MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THANH TRA
Một số vấn đề chung về thanh tra, thanh tra đất đai
1.1.1 Khái ni ệ m, v ị trí, vai trò c ủ a công tác thanh tra
Hiện nay, việc củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là rất quan trọng để nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước Mục tiêu là xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phục vụ lợi ích của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Thanh tra đóng vai trò quan trọng trong quản lý Nhà nước, đặc biệt trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền Tại Việt Nam hiện nay, thanh tra không chỉ đáp ứng nhu cầu quản lý hành chính nhà nước mà còn là một chức năng thiết yếu của cơ quan hành pháp.
Thanh tra theo từ điển tiếng việt là hoạt động “điều tra, xem xét để làm rõ sự việc”
Thanh tra là quá trình xem xét khách quan việc tuân thủ các quy định pháp luật, nhằm đảm bảo sự thực hiện đúng đắn của các quy định này Hoạt động thanh tra chỉ diễn ra trong bối cảnh quản lý xã hội và quản lý nhà nước Đối với mỗi quốc gia, thanh tra đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ pháp chế và kỷ luật nhà nước, là chức năng thiết yếu trong quản lý nhà nước Mục tiêu của thanh tra là kiểm tra việc thực hiện các quy phạm pháp luật, đồng thời phát hiện nguyên nhân vi phạm và đề xuất biện pháp khắc phục.
Hoạt động quản lý Nhà nước và quản lý xã hội là rất phức tạp và diễn ra trên mọi mặt của đời sống Để ngăn chặn sai phạm và giảm thiểu tác hại, đặc biệt trong quan hệ đất đai, hoạt động thanh tra là cần thiết Điều này giúp ổn định các quan hệ xã hội và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, thể hiện trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong chức năng quản lý.
Thanh tra bao gồm hai hình thức chính: thanh tra nhà nước và thanh tra nhân dân, được phân định dựa trên chủ thể thực hiện hoạt động thanh tra Thanh tra nhà nước là hình thức thanh tra do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm kiểm tra, giám sát và đảm bảo việc thực hiện pháp luật.
Thanh tra nhà nước là hoạt động đánh giá và xử lý theo quy định pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhằm kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, và nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân Hoạt động này tuân theo trình tự, thủ tục được quy định trong Luật Thanh tra và các quy định pháp luật liên quan Thanh tra nhà nước được chia thành hai loại: thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành.
Thanh tra hành chính là hoạt động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhằm kiểm tra việc tuân thủ chính sách, pháp luật và nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân Đối tượng thanh tra bao gồm cơ quan hành chính và công chức nhà nước Mục tiêu chính của thanh tra hành chính là nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân từ các cơ quan hành chính và đội ngũ công chức.
Thanh tra chuyên ngành là hoạt động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện, nhằm kiểm tra việc tuân thủ pháp luật và quy định chuyên môn – kỹ thuật của các cơ quan, tổ chức và cá nhân Đối tượng thanh tra bao gồm công dân và doanh nghiệp Mục tiêu chính của thanh tra chuyên ngành là đảm bảo các quy định pháp luật, đặc biệt là các quy định chuyên môn và quy tắc quản lý, được thực hiện nghiêm túc.
Thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành thực hiện hai hình thức cơ bản: thanh tra theo chương trình, kế hoạch và thanh tra đột xuất Thanh tra theo chương trình, kế hoạch là hình thức thanh tra được thực hiện dựa trên chương trình đã được phê duyệt, mang tính chất chủ động và thường xuyên nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý.
Chủ thể của hoạt động thanh tra nhà nước là các cơ quan quản lý nhà nước, đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng thanh tra Thanh tra không chỉ là một chức năng thiết yếu mà còn là công cụ quan trọng trong quản lý nhà nước Hoạt động thanh tra có thể được quyết định bởi thủ trưởng cơ quan quản lý hoặc được thực hiện bởi các cơ quan thanh tra nhà nước thuộc hệ thống cơ quan quản lý nhà nước.
Đối tượng của hoạt động thanh tra nhà nước bao gồm các cơ quan, tổ chức và cá nhân nằm trong phạm vi quản lý Điều này cho thấy rằng đối tượng thanh tra rất đa dạng và mở rộng theo các đối tượng được quản lý Tất cả các cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự quản lý đều có thể trở thành đối tượng của hoạt động thanh tra.
Nội dung thanh tra bao gồm việc xem xét, đánh giá và xử lý việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ và quyền hạn Thanh tra không chỉ đánh giá hoạt động hay hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà còn xác định tính đúng đắn và sự phù hợp của những hoạt động đó Qua đó, các biện pháp xử lý kịp thời được đưa ra nhằm đảm bảo hiệu quả trong công tác quản lý Tất cả quá trình này dựa trên các chuẩn mực của chính sách và pháp luật nhà nước.
Hoạt động thanh tra phải tuân theo trình tự, thủ tục và thẩm quyền được quy định trong Luật Thanh tra và các quy định pháp luật khác Chỉ những hoạt động này mới được xem là thanh tra nhà nước, đảm bảo đúng chủ thể, nội dung, đối tượng và phương thức tiến hành theo quy định pháp luật Thanh tra nhân dân cũng là một phần quan trọng trong hệ thống thanh tra.
Thanh tra nhân dân là hình thức giám sát của cộng đồng, được thực hiện thông qua Ban thanh tra nhân dân Hình thức này có nhiệm vụ theo dõi việc thực hiện chính sách, pháp luật, cũng như giải quyết các khiếu nại và tố cáo Ngoài ra, Ban thanh tra còn giám sát việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm tại xã, phường, thị trấn, các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước.
Hoạt động thanh tra nhân dân là sự giám sát của quần chúng và người lao động tại cơ sở thông qua Ban thanh tra nhân dân Khác với các tổ chức thanh tra nhà nước, thanh tra nhân dân không thực hiện thanh tra hay kiểm tra mà chủ yếu theo dõi việc thực hiện chính sách pháp luật, nhằm phát hiện vi phạm và kiến nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm rõ và xử lý.
Thanh tra nhà nước
1.2.1 C ơ c ấ u t ổ ch ứ c, n hi ệ m v ụ , quy ề n h ạ n c ủ a thanh tra nhà n ướ c
1.2.1.1 C ơ c ấ u t ổ ch ứ c a Thanh tra chính phủ
Thanh tra Chính phủ là cơ quan thuộc Chính phủ, có nhiệm vụ quản lý nhà nước về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng trên toàn quốc Cơ quan này thực hiện các hoạt động thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật.
Thanh tra Chính phủ bao gồm Tổng Thanh tra Chính phủ, các Phó Tổng Thanh tra và Thanh tra viên Tổng Thanh tra Chính phủ là thành viên của Chính phủ và đứng đầu ngành thanh tra, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và Thủ tướng về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, và phòng, chống tham nhũng Các Phó Tổng Thanh tra hỗ trợ Tổng Thanh tra trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao.
Thanh tra bộ là cơ quan thuộc bộ, có nhiệm vụ hỗ trợ Bộ trưởng trong việc quản lý nhà nước về thanh tra, giải quyết khiếu nại và tố cáo, cũng như phòng, chống tham nhũng Cơ quan này thực hiện thanh tra hành chính đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong phạm vi quản lý của bộ, đồng thời tiến hành thanh tra chuyên ngành theo lĩnh vực mà bộ quản lý Ngoài ra, Thanh tra bộ còn có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo và thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng theo quy định pháp luật.
Thanh tra bộ bao gồm Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra và Thanh tra viên, với Chánh Thanh tra do Bộ trưởng bổ nhiệm và miễn nhiệm sau khi thống nhất với Tổng Thanh tra Chính phủ Phó Chánh Thanh tra hỗ trợ Chánh Thanh tra trong việc thực hiện nhiệm vụ được phân công Thanh tra bộ hoạt động dưới sự chỉ đạo của Bộ trưởng và tuân thủ hướng dẫn từ Thanh tra Chính phủ về công tác và nghiệp vụ.
Thanh tra tỉnh và huyện là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và huyện, có nhiệm vụ hỗ trợ Ủy ban trong việc quản lý nhà nước về công tác thanh tra Các cơ quan này đảm nhận việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, đồng thời thực hiện thanh tra theo quy định của pháp luật.
Thanh tra tỉnh và huyện bao gồm Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra và Thanh tra viên Chánh Thanh tra tỉnh được bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức bởi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, sau khi có sự thống nhất với Tổng Thanh tra Chính phủ Phó Chánh Thanh tra tỉnh hỗ trợ Chánh Thanh tra trong việc thực hiện nhiệm vụ được phân công Các cơ quan thanh tra tỉnh và huyện hoạt động dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp, đồng thời tuân thủ hướng dẫn về tổ chức và nghiệp vụ từ Thanh tra Chính phủ.
Thanh tra sở là cơ quan thuộc sở, có nhiệm vụ hỗ trợ Giám đốc sở trong việc thực hiện thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành Đồng thời, cơ quan này cũng đảm nhận việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật.
Thanh tra sở được thành lập tại các sở có nhiệm vụ quản lý nhà nước theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc theo quy định pháp luật Cơ cấu tổ chức của thanh tra sở bao gồm Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra và các Thanh tra viên.
Chánh Thanh tra sở được Giám đốc sở bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức sau khi có sự thống nhất với Chánh Thanh tra tỉnh Phó Chánh Thanh tra sở hỗ trợ Chánh Thanh tra sở trong việc thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công.
Thanh tra sở hoạt động dưới sự chỉ đạo và điều hành của Giám đốc sở, đồng thời chịu sự hướng dẫn về công tác thanh tra hành chính từ Thanh tra tỉnh và nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành từ Thanh tra bộ.
1.2.1.2 Nhi ệ m v ụ , quy ề n h ạ n c ủ a c ơ quan thanh tra Nhà n ướ c a Nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra Chính phủ
- Trong quản lý nhà nước về thanh tra, Thanh tra Chính phủ có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
Xây dựng chiến lược và định hướng cho chương trình thanh tra, bao gồm việc soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật để trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt Đồng thời, cần hướng dẫn, tuyên truyền và kiểm tra việc thực hiện các quy định pháp luật liên quan đến thanh tra.
+ Lập kế hoạch thanh tra của Thanh tra Chính phủ; hướng dẫn Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra;
Chỉ đạo và hướng dẫn công tác thanh tra là nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác này Việc bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra sẽ giúp cải thiện chất lượng và hiệu quả công tác thanh tra, đảm bảo tính chính xác và minh bạch trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Chủ trì và phối hợp với Bộ Nội vụ để hướng dẫn tổ chức bộ máy và biên chế thanh tra ở các cấp và ngành Đưa ra điều kiện và tiêu chuẩn bổ nhiệm cho Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra và Thanh tra viên các cấp, các ngành.
Yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo về công tác thanh tra, bao gồm tổng hợp và báo cáo kết quả, cũng như tổng kết kinh nghiệm trong lĩnh vực này.
+ Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra của Thủ tướng Chính phủ, Thanh tra Chính phủ;
+ Thực hiện hợp tác quốc tế về công tác thanh tra
Trong hoạt động thanh tra, Thanh tra Chính phủ có nhiệm vụ thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, cũng như nhiệm vụ và quyền hạn của các bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Ngoài ra, Thanh tra Chính phủ cũng thực hiện thanh tra đối với các doanh nghiệp nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.
+ Thanh tra vụ việc phức tạp, liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
+ Thanh tra vụ việc khác do Thủ tướng Chính phủ giao;
Thanh tra nhân dân
1.3.1 C ơ c ấ u t ổ ch ứ c c ủ a thanh tra nhân dân
1.3.1.1 C ơ c ấ u t ổ ch ứ c c ủ a ban thanh tra nhân dân ở xã, ph ườ ng, th ị tr ấ n
Ban thanh tra nhân dân tại xã, phường, thị trấn được bầu ra thông qua Hội nghị nhân dân hoặc Hội nghị đại biểu nhân dân tại các thôn, làng, ấp, bản và tổ dân phố.
Căn cứ vào địa bàn và số lượng dân cư, mỗi Ban thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn có từ 05 đến 11 thành viên
Thành viên Ban thanh tra nhân dân không phải là người đương nhiệm trong Ủy ban nhân dân cấp xã
Nhiệm kỳ của Ban thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn là 02 năm
Trong suốt nhiệm kỳ, nếu thành viên Ban thanh tra nhân dân không hoàn thành nhiệm vụ hoặc mất tín nhiệm từ phía nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại xã, phường, thị trấn có quyền đề xuất Hội nghị nhân dân hoặc Hội nghị đại biểu nhân dân tiến hành bãi nhiệm và bầu người khác thay thế.
1.3.1.2 C ơ c ấ u t ổ ch ứ c c ủ a ban thanh tra nhân dân ở c ơ quan nhà n ướ c, đơ n v ị s ự nghi ệ p công l ậ p, doanh nghi ệ p nhà n ướ c
Ban thanh tra nhân dân tại các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước được bầu ra thông qua Hội nghị công nhân, viên chức hoặc Hội nghị đại biểu công nhân, viên chức.
Ban thanh tra nhân dân bao gồm từ 03 đến 09 thành viên, tất cả đều là người lao động hoặc đang làm việc tại các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước.
Nhiệm kỳ của Ban thanh tra nhân dân là 02 năm
Trong trường hợp thành viên Ban thanh tra nhân dân không hoàn thành nhiệm vụ hoặc mất tín nhiệm, Ban chấp hành Công đoàn cơ sở có quyền đề nghị Hội nghị công nhân, viên chức hoặc Hội nghị đại biểu công nhân, viên chức tiến hành bãi nhiệm và bầu người khác thay thế.
1.3.2 Nhi ệ m v ụ , quy ề n h ạ n c ủ a thanh tra nhân dân
1.3.2.1 Nhi ệ m v ụ c ủ a Ban thanh tra nhân dân
Ban thanh tra nhân dân có trách nhiệm giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo tại các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở cấp xã, phường, thị trấn Ngoài ra, ban còn theo dõi việc thực hiện pháp luật về dân chủ tại các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước.
1.3.2.2 Quy ề n h ạ n c ủ a Ban thanh tra nhân dân
Kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý nghiêm túc các dấu hiệu vi phạm pháp luật và tiến hành giám sát chặt chẽ việc thực hiện các kiến nghị này để đảm bảo tính hiệu quả và minh bạch trong công tác quản lý.
Khi cần thiết, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã và người đứng đầu các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước có thể giao nhiệm vụ xác minh những vụ việc cụ thể.
Kiến nghị với Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã và lãnh đạo các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước nhằm khắc phục các sơ hở, thiếu sót được phát hiện qua giám sát Cần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và người lao động, đồng thời biểu dương những đơn vị, cá nhân có thành tích xuất sắc Trong trường hợp phát hiện hành vi vi phạm pháp luật, cần kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét và xử lý kịp thời.
1.3.3 Ho ạ t độ ng c ủ a ban thanh tra nhân dân
1.3.3.1 Ho ạ t độ ng c ủ a ban thanh tra nhân dân ở xã, ph ườ ng, th ị tr ấ n
Ban thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp trực tiếp chỉ đạo hoạt động
Ban thanh tra nhân dân hoạt động dựa trên Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã, phường, thị trấn, cùng với chương trình hành động và sự chỉ đạo từ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại địa phương, nhằm xác định phương hướng và nội dung kế hoạch hoạt động phù hợp.
Ban thanh tra nhân dân có trách nhiệm báo cáo hoạt động của mình với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại xã, phường, thị trấn Trưởng Ban thanh tra nhân dân có thể được mời tham dự các cuộc họp của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khi cần thiết.
Thông báo cho Ban thanh tra nhân dân về các chính sách và pháp luật quan trọng liên quan đến tổ chức, hoạt động và nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã Đồng thời, cung cấp thông tin về các mục tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của địa phương.
Các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan cần cung cấp đầy đủ và kịp thời thông tin, tài liệu cần thiết cho Ban thanh tra nhân dân.
Cần xem xét và giải quyết kịp thời các kiến nghị từ Ban thanh tra nhân dân, đồng thời thông báo kết quả trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận kiến nghị Ngoài ra, cần xử lý nghiêm những cá nhân có hành vi cản trở hoạt động của Ban thanh tra nhân dân hoặc có hành vi trả thù, trù dập các thành viên của ban.
- Thông báo cho Ban thanh tra nhân dân kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại xã, phường, thị trấn có trách nhiệm hỗ trợ kinh phí và phương tiện cho hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật.
- Hướng dẫn việc tổ chức Hội nghị nhân dân hoặc Hội nghị đại biểu nhân dân ở thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố bầu Ban thanh tra nhân dân
THANH TRA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI, XÂY DỰNG, NHÀ Ở VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI, NHÀ Ở TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG
DỤNG ĐẤT ĐAI, NHÀ Ở TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG
2.1 Thanh tra việc quản lý nhà nước về đất đai, xây dựng, nhà ở Đất đai và lao động là nguồn lực chủ yếu đối với sự phát triển của đất nước Vì nó là nơi sinh tồn của xã hội loài người, là tư liệu sản xuất trực tiếo của kinh tế nông nghiệp, là địa bàn để phát triển kinh tế công nghiệp và dịch vụ
Nước ta có tổng diện tích đất khoảng 33.104.218 ha, quy mô trung bình xếp thứ
Việt Nam đứng thứ 59 về diện tích nhưng có dân số đứng thứ 13 thế giới, với diện tích tự nhiên bình quân trên đầu người chỉ bằng 1/7 mức trung bình toàn cầu Tỷ lệ đất nông nghiệp thấp và khí hậu khắc nghiệt khiến hơn 70% dân số phụ thuộc vào nông nghiệp, trong khi công nghiệp và dịch vụ còn ở giai đoạn đầu phát triển Đảng và Nhà nước xác định đất đai là thành quả cách mạng, được gìn giữ qua nhiều thế hệ, và từ Hiến pháp 1980, đất đai được sở hữu toàn dân Nhiều chính sách và pháp luật đất đai đã được ban hành để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sử dụng đất hiệu quả và bảo vệ môi trường.
Theo Luật Đất đai 2003, Nhà nước đại diện cho quyền sở hữu toàn dân về đất đai và quản lý thống nhất về lĩnh vực này Đồng thời, Hội đồng nhân dân các cấp có trách nhiệm giám sát việc thực thi pháp luật về đất đai tại địa phương.
UBND các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu và quản lý nhà nước về đất đai theo thẩm quyền quy định tại luật Pháp luật đất đai quy định nguyên tắc quản lý, chế độ sử dụng đất, cùng quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Nội dung quản lý nhà nước về đất đai là trách nhiệm đồng thời của Chính phủ và UBND các cấp.
Thanh tra, kiểm tra là chức năng quan trọng trong quản lý nhà nước về đất đai, giúp đánh giá hiệu quả của cơ quan quản lý đối với các đối tượng liên quan Qua đó, cần phân tích nguyên nhân của những thành công, khuyết điểm và tồn tại, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai, và phát hiện sự sáng tạo trong việc thực hiện pháp luật đất đai tại địa phương Đồng thời, cần nhận diện những nội dung chính sách không phù hợp với thực tiễn và các thiếu sót trong văn bản pháp luật Trên cơ sở đó, đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật đất đai và các luật liên quan để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội Điều này cũng cung cấp căn cứ để đánh giá năng lực, phẩm chất chính trị và đạo đức của cán bộ, công chức, từ đó hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật và quản lý đất đai tại địa phương.
Mục đích trên đặt ra yêu cầu sau đây:
- Hoạt động thanh tra phải thực hiện đúng quy định của pháp luật về thanh tra;
Quán triệt nguyên tắc cơ bản của pháp luật đất đai là rất quan trọng, bao gồm chế độ sử dụng đất, quản lý nhà nước về đất đai, quyền và điều kiện thực hiện quyền của người sử dụng đất, cũng như nghĩa vụ của họ.
Hoạt động kiểm tra cần được thực hiện một cách thường xuyên, kịp thời và toàn diện đối với tất cả các đối tượng, nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý của Thủ trưởng Đồng thời, quá trình này không được làm cản trở hoạt động bình thường của các đối tượng đang được kiểm tra.
Để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong việc phát hiện, thu thập và xác minh chứng cứ, cần cập nhật kịp thời các văn bản pháp luật đất đai và các quy định liên quan do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Quá trình kiểm tra, phân tích và đánh giá thông tin phải được thực hiện một cách thận trọng, tỉ mỉ, đồng thời chú ý đến tính hiệu lực của các văn bản pháp luật.
- Tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng và những người có liên quan;
Để đáp ứng kịp thời yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, cần bám sát thực tiễn và phân tích kỹ lưỡng nguyên nhân cũng như động cơ vi phạm pháp luật Việc này sẽ giúp đưa ra những kiến nghị hợp lý cho công tác xử lý các hành vi vi phạm.
2.1.2 Thanh tra, ki ể m tra vi ệ c qu ả n l ý nhà n ướ c v ề đấ t đ ai, xây d ự ng và nhà ở
Quản lý nhà nước về đất đai, xây dựng và nhà ở bao gồm nhiều nội dung cụ thể, mỗi nội dung đóng vai trò quan trọng và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Để đạt được mục tiêu chung của hoạt động thanh tra, cần thực hiện tốt tất cả các nội dung này, trong đó có những nội dung là cơ sở và những nội dung là phương tiện.
Theo quy định của pháp luật, cán bộ, công chức, viên chức thuộc Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân có nhiệm vụ quản lý nhà nước ở địa phương Tuy nhiên, thực tế cho thấy một số cá nhân đã vi phạm pháp luật, lợi dụng quyền hạn để vụ lợi cá nhân, gây tổn hại cho Nhà nước và xã hội Do đó, cần thiết phải tiến hành thanh tra, kiểm tra để đảm bảo các cơ quan và cán bộ thực hiện đúng trách nhiệm trong quản lý nhà nước về đất đai, nhà ở và xây dựng.
2.1.2.1 Thanh tra vi ệ c ban hành các v ă n b ả n quy ph ạ m pháp lu ậ t v ề qu ả n l ý , s ử d ụ ng đấ t, xây d ự ng, nhà ở và t ổ ch ứ c th ự c hi ệ n các v ă n b ả n đ ó
*Kiểm tra việc ban hành văn bản
Theo Luật Ban hành văn bản pháp luật, UBND cấp tỉnh có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến quản lý và sử dụng đất, xây dựng, nhà ở, phù hợp với tình hình địa phương Đồng thời, UBND cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã cũng có thể ban hành các văn bản cá biệt và văn bản hành chính thông thường để thực hiện chức năng và quyền hạn của mình Các sở, phòng quản lý ngành chuyên môn được phép ban hành văn bản hành chính thông thường và văn bản chuyên môn Việc ban hành các văn bản quản lý nhà nước phải tuân thủ các quy định của pháp luật.
- Thẩm quyền ban hành (cơ quan ban hành và người ký văn bản);
Căn cứ ban hành văn bản quy phạm pháp luật bao gồm các quy định về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan ban hành, cùng với các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên đang có hiệu lực và liên quan đến nội dung của văn bản Ngoài ra, các báo cáo và đề nghị giải quyết vấn đề từ các cơ quan chuyên môn cũng là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng và ban hành văn bản.
Nội dung văn bản phải tuân thủ các quy định hiện hành của cơ quan nhà nước cấp trên và thực hiện nhiệm vụ được giao Đồng thời, văn bản cần phải thống nhất với các tài liệu khác đã được ban hành bởi cùng một cơ quan và các cơ quan cùng cấp Hơn nữa, nội dung cũng cần phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
* Kiểm tra việc tổ chức thực hiện các văn bản
Trong bối cảnh hiện nay, ý thức pháp luật của cán bộ và nhân dân đã được cải thiện, nhưng việc chủ động tìm hiểu các văn bản pháp luật vẫn còn nhiều hạn chế Nhiều cán bộ, công chức vẫn sử dụng các văn bản pháp luật đã hết hiệu lực và hiểu sai nội dung khi giải quyết công việc Đồng thời, công dân cũng chưa nắm vững hoặc hiểu không đúng các quy định pháp luật hiện hành, dẫn đến khiếu kiện hoặc vi phạm pháp luật, tạo cơ hội cho kẻ xấu lợi dụng.
XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI, XÂY DỰNG, NHÀ Ở 98 3.1 Xử lý đối với người quản lý vi phạm pháp luật đất đai
3.1 Xử lý đối với người quản lý vi phạm pháp luật đất đai
3.1.1 Nguyên t ắ c x ử l ý , hành vi vi ph ạ m, hình th ứ c và bi ệ n pháp x ử l ý
- Khách quan, công bằng; nghiêm minh, đúng pháp luật
Mỗi hành vi vi phạm pháp luật của công chức chỉ bị xử lý bằng một hình thức kỷ luật duy nhất Trong trường hợp công chức có nhiều hành vi vi phạm, sẽ tiến hành xử lý kỷ luật cho từng hành vi, và hình thức kỷ luật sẽ nặng hơn một mức so với hình thức áp dụng cho hành vi vi phạm nghiêm trọng nhất, trừ khi có hành vi vi phạm phải xử lý bằng hình thức buộc thôi việc.
Trong trường hợp công chức tiếp tục vi phạm pháp luật trong thời gian đang thi hành quyết định kỷ luật, sẽ bị áp dụng hình thức kỷ luật tương ứng.
Nếu một cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật và bị xử lý kỷ luật ở hình thức nhẹ hơn hoặc bằng hình thức kỷ luật hiện tại, thì sẽ áp dụng hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức kỷ luật đang thi hành.
Nếu một cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật và đang bị xử lý kỷ luật, nhưng sau đó lại có hành vi vi phạm mới, thì hình thức kỷ luật sẽ được áp dụng nặng hơn một mức so với hình thức kỷ luật hiện tại.
Quyết định kỷ luật hiện tại sẽ không còn hiệu lực từ thời điểm quyết định kỷ luật mới liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật có hiệu lực.
Thái độ tiếp thu, sửa chữa và chủ động khắc phục hậu quả của công chức vi phạm pháp luật là yếu tố quan trọng trong việc xem xét mức độ kỷ luật, có thể dẫn đến việc tăng nặng hoặc giảm nhẹ hình thức xử lý.
- Thời gian chưa xem xét xử lý kỷ luật đối với công chức trong các trường hợp quy định trên không tính vào thời hạn xử lý kỷ luật
- Không áp dụng hình thức xử phạt hành chính thay cho hình thức kỷ luật
- Cấm mọi hành vi xâm phạm thân thể, danh dự, nhân phẩm của công chức trong quá trình xử lý kỷ luật
3.1.1.2 Hành vi vi ph ạ m, hình th ứ c x ử l ý
* Đố i t ượ ng b ị x ử l ý vi ph ạ m
1 Người đứng đầu tổ chức, Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền quyết định về quản lý đất đai mà có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai
2 Cán bộ, công chức thuộc cơ quan quản lý đất đai các cấp và cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn có hành vi vi phạm các quy định về trình tự, thủ tục hành chính trong quản lý đất đai
3 Người đứng đầu tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của tổ chức được Nhà nước giao đất để quản lý thuộc các trường hợp quy định tại Luật Đất đai 2013 mà có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai đối với đất được giao để quản lý
* Hành vi vi phạm pháp luật về đất đai
1 Vi phạm quy định về h ồ s ơ và m ố c đị a gi ớ i hành chính bao gồm các hành vi sau:
- Làm sai lệch sơ đồ vị trí, bảng tọa độ, biên bản bàn giao mốc địa giới hành chính;
- Cắm mốc địa giới hành chính sai vị trí trên thực địa
2 Vi phạm quy định về quy ho ạ ch, k ế ho ạ ch s ử d ụ ng đấ t bao gồm các hành vi sau:
- Không tổ chức lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất kịp thời theo quy định;
- Không thực hiện đúng quy định về tổ chức lấy ý kiến nhân dân trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
Không công bố quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, cũng như việc điều chỉnh hoặc hủy bỏ thu hồi đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đối với diện tích đất trong kế hoạch sử dụng đất sau 03 năm mà chưa có quyết định thu hồi hoặc chưa được phép chuyển mục đích sử dụng, sẽ dẫn đến tình trạng không báo cáo thực hiện quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất.
3 Vi phạm quy định về giao đấ t, cho thuê đấ t, chuy ể n m ụ c đ ích s ử d ụ ng đấ t bao gồm các hành vi sau:
- Giao đất, giao lại đất, cho thuê đất không đúng vị trí và diện tích đất trên thực địa;
Việc giao đất, giao lại đất, cho thuê đất, và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất cần tuân thủ đúng thẩm quyền và đối tượng, đồng thời phải phù hợp với kế hoạch sử dụng đất hàng năm đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Việc giao lại đất và cho thuê đất trong khu công nghệ cao, khu kinh tế, cảng hàng không và sân bay dân dụng cần tuân thủ quy hoạch xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
4 Vi phạm quy định về thu h ồ i đấ t, b ồ i th ườ ng, h ỗ tr ợ , tái đị nh c ư bao gồm các hành vi sau:
Theo quy định của Luật Đất đai, việc không thông báo trước cho người có đất bị thu hồi, cũng như không công khai phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là vi phạm nghiêm trọng Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân mà còn gây mất lòng tin trong quản lý đất đai.
- Không thực hiện đúng quy định về tổ chức lấy ý kiến đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;
Việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư không đúng đối tượng và diện tích đất thu hồi, cũng như mức bồi thường không chính xác cho người có đất bị thu hồi, đã dẫn đến sai lệch trong hồ sơ thu hồi đất Hơn nữa, xác định sai vị trí và diện tích đất bị thu hồi trên thực địa cũng là một vấn đề nghiêm trọng cần được khắc phục.
Việc thu hồi đất không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng, và không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cũng như kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt sẽ dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng.
5 Vi phạm quy định về tr ư ng d ụ ng đấ t bao gồm các hành vi sau:
- Thực hiện bồi thường không đúng đối tượng, diện tích, mức bồi thường, thời hạn bồi thường cho người có đất bị trưng dụng;
- Trưng dụng đất không đúng các trường hợp quy định tại Luật Đất đai
6 Vi phạm quy định về qu ả n l ý đấ t do đượ c Nhà n ướ c giao để qu ả n l ý bao gồm các hành vi sau:
- Để xảy ra tình trạng người được pháp luật cho phép sử dụng đất tạm thời mà sử dụng đất sai mục đích;
- Sử dụng đất sai mục đích;
- Để đất bị lấn, bị chiếm, bị thất thoát
7 Vi phạm quy định về thực hiện trình t ự , th ủ t ụ c hành chính trong quản lý và sử dụng đất bao gồm các hành vi sau: