lương thực, xuất khẩu và hàng tiêu dùng, đồng thời tiến tới công nghiệp hóa hiện đại hóa Xu hướng sở hữu kinh tế đã chuyển từ quốc doanh và tập thể sang nhiều thành phần, với khu vực ngoài dân doanh chiếm tỷ trọng chủ yếu Chính phủ đã ban hành Nghị định 57/CP, mở rộng quyền xuất, nhập khẩu cho doanh nghiệp, dẫn đến sự tăng trưởng mạnh mẽ trong xuất khẩu, với kim ngạch xuất khẩu từ 789 triệu USD năm 1986 lên 39,4 tỷ USD năm 2006 Việt Nam đã tham gia nhiều hiệp định thương mại quốc tế, mở rộng quan hệ với trên 170 quốc gia, giúp hàng hóa Việt Nam có mặt tại 220 quốc gia và vùng lãnh thổ Năm 2006, Việt Nam trở thành tâm điểm chú ý toàn cầu, tổ chức thành công hội nghị APEC và gia nhập WTO, mở ra nhiều cơ hội và thách thức cho nền kinh tế và ngành thương mại.

Năm 2006 được xem là năm thành công của ngành thương mại Việt Nam, với sự tăng trưởng mạnh mẽ cả trong lĩnh vực xuất nhập khẩu và thương mại nội địa Kim ngạch xuất khẩu tiếp tục tăng, góp phần vào tăng trưởng kinh tế và giảm thâm hụt cán cân thương mại Hầu hết các nhóm hàng chủ lực đều vượt mục tiêu tăng trưởng đề ra Hoạt động thương mại nội địa cũng đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội, với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ xã hội ước đạt 580,7 ngàn tỷ đồng, tăng 13% so với năm 2005 (loại trừ yếu tố giá), góp phần vào mức tăng trưởng GDP 8,17% năm 2006 Dù giá cả thế giới tăng cao, nguồn cung hàng hóa thiết yếu vẫn được đảm bảo và giá cả nằm trong tầm kiểm soát Thương mại tại các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo có sự tăng trưởng nhanh chóng, thu hẹp khoảng cách với các đô thị trung tâm về tốc độ lưu chuyển hàng hóa Hệ thống hạ tầng thương mại phát triển nhanh chóng, với chuỗi cửa hàng tiện ích không chỉ ở các thành phố lớn như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng mà còn mở rộng ra nhiều thành phố khác Số lượng siêu thị trên toàn quốc tăng 25% và trung tâm thương mại tăng trên 60% so với năm 2005.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2006 tăng 6,6%, là mức tăng thấp nhất trong ba năm qua, phản ánh nỗ lực của ngành thương mại trong việc kiểm soát giá cả So với năm 2005 và 2004, khi CPI lần lượt tăng 8,4% và 9,5%, mức tăng năm 2006 cho thấy sự cải thiện trong công tác quản lý giá.

Trong tháng 1/2007, xuất khẩu của Việt Nam đạt 3,3 tỷ USD, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm 2006 Doanh nghiệp trong nước ghi nhận mức tăng trưởng 23%, trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt trên 1,8 tỷ USD, giảm 3,1% do giá dầu thô giảm Nếu không tính dầu thô, khu vực này đạt 1,057 tỷ USD, tăng 8,8% Nhiều mặt hàng xuất khẩu tăng trưởng cao, như cà phê tăng 136%, chè các loại tăng 69,8%, và hạt tiêu tăng 22,2% Mặt hàng dệt may và giày dép cũng có sự gia tăng, mặc dù mức tăng chưa cao Đặc biệt, trong tháng 1, dầu thô, than đá và gạo đều có khối lượng xuất khẩu tăng đáng kể so với cùng kỳ năm trước.

Trong tháng 1, kim ngạch nhập khẩu của cả nước đạt 3,4 tỷ USD, tăng 30,8% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy nhu cầu cao về nguyên liệu và nhiên liệu phục vụ sản xuất và đời sống Đặc biệt, nhập khẩu máy móc thiết bị đạt 550 triệu USD, đứng thứ hai sau xăng dầu với mức tăng 47,5% so với cùng kỳ, phản ánh triển vọng tích cực trong việc triển khai các dự án đầu tư và đổi mới công nghệ của nền kinh tế.

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng vẫn tồn tại nhiều vấn đề như nạn buôn lậu, hàng giả, gian lận thương mại và tham nhũng, ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế xã hội Lĩnh vực xuất khẩu gặp hạn chế về nguồn cung, chất lượng và sức cạnh tranh, với tỷ trọng lớn hàng nông sản thô và nguyên liệu thô Nhiều mặt hàng vẫn phải qua trung gian và chưa nắm rõ luật quốc tế, dẫn đến tình trạng bán phá giá và vi phạm bản quyền.

Mức tăng trưởng các ngành dịch vụ chỉ đạt hơn 50% kế hoạch, điều này ảnh hưởng đến tỷ trọng lớn của lĩnh vực này trong GDP, dẫn đến hạn chế mức tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Quá trình đổi mới nền kinh tế Việt Nam là sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, tập trung vào thương mại hóa nền kinh tế và các doanh nghiệp, nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh và tối ưu hóa lợi nhuận.

Thương mại dệt may trên địa thị trường thế giới

Theo thống kê của Tổ chức WTO, kim ngạch hàng dệt toàn cầu năm 2002 đạt 152 tỷ đô la Mỹ, chiếm 2,4% mậu dịch hàng hóa và 3,2% mậu dịch hàng công nghiệp Đối với hàng may mặc, con số này là 201 tỷ đô la, tương đương 3,2% mậu dịch hàng hóa và 4,3% mậu dịch hàng công nghiệp Mặc dù hàng dệt may là sản phẩm thiết yếu trong đời sống, nhưng giá trị của chúng lại thấp do sự phổ biến và cạnh tranh từ các nước đang phát triển với lao động giá rẻ, dẫn đến mức tăng trưởng về giá trị thương mại dệt may thấp hơn so với tăng trưởng về lượng.

Ngành dệt may đóng vai trò quan trọng trong thương mại toàn cầu và là sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của các nước đang phát triển Tuy nhiên, các nước phát triển đã áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu hàng dệt may từ các nước này vì lợi ích kinh tế của bản thân Hiệp định nhiều sợi (MFA) có hiệu lực từ năm 1974 đã mở rộng phạm vi hạn chế đối với hàng dệt, bao gồm bông, lông cừu, nhân tạo và các chế phẩm liên quan.

Năm 2002, trao đổi vải sợi giữa các nước châu Á đạt 38 tỷ đô-la, trong khi đó, các nước Tây Âu ghi nhận 36,4 tỷ đô-la Hai con số này vượt xa mức trao đổi liên vùng, như xuất khẩu của Tây Âu sang Đông Âu-Liên Xô cũ chỉ đạt 8,9 tỷ đô-la, và từ châu Á sang Tây Âu là 7,9 tỷ đô-la.

Mỹ dẫn đầu về thương mại với 8,3 tỷ đô la, tiếp theo là Bắc Mỹ với 5,7 tỷ đô la trong khu vực châu Mỹ Latinh Trong ngành hàng may mặc, các con số cũng tương tự với 45,6 tỷ đô la trong nội bộ Tây Âu, 22,8 tỷ đô la trong nội bộ Á Châu, 34,5 tỷ đô la từ Á Châu sang Bắc Mỹ, 20,9 tỷ đô la từ Á Châu sang Tây Âu, 19,7 tỷ đô la từ châu Mỹ Latinh sang Bắc Mỹ, và 9,6 tỷ đô la từ khối Đông Âu-Liên Xô cũ sang Tây Âu.

Ngành may mặc tại Tây Âu và Á Châu chiếm ưu thế rõ rệt trên thị trường toàn cầu Tây Âu đóng góp 30% vào xuất khẩu và 41% vào nhập khẩu, trong khi Á Châu có tỷ lệ xuất khẩu cao hơn, đạt 45%, nhưng chỉ chiếm 13% nhập khẩu Bắc Mỹ lại có tỷ lệ nhập khẩu (31%) gấp 6 lần xuất khẩu (5%) Các khu vực khác như châu Mỹ La tinh chỉ chiếm 10% xuất khẩu và 4% nhập khẩu Vào năm 2002, Tây Âu chiếm 38% kim ngạch xuất khẩu toàn cầu và 35% nhập khẩu, trong khi Á Châu đạt 44% xuất khẩu và 29% nhập khẩu, vượt xa Bắc Mỹ với chỉ 9% xuất khẩu và 12% nhập khẩu Các khu vực như Đông Âu, châu Mỹ La tinh, châu Phi và Trung Đông có tỷ lệ xuất nhập khẩu rất thấp, chỉ vài phần trăm.

Trong mậu dịch quốc tế về hàng dệt may, Tây Âu, Á Châu và Bắc Mỹ là những khu vực chủ chốt Tuy nhiên, vấn đề này thu hút sự quan tâm của tất cả các quốc gia trong các cuộc thương thuyết thương mại đa phương, đặc biệt là trong khuôn khổ của tổ chức GATT và WTO.

Ngành dệt may hiện nay đang chịu ảnh hưởng lớn từ Trung Quốc, đặc biệt sau khi nước này gia nhập WTO vào năm 2002 và thoát khỏi một số hạn ngạch Tại Nhật Bản, Trung Quốc đã chiếm 78,1% thị trường quần áo và 47,5% thị trường vải sợi, với mức tăng trưởng 66% trong 10 năm Tại Mỹ và Liên minh châu Âu, nhập khẩu từ Trung Quốc đã tăng trung bình 125% và 53% về trị giá, cùng với 164% về số lượng ngay sau khi một số hạn ngạch được bãi bỏ Một số mặt hàng như găng tay, quần áo trẻ em và áo choàng có mức tăng nhập khẩu lên đến 557% Trung Quốc đang ngày càng chiếm lĩnh thị trường dệt may toàn cầu với sự đa dạng về chủng loại và mẫu mã.

Qua các cuộc hội thảo chuyên đề các chuyên gia đàu ngành của thế giới đã thống nhất ý kiến trên một số vấn đề cơ bản, đó là:

- Hàng may mặc theo phong cách phương Tây sẽ tăng lên

- Kiểu trang phục công sở sẽ được phổ biến

- Thẩm mỹ ở lứa tuổi trung niên và cao niên sẽ được cải thiện

- Hàng may mặc trẻ em làm thay đổi khái niệm về tiêu dùng và thiết kế

- Vải, sợi, phụ liệu, thiết kế, kiểu dáng và kỹ thuật sẽ có bước đột phá

- Đồ thể thao vẫn được ưa chuộng

Thương mại dệt may VIỆT NAM

1 Một vài đặc điểm của ngành dệt may Việt Nam.

Ngành dệt may Việt Nam có lịch sử phát triển lâu dài, với truyền thống trồng dâu nuôi tằm và sản xuất vải từ hàng nghìn năm trước Người Việt đã sử dụng các nguyên liệu như bông, lanh, gai, và đay để dệt vải phục vụ cho đời sống hàng ngày cũng như các dịp lễ hội Nhiều làng nghề truyền thống như Lụa Vạn Phúc, Khăn Phùng Xá, và dệt làng Mẹo vẫn tồn tại cho đến ngày nay, chứng tỏ sự phát triển bền vững của ngành Tuy nhiên, chỉ đến cuối thế kỷ XIX, ngành dệt may mới bắt đầu hình thành và phát triển thành một ngành công nghiệp thực thụ.

Ngành dệt may là lĩnh vực có lợi thế và tiềm năng phát triển cao tại các nước đang phát triển Tuy nhiên, do đặc thù sử dụng nhiều lao động và công nghệ dễ tiếp cận, ngành này thường xuyên phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các nước phát triển Điều này dẫn đến việc các nước phát triển và đang phát triển đều áp dụng các chính sách bảo hộ cao để bảo vệ thị trường của mình.

Nhà nước đang thúc đẩy ngành dệt may trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, tập trung vào xuất khẩu và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thiết yếu Để đạt được mục tiêu này, Nhà nước không ngừng khai thác tiềm năng sẵn có và mở rộng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Ngành may đang được đầu tư mạnh mẽ với trang thiết bị hiện đại, nhằm bắt kịp công nghệ thế giới và phát huy thế mạnh của Việt Nam Với nguồn lao động dồi dào, chi phí lao động thấp và yêu cầu vốn đầu tư không lớn, ngành may rất phù hợp với bối cảnh của một đất nước đang phát triển sau chiến tranh.

Trong những năm 1990, ngành dệt may đóng góp khoảng 50% vào tổng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, nhưng đến năm 1999, tỷ lệ này chỉ còn khoảng 15% Mặc dù vậy, xuất khẩu dệt may vẫn tăng trưởng mạnh mẽ, với mức tăng trung bình hàng năm đạt 38%, cao hơn so với tổng xuất khẩu của cả nước.

Từ năm 1990 đến 2000, ngành hàng may mặc tại Việt Nam có sự tăng trưởng nhanh chóng và chiếm ưu thế trong tổng xuất khẩu của ngành dệt may Cụ thể, tỷ lệ hàng dệt trong tổng xuất khẩu chỉ đạt 12%, thấp hơn nhiều so với mức 44% của xuất khẩu toàn cầu Nguyên nhân chủ yếu là do phần lớn hàng dệt được tiêu thụ trong nước, phục vụ cho sản xuất hàng may mặc xuất khẩu và nhu cầu nội địa Đến năm 1996, tỷ lệ xuất khẩu trên sản xuất của hàng dệt chỉ đạt 11,3%, trong khi con số này đối với hàng may mặc lên tới 84%.

Các công ty dệt quốc doanh đang tích cực tham gia vào hoạt động xuất khẩu hàng may mặc bằng cách dệt vải và xuất khẩu một phần, trong khi phần còn lại được sử dụng để sản xuất quần áo xuất khẩu Ngược lại, hầu hết các công ty may mặc nước ngoài không sử dụng vải nội địa mà trực tiếp nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài.

Trung Quốc, Hồng Kông, và Đài Loan là những thị trường quan trọng, trong khi 70% sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam hiện nay được gia công, chỉ 30% còn lại là bán gia công Việt Nam phụ thuộc vào nguyên liệu nước ngoài lên tới 80%, khiến giá hàng dệt may tăng từ 20-30% Trong bối cảnh giá dệt may toàn cầu giảm, sức cạnh tranh của Việt Nam càng yếu do bị áp đặt hạn ngạch và phải tính thêm chi phí vào giá thành sản phẩm Đáng lưu ý, mức lương công nhân tại các xí nghiệp quốc doanh ở Việt Nam không chênh lệch nhiều so với Trung Quốc, với mức lương trung bình của 5 xí nghiệp quốc doanh lớn tại thành phố Hồ Chí Minh.

Vào năm 2000, mức lương trung bình là 98,8 đô-la mỗi tháng, giảm so với 105 đô-la vào tháng 6/2002 tại ba công ty Hồng Kông ở Thượng Hải Bên cạnh đó, chi phí giao dịch tại Việt Nam cũng rất cao.

Ngành dệt may Việt Nam, mặc dù đối mặt với nhiều thách thức, đã xây dựng những nền tảng vững chắc để sẵn sàng đón nhận cơ hội mới Điều này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển của ngành, khẳng định vai trò mũi nhọn và đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế của đất nước.

2 Thương mại hàng dệt may ở Việt Nam những năm gần đây.

Trong hơn một thập kỷ qua, ngành xuất khẩu hàng dệt - may của Việt Nam đã khẳng định vị thế vững chắc, luôn đứng thứ hai trong các lĩnh vực xuất khẩu, chỉ sau dầu khí Năm 2003, kim ngạch xuất khẩu đạt 3,6 tỷ USD, tăng 30% so với năm trước Sự phát triển của ngành dệt - may không chỉ thể hiện ở quy mô mà còn ở chiều sâu, với số lượng doanh nghiệp tăng gấp năm đến sáu lần so với mười năm trước, hiện có khoảng 1.050 doanh nghiệp, trong đó 231 doanh nghiệp nhà nước, 449 doanh nghiệp ngoài quốc doanh và 354 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Ngành này đã tạo ra hơn hai triệu việc làm, đồng thời cung cấp hàng trăm nghìn cơ hội việc làm cho các ngành phụ trợ như trồng bông, trồng dâu nuôi tằm, thêu đan và sản xuất bao bì.

Trình độ công nghệ trong ngành dệt - may Việt Nam đã được cải thiện đáng kể, với nhiều công đoạn sản xuất đạt tiêu chuẩn tiên tiến toàn cầu Thị trường xuất khẩu hàng dệt - may không ngừng mở rộng, góp phần vào tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu với tốc độ bình quân 23,8% trong giai đoạn 1990 - 2000 Hiện nay, hàng dệt - may Việt Nam có mặt tại hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm các thị trường lớn như Mỹ, EU và Nhật Bản Những thành tựu này có được nhờ sự hỗ trợ tích cực từ nhà nước trong việc xúc tiến thương mại và việc tham gia vào các tổ chức dệt may quốc tế, như Hiệp hội dệt may ASEAN và ASIA Các chương trình của hiệp hội bông thế giới tại Anh và Mỹ cũng đã nâng cao uy tín cho ngành dệt - may Việt Nam, phản ánh nỗ lực không ngừng của toàn ngành trong thời gian qua.

Chiến lược đầu tư đúng đắn đã giúp nâng cao chất lượng sản phẩm dệt may Việt Nam Hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn ISO 9000 và ISO 14000 cũng được áp dụng, góp phần cải thiện hiệu quả sản xuất và bảo vệ môi trường.

Ngành dệt - may Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc nâng cao thương hiệu và khả năng cạnh tranh toàn cầu, với nhiều thương hiệu nổi tiếng như Việt Tiến, Nhà Bè, và May 10 được người tiêu dùng công nhận là hàng Việt Nam chất lượng cao Tỷ lệ giá trị nội địa hóa trong hàng dệt - may xuất khẩu ngày càng tăng, hiện đạt khoảng 23% kim ngạch xuất khẩu, so với chỉ 2 - 3% vào đầu những năm 90 Ngành đã thực hiện hiệu quả chủ trương của Nhà nước về sản xuất hàng trong nước, đáp ứng nhu cầu của xã hội và hạn chế hàng nhập khẩu.

Năm 2006, ngành dệt may Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức như chi phí đầu vào tăng và giá xuất khẩu giảm do cạnh tranh toàn cầu, cùng với hàng nhập lậu từ Trung Quốc tràn ngập thị trường nội địa Dù vậy, kim ngạch xuất khẩu vẫn đạt khoảng 5,8 tỷ USD, tăng hơn 20% so với năm trước, trong đó xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 3,1 tỷ USD (tăng 21%), châu Âu gần 1,2 tỷ USD (tăng 36%), và Nhật Bản gần 640 triệu USD (tăng 5,3%) Ông Lê Quốc Ân, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) và Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), cho rằng đây là một điểm sáng của ngành trong năm 2006.

Năm 2006 đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của ngành dệt may Việt Nam với các dự án đầu tư lớn từ nước ngoài, bao gồm dự án dệt kim của công ty Global Dyeing (Hàn Quốc) với công suất 18.000 tấn/năm và dự án Formosa (Đài Bắc) sản xuất sợi tổng hợp Những dự án này tạo tiền đề quan trọng cho sự phát triển của ngành dệt may trong tương lai Quyết định 55 của Chính phủ đã đưa ra các cơ chế chính sách nhằm thúc đẩy ngành dệt may, trong khi Quỹ hỗ trợ phát triển đã cấp khoảng 1.950 tỷ đồng (tương đương 118 triệu USD) cho ngành dệt trong giai đoạn 2001-2005, chiếm khoảng 10% vốn đầu tư của các doanh nghiệp.

Những nét cơ bản về tổ chức thương mại thế giới WTO I Cam kết về hàng dệt may của VIỆT NAM với WTO

Lúc 17 giờ ngày 7.11.2006, tại Geneva Thụy Sĩ, chủ tịch đại hội đồng thế giới (WTO) Erik Glenne đã gõ búa chíng thức thông qua bộ hố sơ gia nhập WTO của Việt Nam Hai tiếng đồng hồ sau đó, Bộ trưởng thương mại Trương Đình Tuyển và tổng giám đốc WTO Pascal Lamy đã ký vào Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam

Chiều ngày 8/11/2006, Quốc Hội Việt Nam đã thông qua Nghị quyết phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) với 444 phiếu tán thành, đạt tỷ lệ 90,24% Sau 11 năm đàm phán khó khăn, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế.

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) có trụ sở chính tại Giơnevơ, Thụy Sĩ, với ngân sách 169 triệu franc Thụy Sĩ và 600 nhân viên Giám đốc hiện tại là ông Pascal Lamy WTO được thành lập sau vòng Đàm phán Uruguay (1986-1994) và hoạt động chủ yếu thông qua các cuộc đàm phán.

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là nơi thiết lập các quy tắc thương mại toàn cầu giữa các quốc gia WTO không chỉ thúc đẩy tự do hóa thương mại mà còn cung cấp diễn đàn cho các chính phủ đàm phán hiệp định thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại Tổ chức này điều hành hệ thống quy tắc thương mại, góp phần tạo ra môi trường thương mại công bằng và minh bạch.

WTO là một khuôn khổ quan trọng cho các cuộc đàm phán thương mại, nơi các quốc gia thành viên có thể thương lượng và giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quan hệ thương mại Các hoạt động hiện tại của WTO chủ yếu dựa trên kết quả của những cuộc đàm phán đã diễn ra từ năm trước.

Từ năm 1986 đến 1994, vòng đàm phán Uruguay đã diễn ra trong khuôn khổ Hiệp định chung về thuế quan và Thương mại (GATT), nhằm thúc đẩy tự do hóa thương mại cho các nước đối mặt với rào cản thương mại WTO không chỉ tập trung vào việc giảm thiểu các rào cản này, mà còn đưa ra quy định hỗ trợ duy trì một số rào cản thương mại, như trong các trường hợp chống dịch bệnh hoặc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Nòng cốt của tổ chức thương mại quốc tế là các hiệp định WTO, được hầu hết các quốc gia tham gia đàm phán và ký kết Những văn bản này thiết lập các quy tắc pháp lý cơ bản cho thương mại quốc tế, trong đó yêu cầu các quy tắc và quy định phải được thể hiện một cách minh bạch.

 Những quy tắc của hệ thông thương mại phải đảm bảo :

Không phân biệt đối xử là nguyên tắc quan trọng trong thương mại quốc tế, yêu cầu các nước không phân biệt đối xử giữa các đối tác thương mại của mình Điều này có nghĩa là các quốc gia phải áp dụng quy chế "đối xử tối huệ quốc" (MFN) cho tất cả các đối tác, đồng thời không được phân biệt giữa hàng hóa và dịch vụ từ nước ngoài.

- Dành ưu đãi cho các nước kém phát triển Cho họ một thời gian dài và linh động hơn , cùng một số đặc quyền thương mại

- Tự do hóa hơn trong thương mại, xóa bỏ rào cản thông qua con đường đàm phán

- Cạnh tranh hơn : hạn chế những biện pháp thương mại không lành mạnh như trợ cấp xuất khẩu , bán phá giá

Dự đoán trước là cần thiết để đảm bảo rằng các công ty, nhà đầu tư và chính phủ nước ngoài yên tâm rằng sẽ không có sự áp dụng tùy tiện các rào cản thương mại, mức thuế quan và các cam kết mở cửa thị trường đã được "ràng buộc" tại WTO.

II Cam kết về hàng dệt may của VIỆT NAM với WTO.

Theo Bộ trưởng Trương Đình Tuyển, chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong quá trình gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) chủ yếu phù hợp với luật pháp và đường lối đổi mới của đất nước, do đó sẽ không gây ra biến động lớn Bộ văn kiện gia nhập WTO của Việt Nam đã được Ban công tác phê chuẩn vào ngày 26/10/2006, trước khi Đại hội đồng chính thức bỏ phiếu thông qua việc kết nạp chính thức Việt Nam vào ngày 7/11.

Việc gia nhập WTO của Việt Nam gửi đi một tín hiệu mạnh mẽ về quyết tâm đổi mới, dự kiến sẽ thúc đẩy đầu tư trong nước và nước ngoài, tạo ra năng lực sản xuất và xuất khẩu mới Đây là cơ hội rõ ràng được công nhận bởi nhiều tổ chức quốc tế và doanh nghiệp Việt Nam cam kết tuân thủ các hiệp định và quy định của WTO từ thời điểm gia nhập, nhưng do là nước đang phát triển, Việt Nam đã yêu cầu thời gian chuyển đổi để thực hiện một số cam kết liên quan đến thuế tiêu thụ đặc biệt, trợ cấp phi nông nghiệp, và quyền kinh doanh.

Cam kết của Việt Nam với WTO trong lĩnh vực dệt may bao gồm việc các thành viên WTO không áp dụng hạn ngạch dệt may đối với Việt Nam khi gia nhập Tuy nhiên, nếu vi phạm quy định WTO về trợ cấp cấm đối với hàng dệt may, một số quốc gia có thể thực hiện biện pháp trả đũa Đồng thời, các thành viên WTO cũng không được áp dụng biện pháp tự vệ đặc biệt đối với hàng dệt may của Việt Nam Về thuế nhập khẩu, trong đàm phán WTO, thuế suất MFN là 37,3%, thuế xuất khi gia nhập là 13,7%, và thuế suất cuối cùng cũng là 13,7%, với thời gian thực hiện ngay sau khi gia nhập, thực tế đã được áp dụng theo hiệp định dệt may với Mỹ và EU.

Trong quá khứ, các nước tiến hành các biện pháp nhập khẩu tràn lan.

Từ năm 1974 đến trước vòng Uruguay, thương mại hàng dệt may được quản lý bởi hiệp định Đa sợi (MFA), cho phép các nước phát triển thiết lập hạn ngạch hạn chế số lượng hàng nhập khẩu.

Việc áp dụng hạn ngạch đối với hàng dệt may vi phạm nguyên tắc cơ bản của WTO, dẫn đến các nước đang phát triển đã thành công trong việc thiết lập Hiệp định Dệt may (ATC) tại vòng đàm phán Uruguay Hiệp định này nhằm loại bỏ hạn ngạch và các biện pháp hạn chế nhập khẩu hàng dệt may, với lộ trình cụ thể kéo dài từ năm 1995 đến 31/12/2004 Để đảm bảo việc thực hiện nghiêm túc Hiệp định ATC, WTO đã thành lập một cơ quan giám sát chuyên trách cho lĩnh vực hàng dệt may.

III Cơ hội đối với thương mại hàng dệt may nước ta trong hội nhập

Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Dệt may Việt Nam, ông Lê Quốc Ân, nhấn mạnh rằng việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sẽ mang lại nhiều cơ hội phát triển cho ngành dệt may Một trong những lợi ích quan trọng nhất là ngành dệt may sẽ không còn bị áp dụng chế độ hạn ngạch khi tiếp cận thị trường quốc tế.

Thách thức đối vơi thương mại hàng dệt may nước ta trong hội nhập WTO

Ngành dệt may Việt Nam đang đối mặt với khó khăn lớn do thiếu năng động trong việc tìm kiếm khách hàng và thị trường Các chuyên gia CBI chỉ ra rằng hạn chế lớn nhất của doanh nghiệp Việt Nam là việc không tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, mà phải thông qua trung gian Nhiều doanh nghiệp vẫn giữ lối làm ăn truyền thống, chỉ gia công theo đơn đặt hàng từ nước thứ ba, thay vì tự tìm kiếm khách hàng Điều này khiến họ gặp bất lợi trước các đối thủ cạnh tranh năng động hơn, đặc biệt khi gia nhập WTO, Việt Nam phải cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp nước ngoài.

Một trong những thách thức lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam là sự yếu kém trong xây dựng và quảng bá thương hiệu Nhiều doanh nghiệp không chú trọng đến thương hiệu mà chỉ tập trung vào việc bán hàng Hậu quả là mặc dù kim ngạch xuất khẩu cao, nhưng thương hiệu của doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa được nhiều người biết đến.

Hàng rào bảo hộ tại thị trường nội địa sẽ được loại bỏ, dẫn đến việc thuế nhập khẩu cho sản phẩm may mặc giảm từ 50% xuống còn 10-15%, tương đương với mức chung của các thành viên WTO Điều này đồng nghĩa với việc sản phẩm dệt may Việt Nam sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ hàng dệt may nhập khẩu ngay trên thị trường nội địa.

Khó khăn lớn nhất của ngành dệt may Việt Nam hiện nay là mất thị trường Mỹ Để Quốc hội Mỹ thông qua Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) cho Việt Nam, Chính phủ cần có những biện pháp quyết liệt.

Mỹ đã quyết định thực hiện chế độ theo dõi đặc biệt đối với ngành dệt may Việt Nam và sẽ áp dụng các biện pháp chống bán phá giá đối với năm mặt hàng cụ thể.

Sản phẩm như "sơ mi, quần dài, đồ bơi, đồ ngủ, áo len" đang nằm trong tầm ngắm của Hoa Kỳ, với việc định kỳ thống kê 6 tháng một lần để phục vụ điều tra, điều này tạo ra thách thức cho ngành dệt may Việt Nam Trong trường hợp khẩn cấp, có thể áp dụng mức thuế sơ bộ hồi tố, và nếu xảy ra bán phá giá, Bộ Thương mại Mỹ sẽ tự tiến hành điều tra Mặc dù điều này có thể không phù hợp với quy định của WTO, nhưng đó là thực tế mà Việt Nam khó có thể tránh khỏi.

Nhiều công ty sản xuất hàng may mặc tại Việt Nam, bao gồm cả doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, đang phải đối mặt với tình trạng đóng cửa hoặc sản xuất cầm chừng do lo ngại của các nhà nhập khẩu về cơ chế chống bán phá giá, điều này gây rủi ro cho hoạt động kinh doanh của họ.

Công ty Việt - Mỹ và Công ty Đại Hoàng Gia tại các khu công nghiệp Quảng Ngãi, một tỉnh nghèo ở miền Trung Việt Nam, đang phải đóng cửa do thiếu đơn hàng Tình hình trở nên nghiêm trọng khi các đơn hàng cho quý III và quý IV từ phía Mỹ đang rất dè dặt, chưa có kế hoạch đặt hàng Thêm vào đó, các nhà nhập khẩu lớn như Nike và Adidas cũng đã giảm bớt các đơn hàng đã được lên kế hoạch trước đó.

Việc giám sát hiện tại đang gây thiệt hại lớn cho các nhà sản xuất và lao động Việt Nam, đồng thời ảnh hưởng tiêu cực đến các nhà nhập khẩu và ngành bán lẻ Mỹ với hơn 15 triệu lao động Nhiều nhà nhập khẩu Mỹ đã phải ngừng hoặc giảm đáng kể đơn đặt hàng cho nửa cuối năm do lo ngại về rủi ro từ cơ chế giám sát này.

- Trước thực trạng trên, theo giới chuyên gia kinh tế cho rằng , nếu

Mỹ đã áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng dệt may Việt Nam, gây ra tình hình khó khăn hơn so với chính sách hạn ngạch Trước đây, mặc dù chính sách hạn ngạch có những hạn chế trong việc xuất khẩu, nhưng nó cũng giúp giảm thiểu khả năng áp dụng các rào cản thương mại như chống bán phá giá do sản xuất nội địa của Mỹ bị giới hạn Khi cơ chế này không còn, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với nguy cơ bị áp thuế cao từ Mỹ bất cứ lúc nào, dẫn đến sự bất an trong hoạt động kinh doanh Thực tế cho thấy, một số nhà nhập khẩu Mỹ đang có xu hướng chuyển đơn hàng sang quốc gia khác, điều này rất đáng lo ngại vì 70% hàng dệt may của Việt Nam được xuất khẩu sang Mỹ.

Tất cả các nhà nhập khẩu Mỹ đều lo ngại rằng việc áp dụng biện pháp theo dõi đặc biệt và chống bán phá giá sẽ gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của họ, do không thể dự đoán thời điểm tăng thuế Hệ quả là nhiều nhà nhập khẩu sẽ từ bỏ hàng dệt may Việt Nam và chuyển hướng đầu tư sang các quốc gia khác Trước đây, dự báo cho rằng kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may sẽ tăng 15-20% mỗi năm, nhưng nếu Mỹ thực hiện các biện pháp này, mức tăng dự kiến sẽ chỉ còn khoảng 5-7% mỗi năm.

Ngành dệt may hiện có khoảng 2 triệu lao động, và việc Mỹ áp dụng chế độ theo dõi đặc biệt sẽ gây khó khăn cho người lao động trong lĩnh vực này Ông Lê Quốc Ân cho rằng số lao động trong ngành dệt may có thể chưa giảm trong năm 2007 do Mỹ mới bắt đầu áp dụng chế độ theo dõi, nhưng từ năm 2008 trở đi, mức độ ảnh hưởng sẽ tăng cao.

Vào thứ năm, thuế nhập khẩu hàng dệt may đã được cắt giảm đáng kể, điều này sẽ tạo ra những biến động trong thị trường nội địa.

Các doanh nghiệp nhỏ trong ngành dệt may Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức trong tương lai Nếu không đầu tư mạnh mẽ vào việc làm chủ nguyên liệu và thiết kế mẫu mã, lợi thế cạnh tranh sẽ giảm sút Từ tháng 1-2007, thuế nhập khẩu hàng dệt may đã giảm đáng kể, với thuế suất cho xơ, sợi giảm từ 20% xuống 5%, vải từ 40% xuống 12%, và may sẵn từ 50% xuống 20% Điều này dự kiến sẽ gây ra sự biến động lớn trên thị trường nội địa, đặc biệt là với các công ty nhỏ, khiến nhiều doanh nghiệp có thể phải đóng cửa Việc cắt giảm thuế suất sẽ tạo cơ hội cho các thương hiệu quần áo nước ngoài mở rộng hoạt động tại Việt Nam Theo phân tích từ Trung tâm Xúc tiến thương mại Việt Nam và Đầu tư TP Hồ Chí Minh, kênh phân phối và thương hiệu là những yếu tố then chốt trong cuộc cạnh tranh, nhưng lại là điểm yếu của doanh nghiệp Việt Kết quả cuối cùng có thể dẫn đến sự thay thế của các thương hiệu may sẵn Việt Nam bởi các thương hiệu nước ngoài và sự sụt giảm đáng kể lượng khách hàng tại các nhà may do nhu cầu sử dụng hàng hiệu giá rẻ gia tăng.

Vào thứ Sáu, ngành dệt may Việt Nam sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh ngay trong thị trường nội địa từ hàng hóa Trung Quốc, Ấn Độ và Pakistan, do sự giảm thuế nhập khẩu.

50% đối với hàng may mặc và 40% đối với vải được giảm xuống 10-15% đẩy các doanh nghiệp Việt Nam vào thế bất lợi ngay trên sân nhà

Mục tiêu , phương hướng phát triển của thương mại hàng

Ngành dệt may đã đạt được nhiều mục tiêu quan trọng, góp phần tăng cường xuất khẩu và thu hút ngoại tệ mạnh, đứng thứ hai về kim ngạch xuất khẩu sau ngành dầu khí Ngành này không chỉ tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động mà còn thu hút thêm hàng vạn lao động mỗi năm Phát triển ngành dệt may trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Dự kiến, kim ngạch xuất khẩu sẽ đạt từ 8.000 đến 9.000 triệu đô la Mỹ vào năm 2010.

Dệt may Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2010 trở thành tập đoàn đa sở hữu hàng đầu tại Đông Nam Á, với quy mô sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh sản phẩm vượt trội Ngành dệt may sẽ xây dựng các thương hiệu sản phẩm hàng đầu trong khu vực, phát triển hệ thống bán lẻ rộng khắp cả nước, đạt kim ngạch xuất khẩu 2,5 tỷ USD và tạo ra khoảng 150.000 việc làm.

“Top 10 ” trong số các nước xuất khẩu dệt may trên thế giớ đang là mục tiêu hướng tới của ngành dệt may Việt Nam.Với kinm ngạch XK năm

Năm 2006, xuất khẩu dệt may của Việt Nam đạt 5,8 tỷ USD, tăng hơn 20% so với năm trước, giúp nước ta đứng thứ 16 trong số 153 quốc gia xuất khẩu dệt may toàn cầu Đây là cơ sở vững chắc để ngành dệt may tiếp tục phát triển trong năm 2007 và các năm tiếp theo Vinatex được xác định là động lực chính trong việc nâng cao vị thế xuất khẩu của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt Thứ trưởng Bộ Công nghiệp Bùi Xuân Khu đã nhấn mạnh rằng dệt may sẽ trở thành một tập đoàn mạnh với thương hiệu quốc gia mà không cần sự can thiệp của nhà nước Tuy nhiên, chiến lược tăng trưởng ngành dệt may có thể bị ảnh hưởng nếu nguồn vốn ưu đãi và chính sách hỗ trợ từ nhà nước không còn hiệu lực.

DN dệt may phải tự mình cố gắng vươn lên để tồn tại

Năm 2007 , năm đầu tiên gia nhập WTO , ngành dệt may đã đặt mục tiêu xuất khẩu đạt kim ngạch 7,374 tỷ USD tăng khoảng 27% so với năm

Năm 2006, ngành dệt may Việt Nam đặt mục tiêu cao, tuy nhiên đối mặt với nhiều thách thức để đạt được Kế hoạch cho năm 2007 là hoàn tất cổ phần hóa các đơn vị thành viên, và năm 2008 sẽ tiến hành kế hoạch hóa tập đoàn Tập đoàn cũng đã kiến nghị Bộ Công nghiệp cho phép đẩy mạnh cổ phần hóa tổng công ty từ năm 2007 nhằm đối phó với nguy cơ bị kỳ thị từ các đối tác nước ngoài Hiện tại, Việt Nam đứng thứ 16/153 quốc gia trong lĩnh vực xuất khẩu dệt may.

Ngành dệt may Việt Nam trong những năm qua chủ yếu phát triển mạnh ở lĩnh vực may mặc do yêu cầu vốn thấp và thời gian thu hồi nhanh, trong khi lĩnh vực dệt lại chưa phát triển tương xứng về quy mô và năng lực cạnh tranh Ngành công nghiệp phụ trợ vẫn còn yếu kém, với 70-80% nguyên phụ liệu phải nhập khẩu, dẫn đến việc ngành Dệt - May chủ yếu tập trung vào gia công với giá trị gia tăng và hiệu quả kinh tế thấp Để cải thiện tình hình, cần đẩy mạnh phát triển công nghiệp dệt và công nghiệp phụ trợ, nhằm tạo ra một cơ cấu Dệt - May - công nghiệp phụ trợ cân đối, tăng tính chủ động và hiệu quả trong phát triển ngành.

Việc mua nguyên phụ liệu từ bên ngoài mang lại sự linh hoạt và khả năng chọn nguồn nguyên liệu giá rẻ, nhưng cũng làm tăng tính phụ thuộc vào nhà cung cấp, dễ dẫn đến việc bị ép giá và hạn chế chủ động trong sản xuất Do đó, các doanh nghiệp dệt và may cần chuyên nghiệp hóa hoạt động sản xuất, kinh doanh và phát triển quan hệ mua bán nguyên liệu trong khu vực, nhằm giảm áp lực cạnh tranh từ bên ngoài và tăng tính chủ động, tạo động lực phát triển cho cả hai ngành.

Trong tương lai, khách hàng có xu hướng ưu tiên các nhà sản xuất lớn với nguồn cung ổn định và thời gian giao hàng nhanh, điều này tạo lợi thế cho doanh nghiệp lớn trong việc tiếp cận khách hàng Ngược lại, các doanh nghiệp nhỏ sẽ gặp khó khăn do sức cạnh tranh thấp Để đối phó với thách thức này, các nhà sản xuất trong nước cần thúc đẩy hợp tác và liên kết trong sản xuất và tiêu thụ, nhằm hình thành các tập đoàn lớn với sức mạnh cạnh tranh cao Các doanh nghiệp đầu ngành sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, thông qua việc thu hút họ làm vệ tinh hoặc thực hiện các thương vụ sát nhập, từ đó củng cố vị thế của mình và phát triển thành các công ty cổ phần.

Để nâng cao khả năng hợp tác và hoàn thiện sản phẩm, các nhà sản xuất cần tập trung vào chuyên môn hoá trong sản xuất Mỗi doanh nghiệp nên làm chủ một số công nghệ nhất định và đầu tư vào máy móc chuyên dụng, nhằm sản xuất chuyên sâu cho từng nhóm sản phẩm như sợi, dệt Đặc biệt, trong khâu may mặc, cần chuyên môn hoá hẹp hơn theo từng loại sản phẩm như quần âu, áo sơ mi, quần áo trẻ em và quần áo thể thao.

Để duy trì thị trường truyền thống và mở rộng thị trường mới, ngành dệt may Việt Nam cần cải thiện quy trình tạo mẫu và nhãn hiệu hàng hóa, hiện tại chủ yếu phụ thuộc vào đối tác nước ngoài Việc nhập khẩu nguyên phụ liệu từ nước ngoài làm giảm tính thời trang và khả năng nắm bắt thị hiếu người tiêu dùng của doanh nghiệp Nếu các doanh nghiệp giải quyết được vấn đề này, việc giữ vững và mở rộng thị trường sẽ trở nên dễ dàng hơn.

Tình hình hiện nay rất khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam, khi họ mong muốn giá cao nhưng thực tế lại chịu áp lực về giá cả Cần có biện pháp quản lý giá hiệu quả, dựa trên việc xác định giá bình quân hợp lý Đồng thời, việc áp dụng phương pháp quản lý nhanh là rất cần thiết, bao gồm tham khảo thông tin kịp thời, thông báo và cảnh báo sớm, cũng như giản tiện thủ tục hành chính Hầu hết các doanh nghiệp đều đồng thuận với việc tiếp tục các biện pháp quản lý, như áp dụng giấy chứng nhận xuất khẩu E/C thay cho visa và cấp giấy C/O form B, cũng như đồng ý với biện pháp quản lý giá bình quân tối thiểu.

Theo quan điểm của bộ , của ban dệt may là không làm thay doanh nghiệp, doanh nghiệp cần phải biết chuyển mục đích của mình thành ý chí

Bộ không quy định giá tối thiểu mà chỉ cung cấp thông tin về giá và khuyến cáo doanh nghiệp không nên bán thấp hơn mức an toàn để định hướng chào giá Bộ trưởng Trương Đình Tuyển cũng nhấn mạnh rằng các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp đang hưởng các chính sách ưu đãi, cần lưu ý không bỏ qua các chi phí như thuế thu nhập và thuế đất khi xây dựng giá thành.

Giải pháp cho thương mại hàng dệt may Việt Nam

Để giải quyết những khó khăn mà ngành dệt may đang gặp phải, bước tiếp theo là đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm cải thiện tình hình.

Theo các nhà hoạch định chiến lược, việc thay đổi nhận thức là yếu tố quan trọng nhất đối với doanh nghiệp Việt Nam hiện nay Doanh nghiệp cần nhận thức rằng trong cơ chế thị trường và xu hướng toàn cầu hóa, thị trường phải là điểm khởi đầu cho quá trình sản xuất kinh doanh Họ cần lắng nghe và đáp ứng nhu cầu của thị trường để định hướng hoạt động, điều chỉnh sản xuất về cả số lượng và chất lượng Để đạt được điều này, bên cạnh việc gia công xuất khẩu qua trung gian, các doanh nghiệp nên đầu tư mở rộng thị trường xuất khẩu trực tiếp (FBO) và chú trọng vào thị trường nội địa Hơn nữa, doanh nghiệp cần coi thị trường như một phần tài sản cố định, thường xuyên được đầu tư chuyên sâu và đổi mới.

Để hội nhập thành công, doanh nghiệp cần tập trung vào chiến lược xây dựng uy tín thương hiệu, trong đó sản phẩm phải đạt chất lượng cao, đa dạng về chủng loại và mẫu mã đẹp Doanh nghiệp nên coi thương hiệu như tài sản quý giá, ảnh hưởng lớn đến thành công và cần có các sách lược hợp lý để đảm bảo tính pháp lý trong môi trường cạnh tranh Thực tế cho thấy, việc xây dựng thương hiệu tiêu tốn hàng trăm nghìn đến triệu USD mỗi năm cho quảng bá, và sự thiếu chú ý có thể dẫn đến mất thương hiệu, gây ra chi phí lớn cho các tranh chấp pháp lý.

Một số thương hiệu dệt may Việt Nam như Vee Sendy (Việt Tiến), Novelty (Nhà Bè) và Pharaon (May 10) đã ghi dấu ấn trên thị trường xuất khẩu và tiêu dùng nội địa Thị trường xuất khẩu dệt may đang được điều chỉnh để giảm thiểu biến động từ các rào cản Các hoạt động xúc tiến thương mại được thực hiện nhằm mở rộng sang các thị trường truyền thống và mới, giảm sự phụ thuộc vào thị trường Mỹ (chỉ chiếm dưới 50%), đồng thời tăng cường thị trường EU và Nhật Bản lên 40%.

3 Theo thứ trưởng Bộ Công Nghiệp ông Bùi Xuân Khu cho rằng năm 2007 ngành dệt may phải đẩy mạnh công tác đầu tư , “Nguồn vốn đầu tư phải đa dạng và đa sở hữu., tăng tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng trong sản phẩm XK bằng các giải pháp liên doanh, liên kết với các nhà đầu tư chiến lược quốc tế trong lĩnh vực sản xuất nguyên phụ liệu ,tập trung vào thiết kế mẫu mã, xây dựng thương hiệu cho từng doanh nghiệp và cho cả quốc gia

4 Vấn đề phòng ngự từ xa để đối phó với các rào cản thương mại phải được chú ý đặc biệt Đồng thời phải nghiên cứu, năm vững và vận dụng tốt luật lệ, tập quán buôn bán quốc tế Hạn chế tới mức thấp nhất việc vi phạm, như bán phá giá, các quy định về nhãn mác, xuất xứ…

Ông Lê Quốc Ân, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Dệt may Việt Nam, nhấn mạnh rằng sự hợp tác chặt chẽ giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước là cần thiết để hạn chế tình huống xấu liên quan đến việc chuyển tải hàng dệt may bất hợp pháp sang Hoa Kỳ Doanh nghiệp cần giám sát giá bình quân, tránh giảm giá đột ngột và hạn chế xuất khẩu các lô hàng đơn giản, đẳng cấp thấp với giá quá thấp Họ cũng phải từ chối việc chuyển tải bất hợp pháp và gia công tái xuất hàng hóa không đúng quy chế C/O của Hoa Kỳ Hệ thống sổ sách liên quan đến lý lịch và chi phí đầu vào của lô hàng xuất khẩu cần được kiện toàn Hiệp hội và các bộ ngành liên quan cần có biện pháp giám sát và tổng hợp số liệu kịp thời cho các nhóm hàng nhạy cảm theo cơ chế giám sát của Hoa Kỳ Đồng thời, doanh nghiệp không nên chỉ tập trung vào thị trường Mỹ mà cần khai thác thêm nhiều thị trường mới để mở rộng cơ hội kinh doanh.

5 Tiếp nữa để không bị lấn ép trên “sân nhà” ngành dệt may cũng nên xác định thị trường nội địa đang chiếm tới 60% doanh số của ngành dệt và khoảng 30% doanh số ngành may Các doanh nghiệp nếu tận dụng được lợi thế sân nhà, nắm bắt thị hiếu người tiêu dùng trong nước và xây dựng những tập đoàn dệt may lớn, phân chia đầu tư thích đáng vào từng lĩnh vực như: thiết kế sản phẩm Có mạng lưới phân phối trong nước và xuyên quốc gia tốt chắc chắn thị trường trong nước không bị thu hẹp thị phần mà thương hiệu sản phẩm dệt may Việt Nam còn được quảng bá rộng rải trên thế giới

6 Ngành dệt may cần tăng cường sức cạnh tranh, tập trung vào sản phẩm có giá trị , hàm lượng công nghệ cao để tránh nguy cơ chống bán phá giá của Hoa Kỳ Ngành dệt may cũng phải đầu tư đẻ chiếm lĩnh thị trường nội địa trước khi hệ thống bán lẻ nước ngoài xâm nhập Tuy vậy cần có những cơ chế hợp tác chặt chẽ giữa tập đoàn dệt may và các tỉnh thành Xây dựng ở miền Trung thành trung tâm dệt may của cả nước Thiết lập trung tâm nguyên phụ liệu chủ động nguồn nguyên liệu

Trước tình hình cạnh tranh gay gắt từ ngành dệt may Trung Quốc, Hiệp hội dệt may đã khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm chất lượng cao và có giá trị gia tăng lớn Đây được xem là giải pháp chủ yếu giúp doanh nghiệp tìm ra hướng đi an toàn hơn Tuy nhiên, theo ông Lê Quốc Ân, Chủ tịch Hiệp hội, quá trình thực hiện vẫn diễn ra chậm chạp.

Doanh nghiệp Việt Nam có thể học hỏi từ kinh nghiệm của Đài Loan, khi các công ty tại đây đã phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các doanh nghiệp dệt may lớn của Trung Quốc Để vượt qua thách thức này, họ đã tập trung vào việc phát triển những sản phẩm độc đáo với tính năng khác biệt cao, sản lượng thấp, nhưng có giá bán cao hơn nhiều so với các mặt hàng thông thường.

Việt Nam phải chọn đi theo hướng đó, sản xuất các mặt hàng riêng biệt, độc đáo để chiếm một thị phần ổn định và có khách hàng riêng

7 Để tồn tại, DN tùy theo thế mạnh phải xây dựng cho mình chiến lược cạnh tranh đúng đắn Chiến lược đó phải bao gồm: sản phẩm chủ lực, thị phần chủ lực và các giải pháp quản lý nguồn lực hợp lý để thực hiện cho được chiến lược đó DN cũng phải tăng năng suất lao động và nghiên cứu các sản phẩm có tính khác biệt cao để tăng khả năng cạnh tranh Tiến sĩ David Luff, luật gia quốc tế khẳng định, khi tổ chức chiến lược tiếp thị, các nhà sản xuất hàng dệt may Việt Nam nên xem xét các vấn đề, như kiểm tra các tiêu chuẩn để được công nhận và hưởng đối xử theo tư cách nền kinh tế thị trường và chuẩn bị trước hồ sơ theo hướng này.

Cần thực hiện đối thoại công tư trong những trường hợp bị ràng buộc, do các biện pháp của Chính phủ khiến doanh nghiệp không đủ điều kiện để được hưởng quyền lợi theo quy định của nền kinh tế thị trường.

Trước áp lực cạnh tranh, ngành Dệt Việt Nam đang hướng tới việc đa dạng hóa thị trường để giảm thiểu rủi ro, không chỉ tập trung vào một thị trường duy nhất Ngành này chú trọng nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm và tăng cường đầu tư vào sản xuất nguyên phụ liệu trong nước Đồng thời, ngành Dệt cũng tiếp tục vận động chính quyền Mỹ chấm dứt chế độ theo dõi đặc biệt và áp dụng các biện pháp chống bán phá giá.

9 Đồng thời, Hiệp hội Dệt May Việt Nam cũng đã bàn thảo một số kế hoạch để bảo vệ quyền lợi và hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng cơ hội để thành công như: Tiến hành quảng bá thương hiệu, xúc tiến mở rộng thị trường, hỗ trợ cập nhật thông tin thị trường và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực; làm cầu nối giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước, giữa các đơn vị, tổ chức; bảo vệ quyền lợi hội viên, đặc biệt là trong điều kiện các nước nhập khẩu đưa ra các hàng rào bảo hộ Nhưng nhiệm vụ trước mắt là cần nhanh chóng hình thành và đưa vào hoạt động trung tâm nguyên phụ liệu để cung ứng nguyên phụ liệu và thiết kế mẫu mốt cho khách hàng. Nhằm thúc đẩy trung tâm nguyên phụ liệu nhanh chóng hoạt động ổn định, trong tháng 4/2007, Hiệp hội sẽ tổ chức Hội chợ triển lãm nguyên phụ liệu dệt may quốc tế tại TP.HCM

Tạo lập điều kiện cần thiết để thực hiện những giải pháp

1 Điều kiện vĩ mô a Chính phủ

Khai thác lợi thế và vượt qua thách thức khi gia nhập WTO là yếu tố quan trọng cho hội nhập toàn cầu Nhà nước cần hoàn thiện chính sách và pháp luật để thực hiện các cam kết theo hiệp định thương mại Đồng thời, cần đẩy nhanh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và chuẩn bị nguồn lực cho chuyển dịch cơ cấu Ngoài ra, việc đào tạo nhân lực và tiếp thu công nghệ tiên tiến là cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý và chuyên nghiệp hóa bộ máy nhà nước.

Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành tích cực đàm phán với Mỹ nhằm mở rộng hạn ngạch và giảm hoặc loại bỏ thuế nhập khẩu cho hàng dệt may Việt Nam, giúp doanh nghiệp trong nước có thể cạnh tranh công bằng với các quốc gia khác.

Việt Nam cam kết nghiêm túc thực hiện các cam kết quốc tế và không có khả năng bán phá giá hàng dệt may cũng như các mặt hàng khác sang thị trường nước ngoài Thủ tướng Chính phủ đã quyết định hủy Quyết định số 55 –TTg về phát triển ngành dệt may đến năm 2010, trong đó bao gồm một số biện pháp hỗ trợ cho ngành này.

Theo các doanh nghiệp dệt may, Chính phủ có thể hỗ trợ hiệu quả thông qua việc cung cấp thông tin thị trường, tư vấn và huấn luyện, cũng như tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi mà không vi phạm các cam kết WTO Bộ thương mại và các bộ liên quan đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy những biện pháp này.

Theo TTXVN, các chuyên gia kinh tế và doanh nghiệp nhận định rằng việc Bộ Thương mại cấp giấy phép xuất khẩu cho hàng dệt may sang Hoa Kỳ từ ngày 15/3/2007 không gây phiền hà và không hạn chế số lượng xuất khẩu của doanh nghiệp.

Bộ Thương mại và Bộ Công nghiệp, sau khi nhận được chỉ đạo từ Thủ tướng Chính phủ, đã quyết định áp dụng cơ chế giám sát xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ Mục tiêu là giảm thiểu các lô hàng giá thấp và quản lý hiệu quả quá trình tăng trưởng xuất khẩu Liên Bộ sẽ phối hợp hướng dẫn các doanh nghiệp và hiệp hội dệt may Việt Nam để xử lý các trường hợp cụ thể.

Ông Nguyễn Đức Thanh, Trưởng Ban Dệt May của Bộ Thương mại, thông báo rằng vào tháng 5 năm 2007, Bộ sẽ phân hạn ngạch theo liên kết chuỗi sớm hơn 2 tháng so với quy định nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Đồng thời, Bộ cũng sẽ đẩy nhanh các thủ tục hành chính và công khai địa chỉ e-mail của các thành viên trong Ban để doanh nghiệp có thể dễ dàng trao đổi thông tin và nhận được sự hỗ trợ kịp thời cho các thắc mắc.

Các doanh nghiệp cần chuẩn bị kỹ lưỡng để tiếp cận thị trường toàn cầu, bao gồm việc hiểu và thực hiện nghiêm túc các quy định trong thương mại quốc tế, bản quyền, tiêu chuẩn chất lượng và quy định chống bán phá giá Họ cũng cần đầu tư vào nguồn lực chất lượng cao để tiếp thu công nghệ mới, cải thiện chất lượng sản phẩm, giảm giá thành và nâng cao dịch vụ sau bán hàng Đặc biệt, việc xây dựng uy tín và thương hiệu mạnh không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thị trường quốc tế là rất quan trọng, nhất là trong ngành dệt may, nơi mà sản phẩm chủ yếu được xuất khẩu qua các thương hiệu nổi tiếng toàn cầu như của Đức.

Trong thời gian tới, doanh nghiệp dệt may Việt Nam sẽ phải đối mặt với cạnh tranh khốc liệt tại các thị trường lớn như EU và Mỹ Để tồn tại, các doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược sản xuất và xuất khẩu phù hợp với từng thị trường cụ thể Bên cạnh việc nâng cao năng suất lao động, kiểm soát chi phí và giảm giá thành, họ cần tìm kiếm các "thị trường ngách" và tận dụng lợi thế từ những đơn hàng nhỏ mà đối thủ không chú ý Bằng cách giành được nhiều đơn hàng nhỏ nhưng có giá trị gia tăng lớn, ngành dệt may Việt Nam có thể đạt được mục tiêu phát triển bền vững.

Các doanh nghiệp dệt may kêu gọi các bộ, ngành đơn giản hóa thủ tục hành chính và nhanh chóng thực hiện các quy trình liên quan đến quản lý hạn ngạch, xuất nhập khẩu và thuế quan Để hỗ trợ doanh nghiệp trong bối cảnh hiện tại, Hiệp hội Dệt may sẽ cập nhật tình hình thị trường, tăng cường xúc tiến thương mại bằng cách tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia hội chợ quốc tế, thành lập trung tâm giao dịch nguyên phụ liệu tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, cũng như liên kết đào tạo nguồn nhân lực nhằm nâng cao chất lượng lao động trong ngành.

Bộ trưởng Trương Đình Tuyển nhấn mạnh rằng doanh nghiệp cần hợp tác để biến định hướng của Chính phủ thành ý chí chung, trong đó cam kết không xuất khẩu hàng hóa có giá thấp và quyết tâm ngăn chặn việc chuyển tải Nếu vi phạm, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với hình phạt nặng Đồng thời, cần kết hợp cấp giấy phép lưu động với cấp C/O để quản lý hiệu quả hơn.

Gia nhập WTO mở ra cơ hội tiếp cận thị trường toàn cầu với chế độ đối xử MFN, đặc biệt trong lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng dệt may Mặc dù có nhiều cơ hội như nhận đơn hàng lớn và không bị hạn ngạch xuất khẩu, nhưng cũng tồn tại không ít thách thức Trong năm 2007, những cơ hội và thách thức này đã trở nên rõ rệt, yêu cầu các doanh nghiệp và chính phủ phải đưa ra giải pháp thiết thực nhằm tận dụng cơ hội và khắc phục khó khăn Để hội nhập quốc tế thành công, cần tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, góp phần phát triển kinh tế đất nước một cách bền vững.

Ngày đăng: 16/12/2021, 11:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình Kinh Tế Thương Maị : GS.TS Đặng Đình Đào- GS.TS Hoàng Đức Thân.-Nhà xuất bản thống kê-2003 Khác
2. Dệt may VN cơ hội và thách thức (Viet Nam Garment and Textile Industry Opportunities and Challenges) – nhà xuất bản chính trị quốc gia Khác
4. Thời báo kinh tế Việt Nam (các số) 5. Tạp chí thương mại (các số) Khác
8.Cácweb:webmaster@agroviet.gov.vn,vncgteam@vnn.v Google.com.vn, Yahoo.com.vn… Khác
9.Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông NGhiệp và Phát Triển Nông Thôn 10.Báo điện tử của báo khuyến học và dân trí –diễn đàn dân trí VN Khác
14.WTO với doanh nghiệp VN : những cơ hội và thách thức hậu gia nhập WTO Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w