Một số vấn đề pháp lý về quyền sở hữu trí tuê
Khái niệm về quyền sở hữu trí tuệ
Theo Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2019, quyền sở hữu trí tuệ được xác định là quyền của tổ chức và cá nhân đối với tài sản trí tuệ Quyền này bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.
Việc nghiên cứu và sáng tạo của tổ chức hay cá nhân sẽ được công nhận và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Pháp luật bảo hộ các tác phẩm qua quyền sở hữu trí tuệ của tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền sở hữu trí tuệ đối với giống cây trồng.
Quyền tác giả là quyền của cá nhân hoặc tổ chức đối với các tác phẩm mà họ sáng tạo hoặc sở hữu Quyền này tự động phát sinh ngay khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất cụ thể, không phụ thuộc vào nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, cũng như việc tác phẩm đã được công bố hay đăng ký hay chưa.
Quyền liên quan đến quyền tác giả là quyền của tổ chức và cá nhân đối với các hoạt động như biểu diễn, ghi âm, ghi hình, phát sóng và tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa Quyền này phát sinh ngay khi các hoạt động trên được thực hiện hoặc định hình mà không làm ảnh hưởng đến quyền tác giả.
Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức và cá nhân đối với các tài sản trí tuệ như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh mà họ đã sáng tạo hoặc sở hữu Quyền này cũng bao gồm khả năng chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh Quyền sở hữu công nghiệp được xác lập qua các quy định pháp luật hiện hành.
Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý được xác lập thông qua quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo quy trình đăng ký quy định trong Luật Đối với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu được xác lập dựa trên việc sử dụng thực tế, không cần phải qua thủ tục đăng ký.
- Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó;
Quyền sở hữu công nghiệp liên quan đến bí mật kinh doanh được thiết lập khi bí mật kinh doanh được thu thập một cách hợp pháp và được bảo vệ một cách hiệu quả.
- Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được xác lập trên cơ sở hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh.
Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức hoặc cá nhân đối với giống cây trồng mới mà họ đã chọn tạo, phát hiện và phát triển, hoặc được hưởng quyền sở hữu Quyền này được xác lập thông qua quyết định cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo thủ tục đăng ký quy định trong Luật.
Đặc điểm về quyền sở hữu trí tuệ
Sở hữu trí tuệ là quyền đối với tài sản vô hình, bao gồm kết quả sáng tạo của tư duy con người và uy tín kinh doanh Tài sản vô hình này được pháp luật bảo hộ và có thể được thể hiện qua nhiều hình thức vật chất khác nhau, có giá trị kinh tế và có khả năng trao đổi.
Ví dụ: tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; cuộc biểu diễn…
Quyền sử dụng sản phẩm trí tuệ đóng vai trò quan trọng trong việc xác định giá trị thực sự của sản phẩm sau khi được sáng tạo Sản phẩm cần được ứng dụng vào thực tế để đánh giá lợi ích mà nó mang lại cho cộng đồng và xã hội Chỉ khi hiểu rõ điểm mạnh của sáng chế, các nhà đầu tư mới có động lực để đầu tư và quảng bá sản phẩm Việc thúc đẩy quyền chuyển giao và chuyển quyền sử dụng là cần thiết để đưa sản phẩm sáng tạo đến với đông đảo người tiêu dùng.
Theo Điều 15 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2019, bảo hộ tài sản vô hình có chọn lọc, yêu cầu phải có sự sáng tạo từ người tạo ra sản phẩm Một số trường hợp không được bảo hộ bao gồm tin tức thời sự, văn bản hành chính, quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý và số liệu.
Thứ tư, mang tính lãnh thổ và có thời hạn:
Tính lãnh thổ của quyền sở hữu trí tuệ có giới hạn nhất định, chỉ được bảo hộ trong phạm vi một quốc gia Tuy nhiên, nếu có tham gia vào các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ, phạm vi bảo hộ có thể được mở rộng ra các quốc gia thành viên.
Khi bạn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại quốc gia A, quyền sở hữu của bạn sẽ được bảo vệ tuyệt đối trong phạm vi quốc gia này Tuy nhiên, quyền này sẽ không có giá trị tại quốc gia B hoặc C, trừ khi các quốc gia này đã tham gia một Điều ước quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cùng với A.
Thời gian bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được quy định bởi pháp luật, trong đó quyền này được coi là bất khả xâm phạm Khi hết thời hạn bảo hộ, bao gồm cả thời gian gia hạn (nếu có), tài sản trí tuệ sẽ trở thành tài sản chung của nhân loại và có thể được sử dụng tự do mà không cần sự cho phép của chủ sở hữu.
Ví dụ: Căn cứ Điều 27 Thời hạn bảo hộ quyền tác giả Luật Sở hữu trí tuệ
2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 của Việt Nam quy định:
Quyền nhân thân và quyền tài sản theo quy định của Luật có thời hạn bảo hộ cụ thể Đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng và tác phẩm khuyết danh, thời hạn bảo hộ là bảy mươi lăm năm kể từ lần công bố đầu tiên Nếu tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố trong vòng hai mươi lăm năm, thời hạn bảo hộ sẽ kéo dài lên một trăm năm kể từ khi tác phẩm được định hình.
Một sản phẩm trí tuệ, như chiếc đầu đĩa CD, có thể được bảo hộ bởi nhiều loại quyền sở hữu trí tuệ khác nhau Các bộ phận kỹ thuật của đầu đĩa được bảo hộ độc quyền sáng chế, trong khi kiểu dáng của nó được bảo vệ bằng quyền đối với kiểu dáng công nghiệp Ngoài ra, tên gọi của chiếc đầu đĩa cũng được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu.
Tranh nhiệm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Quyền sở hữu trí tuệ là quyền dân sự, do đó, việc bảo vệ tài sản trí tuệ thuộc trách nhiệm của chủ thể quyền, không chỉ dựa vào cơ quan có thẩm quyền Luật Sở hữu trí tuệ khuyến khích việc tự bảo vệ quyền, cho phép chủ thể quyền áp dụng các biện pháp công nghệ để ngăn chặn hành vi xâm phạm (Điều 198 Luật SHTT) Trước khi yêu cầu xử lý từ cơ quan nhà nước hay tòa án, chủ thể quyền cần chủ động thực hiện các biện pháp ngăn ngừa xâm phạm Các doanh nghiệp có kinh nghiệm trong lĩnh vực SHTT thường tính đến việc áp dụng công nghệ bảo vệ ngay từ giai đoạn nghiên cứu, thiết kế và tạo dựng các đối tượng sở hữu trí tuệ trước khi đăng ký.
Khi đã đăng ký, việc công bố công khai đối tượng là cần thiết để ngăn chặn sao chép và bắt chước Nếu doanh nghiệp không áp dụng các biện pháp công nghệ bảo vệ, nguy cơ xâm phạm quyền sẽ gia tăng Khi các biện pháp ngăn ngừa không đạt hiệu quả như mong muốn, chủ thể quyền có thể yêu cầu cơ quan nhà nước hoặc tòa án can thiệp bằng các biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự để bảo vệ quyền lợi của mình.
Các tổ chức và cá nhân liên quan đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) bằng cách chủ động phát hiện và phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý các hành vi xâm phạm quyền Điều này không chỉ bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng mà còn góp phần bảo vệ lợi ích chung của xã hội.
Vi phạm pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
Vi phạm pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ là hành vi trái pháp luật, do cá nhân hoặc tổ chức có năng lực hành vi thực hiện, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được pháp luật công nhận và bảo vệ Các yếu tố cấu thành vi phạm này bao gồm hành vi xâm hại, sự cố ý hoặc vô ý của chủ thể vi phạm, và tính chất của quyền sở hữu trí tuệ bị xâm phạm.
Vi phạm pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ là hành vi của con người có yếu tố lỗi, bao gồm cả lỗi cố ý và vô ý.
Người vi phạm quyền sở hữu trí tuệ cần phải có năng lực hành vi, tức là họ phải có khả năng nhận thức và điều khiển hành động của mình.
Vi phạm pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ là hành vi không tuân thủ quy định pháp luật, gây tổn hại đến quyền lợi hợp pháp của các chủ thể quyền khác.
Khái niệm và khung pháp lý về thực thi quyền sở hữu trí tuệ
Khái niệm thực thi quyền sở hữu trí tuệ
Hiện nay, pháp luật chưa định nghĩa rõ ràng về "thực thi quyền sở hữu trí tuệ" Một quan điểm cho rằng thực thi quyền sở hữu trí tuệ không chỉ bao gồm các hành vi mà người nắm giữ quyền thực hiện đối với đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ, mà còn bao hàm việc ngăn chặn và chống lại các hành vi vi phạm từ phía người thứ ba.
Thực thi quyền sở hữu trí tuệ được hiểu là toàn bộ các hoạt động nhằm đưa các quy định pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ vào thực tiễn Quá trình này bao gồm việc thực hiện các quy định về quyền của chủ thể đối với đối tượng sở hữu trí tuệ, các biện pháp chống lại hành vi xâm phạm, và các quy định khác liên quan đến việc xác lập quyền Điều 41 của Hiệp định TRIPS nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện các biện pháp hiệu quả để chống lại các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm cả việc ngăn chặn và phòng ngừa các hành vi vi phạm có thể xảy ra trong tương lai.
Thực thi quyền sở hữu trí tuệ là quá trình mà Nhà nước và các chủ thể sở hữu trí tuệ áp dụng các phương thức pháp lý cùng với biện pháp hành chính, dân sự và hình sự để bảo vệ quyền sở hữu của mình Mục tiêu của quá trình này là ngăn chặn mọi hành vi xâm phạm, đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ được giữ nguyên vẹn.
Như vậy, có thể đi đến nhận thức chung về thực thi quyền sở hữu trí tuệ như sau:
Thực thi quyền sở hữu trí tuệ bao gồm các hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Các biện pháp được áp dụng bao gồm dân sự, hành chính, hình sự, khẩn cấp tạm thời và kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ.
Việc thực hiện các quy định về quyền sở hữu trí tuệ cần tuân thủ đúng hình thức, trình tự và thủ tục theo pháp luật, đồng thời phải phù hợp với đặc điểm của từng loại đối tượng sở hữu trí tuệ.
Các chủ thể thực thi quyền sở hữu trí tuệ bao gồm Tòa án nhân dân, Quản lý thị trường, Cơ quan hải quan, Công an nhân dân, Uỷ ban nhân dân và Thanh tra chuyên ngành Những cơ quan này thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thông qua việc tự mình hoặc phối hợp với các tổ chức, cá nhân khác để xây dựng và triển khai các cơ chế xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Mục đích thực thi quyền sở hữu trí tuệ là ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và xã hội, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể sở hữu trí tuệ Điều này tạo ra một môi trường pháp lý lành mạnh, thúc đẩy các hoạt động sáng tạo của con người.
Đặc điểm thực thi quyền sở hữu trí tuệ
Thực thi quyền sở hữu trí tuệ không chỉ bao gồm các đặc điểm chung của thực thi pháp luật mà còn có những đặc thù riêng, phản ánh sự phức tạp và tính chất đặc biệt của quyền sở hữu trí tuệ trong việc bảo vệ sáng chế, thương hiệu và bản quyền.
Thứ nhất, thực thi quyền sở hữu trí tuệ là hành vi hợp pháp của các chủ thể tham gia.
Thứ hai, thực thi pháp luật quyền sở hữu trí tuệ được tiến hành bởi nhiều chủ thể với nhiều cách thức khác nhau.
Vai trò của thực thi pháp luật quyền sở hữu trí tuệ là rất quan trọng có thể kể đến:
- Đảm bảo thực hiện các quy tắc xử xự chung cho con người khi tác động vào môi trường.
Hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của pháp luật là rất quan trọng.
- Đưa những quy định giới hạn quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp phòng ngừa và khắc phục sự cố thực sự đi vào cuộc sống.
1.2.3 Khung pháp lý thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
Xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) và nhận diện đúng đối tượng xâm phạm là rất quan trọng đối với chủ thể quyền SHTT và các cơ quan bảo vệ quyền lợi này Việc xác định chính xác giúp chủ thể quyền chủ động bảo vệ quyền lợi của mình và yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền can thiệp hiệu quả, từ đó giảm thiểu rủi ro và tránh kiện tụng Đối với các cơ quan chức năng, việc xử lý đúng người và đúng hành vi xâm phạm sẽ hạn chế sai sót và khiếu nại liên quan đến quyết định của họ Đồng thời, điều này cũng góp phần nâng cao nhận thức về quyền SHTT trong xã hội, khuyến khích các tổ chức và cá nhân tích cực đăng ký quyền sở hữu trí tuệ, thúc đẩy sự phát triển của sở hữu trí tuệ tại Việt Nam Tuy nhiên, việc xác định hành vi xâm phạm ngày càng khó khăn do tính chất tinh vi và các biện pháp che giấu của hành vi này, đặc biệt trong các trường hợp xâm phạm có tổ chức, khiến các cơ quan chức năng thường phải nhờ đến sự hỗ trợ của các chuyên gia trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
Quy định của pháp luật về hành vi xâm phạm
Các hành vi xâm phạm quyền tác giả quy định tại Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm:
- Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.
- Công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả.
- Công bố, phân phối tác phẩm có đồng tác giả mà không được phép của đồng tác giả đó.
- Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
Việc sao chép tác phẩm mà không có sự cho phép của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả là vi phạm pháp luật, trừ những trường hợp được quy định tại điểm a và điểm đ khoản 1 Điều 25 của Luật này.
Việc tạo ra tác phẩm phái sinh mà không có sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm gốc là vi phạm pháp luật, trừ khi có quy định cụ thể tại điểm i khoản 1 Điều 25 của Luật Sở hữu trí tuệ.
Việc sử dụng tác phẩm mà không có sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả, cũng như không thanh toán tiền nhuận bút, thù lao hoặc các quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật là hành vi vi phạm, trừ những trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật này.
- Cho thuê tác phẩm mà không trả tiền nhuận bút, thù lao và quyền lợi vật chất khác cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.
Việc nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương tiện kỹ thuật số mà không có sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả là hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.
- Xuất bản tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
Chủ sở hữu quyền tác giả có quyền thực hiện các biện pháp kỹ thuật nhằm bảo vệ tác phẩm của mình Tuy nhiên, việc cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp này là hành vi vi phạm quyền tác giả, ảnh hưởng đến sự bảo vệ hợp pháp cho tác phẩm.
- Cố ý xóa, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm.
Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị mà biết hoặc có lý do để biết rằng thiết bị đó làm vô hiệu hóa các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện nhằm bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của họ là hành vi vi phạm quyền tác giả.
- Làm và bán tác phẩm mà chữ ký của tác giả bị giả mạo.
- Xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả
Các hành vi xâm phạm quyền liên quan quy định tại Điều 35 Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm:
- Chiếm đoạt quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng.
- Mạo danh người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng.
Việc công bố, sản xuất và phân phối các cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, hoặc chương trình phát sóng mà không có sự cho phép của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, và tổ chức phát sóng là hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc cuộc biểu diễn bằng bất kỳ hình thức nào đều gây hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn.
Việc sao chép và trích ghép các cuộc biểu diễn đã được định hình, bản ghi âm, ghi hình, hoặc chương trình phát sóng mà không có sự cho phép của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, và tổ chức phát sóng là hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.
- Dỡ bỏ hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử mà không được phép của chủ sở hữu quyền liên quan.
- Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền liên quan thực hiện để bảo vệ quyền liên quan của mình.
Việc phát sóng, phân phối và nhập khẩu các bản sao hoặc ghi âm, ghi hình của một cuộc biểu diễn phải tuân thủ quyền sở hữu trí tuệ Điều này có nghĩa là nếu thông tin quản lý quyền bị dỡ bỏ hoặc thay đổi mà không có sự cho phép của chủ sở hữu quyền, thì hành vi này là vi phạm pháp luật.
Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị mà biết hoặc có cơ sở để biết rằng thiết bị đó có khả năng giải mã trái phép tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa là hành vi vi phạm pháp luật.
Hành vi cố ý thu hoặc tiếp tục phân phối tín hiệu vệ tinh chứa chương trình đã được mã hóa, mặc dù tín hiệu đã được giải mã, mà không có sự cho phép từ người phân phối hợp pháp là vi phạm pháp luật.
Các hành vi xâm phạm quyền đối với giống cây trồng được quy định tại Điều 188 Luật Sở hữu trí tuệ :
- Khai thác, sử dụng các quyền của chủ bằng bảo hộ mà không được phép của chủ bằng bảo hộ.
Thực tiễn và những bất cập trong thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
Thực tiễn và bất cập trong thực thi quyền tác giả 28 1 Thực tiễn thực thi quyền tác giả ở Việt Nam 28 2 Bất cập trong thực thi quyền tác giả ở Việt Nam 31 2.1.2 Thực tiễn và bất cập trong thực thi quyền sở hữu công nghiệp 32 2.1.2.1 Thực tiễn thực thi quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam 32
2.1.1.1 Thực tiễn thực thi quyền tác giả ở Việt Nam
Vi phạm quyền tác giả đang diễn ra phổ biến và ở mức độ nghiêm trọng trong nhiều lĩnh vực Điều này cho thấy hiệu quả thực thi quyền tác giả hiện nay vẫn còn thấp.
Trong lĩnh vực xuất bản, tình trạng in lậu sách diễn ra phổ biến, với thống kê từ Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam cho thấy từ năm 2010 đến nay đã có ít nhất 500.000 bản sách và gần 8 tấn bán thành phẩm sách giáo dục bị in lậu trên toàn quốc Đặc biệt, trong tháng 5 và nửa đầu tháng 6 năm 2020, cơ quan chức năng đã phát hiện khoảng 120.000 bản sách giả chỉ riêng tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.
Vào ngày 22/5/2020, lực lượng chức năng tại Hoài Đức, Hà Nội đã phát hiện một kho sách in lậu và sách giả, bao gồm 47.000 bản sách giáo khoa và sách bổ trợ từ tiểu học đến THPT, cùng với 87.000 đĩa tiếng Anh giả mạo sản phẩm của Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam.
Ngày 12/6/2020, Đội liên ngành phòng chống in lậu tỉnh Bình Định đã tạm giữ 72.602 cuốn sách in lậu của Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh, gây thiệt hại lớn cho độc giả, học sinh và giáo viên Sách in lậu có chất lượng giấy và mực kém, dẫn đến sai sót về nội dung, đặc biệt là các cuốn sách liên quan đến bản đồ, ảnh hưởng đến kiến thức về biên giới và lãnh thổ Hành vi in lậu không chỉ xâm phạm quyền lợi hợp pháp của tác giả mà còn cản trở việc trao đổi bản quyền quốc tế, làm tổn hại uy tín Việt Nam trong việc bảo vệ tác phẩm văn học và nghệ thuật Ngoài thiệt hại kinh tế cho nhà xuất bản và ngân sách nhà nước, in và phát hành sách lậu còn phá hoại thị trường xuất bản phẩm lành mạnh và phát tán nội dung văn hóa không lành mạnh.
Hai nhà xuất bản, Trẻ và Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, đã vi phạm bản quyền khi mười đầu sách của nhà xuất bản Trẻ bị in lậu với số lượng lớn Các tác phẩm mà Công ty văn hóa sáng tạo Trí Việt-First News đã mua bản quyền từ Mỹ và phát hành cùng nhà xuất bản Tổng hợp cũng bị in lậu Hiện tượng sách in lậu đang gây ra nhiều khó khăn cho các nhà xuất bản, họ cho rằng đây là "căn bệnh trầm kha của ngành xuất bản" và lo ngại về sự phát triển bền vững của mình Sách lậu được bán với giá chỉ bằng 50% so với sách hợp pháp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến doanh thu và sự tồn tại của các nhà xuất bản Đồng thời, một số nhà xuất bản cũng vi phạm quyền tác giả, như trường hợp nhà xuất bản Văn học tự ý xuất bản truyện ngắn của hai nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ và Phan Thị Vàng Anh mà không xin phép.
Trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh băng đĩa, các trung tâm hợp pháp đang lo ngại về tình trạng thị trường băng đĩa lậu không thể kiểm soát Hoạt động nhập lậu, in lậu và kinh doanh băng đĩa lậu diễn ra phổ biến, đặc biệt là từ Trung Quốc, với giá bán chỉ bằng 1/10 so với băng đĩa hợp pháp Nạn băng đĩa lậu không chỉ ảnh hưởng đến doanh thu của các công ty như FAFIM Việt Nam, mà còn làm giảm số lượng đối tác hợp tác Thêm vào đó, nhiều nhà sản xuất băng đĩa âm thanh và hình ảnh còn vi phạm bản quyền khi không xin phép tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm.
Sự phát triển của công nghệ thông tin đã dẫn đến gia tăng vi phạm quyền tác giả, với nhiều phần mềm của cả tác giả nước ngoài và Việt Nam bị sao chép trái phép Vào ngày 18 và 19/11/2020, Thanh tra Bộ Văn hoá-Thông tin đã kiểm tra hai công ty máy tính Phong Vũ và Hoàn Long tại Thành phố Hồ Chí Minh, phát hiện nhiều phần mềm cài đặt trái phép như Microsoft Windows, Microsoft Office, Vietkey 2000, ACD See, Corel Draw và Adobe Photoshop, với tổng giá trị gần 150 triệu đồng Thanh tra đã niêm phong 30 máy tính và tịch thu 40 đĩa CD chứa phần mềm bất hợp pháp, đồng thời mỗi công ty bị xử phạt 25 triệu đồng và yêu cầu gỡ bỏ toàn bộ phần mềm vi phạm.
Trong lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật, vi phạm phổ biến nhất là việc biểu diễn không có sự đồng ý của tác giả hoặc không trả thù lao hợp lý, đặc biệt trong hoạt động biểu diễn âm nhạc Tuy nhiên, sau khi Việt Nam gia nhập Công ước Berne, các tổ chức và cá nhân liên quan đến quyền tác giả đã trở nên cẩn trọng hơn trong việc sử dụng tác phẩm Nhiều ca sĩ và nhà sản xuất âm nhạc đã phải loại bỏ các bài hát nước ngoài và các bài hát dịch lời Việt từ nhạc Hoa, nhạc Thái trong chương trình biểu diễn Đồng thời, Nhà xuất bản Văn học, nơi mà sách dịch chiếm 1/3 tổng số sách phát hành hàng năm, cũng đã tạm dừng tất cả các sách dịch do chưa tìm được cách liên hệ với tác giả và chủ sở hữu tác phẩm.
2.1.1.2 Bất cập trong thực thi quyền tác giả ở Việt Nam
Thứ nhất, các vi phạm quyền tác giả chủ yếu được giải quyết bằng thủ tục hành chính, ít được giải quyết tại Toà án
Tranh chấp và vi phạm quyền tác giả có thể được giải quyết qua nhiều thủ tục khác nhau, bao gồm hành chính, dân sự và hình sự Tuy nhiên, thực tế cho thấy phần lớn các vụ việc này tại Việt Nam được xử lý qua thủ tục hành chính bởi ba cơ quan chính: cảnh sát kinh tế, quản lý thị trường và thanh tra văn hoá-thông tin Nguyên nhân chính là do tác giả và chủ sở hữu tác phẩm không hoàn toàn tin tưởng vào năng lực của các thẩm phán, và việc giải quyết qua tố tụng dân sự hay hình sự thường tốn kém thời gian, công sức và chi phí cho các bên liên quan.
Thứ hai, về xác định hành vi vi phạm quyền tác giả.
Các văn bản pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể về các hành vi xâm phạm quyền tác giả, gây khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc xác định vi phạm Một số hành vi xâm phạm quyền tác giả rõ ràng, trong khi những hành vi khác cần phải phân tích kỹ lưỡng để kết luận Điều này dẫn đến hai hệ quả: có thể bỏ sót người vi phạm hoặc xử lý những người chưa vi phạm.
Thẩm quyền thực thi quyền tác giả tại Việt Nam hiện nay thuộc về nhiều cơ quan khác nhau, bao gồm Toà án nhân dân và các cơ quan như Uỷ ban nhân dân, thanh tra chuyên ngành văn hoá-thông tin, cảnh sát kinh tế, quản lý thị trường, hải quan, an ninh văn hoá và bộ đội biên phòng Mỗi cơ quan có thế mạnh riêng trong việc đấu tranh chống vi phạm quyền tác giả, tuy nhiên, pháp luật chưa phân định rõ ràng thẩm quyền của từng cơ quan Điều này dẫn đến tình trạng nhiều cơ quan cùng giải quyết một vụ việc hoặc không rõ thẩm quyền, gây ra sự không đồng bộ và mâu thuẫn trong quá trình xử lý Do đó, hiệu quả thực thi quyền tác giả chưa cao, quyền lợi của tác giả và chủ sở hữu tác phẩm chưa được đảm bảo.
2.1.2 Thực tiễn và bất cập trong thực thi quyền sở hữu công nghiệp
2.1.2.1 Thực tiễn thực thi quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam
Thực thi quyền sở hữu trí tuệ (QSHCN) là việc bắt buộc các chủ thể tuân thủ pháp luật về sở hữu trí tuệ, bất kể mong muốn hay không Điều này liên quan đến các trình tự và thủ tục mà các bên phải tuân theo, cùng với các biện pháp xử lý và chế tài do cơ quan có thẩm quyền áp dụng khi có hành vi vi phạm.
Hiện nay, tình trạng sản xuất, nhập khẩu, tiếp thị và buôn bán hàng hóa giả mạo cùng hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) tại Việt Nam đang gia tăng và diễn biến phức tạp Các mặt hàng giả ngày càng đa dạng và tinh vi, xâm phạm quyền SHTT diễn ra ở nhiều giai đoạn như sản xuất, buôn bán, lưu thông và xuất nhập khẩu, liên quan đến nhiều thành phần kinh tế Hành vi xâm phạm này không chỉ ảnh hưởng đến các đối tượng SHTT như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu mà còn đến các mặt hàng công nghệ cao và tiêu dùng, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người Việc sử dụng nhãn hiệu, tên thương mại của người khác để cạnh tranh không lành mạnh ngày càng phổ biến, trong khi nhận thức của người tiêu dùng về hàng thật và hàng giả còn hạn chế, khiến họ gặp khó khăn trong việc phân biệt Các lực lượng chức năng hiện chưa đủ mạnh để bảo vệ quyền SHTT, trong bối cảnh phương thức sản xuất và tiếp thị hàng vi phạm ngày càng tinh vi và khó phát hiện.
Trong những năm gần đây, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ chủ yếu liên quan đến hàng hóa giả mạo nhãn hiệu và xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp Đặc biệt, các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu trong tên doanh nghiệp và tên thương mại ngày càng gia tăng Ngoài ra, còn xuất hiện tình trạng cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến mẫu nhãn, kiểu dáng bao bì sản phẩm và việc đăng ký sử dụng tên miền trên internet.
Trong những năm gần đây, các đối tượng vi phạm đã chuyển từ phương thức tiếp thị và phân phối truyền thống sang thương mại điện tử, đặc biệt là qua các trang mạng xã hội như Facebook và Zalo Vi phạm trên internet không có biên giới, làm cho việc phát hiện và xử lý trở nên khó khăn Do đó, cần tăng cường số lượng và nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ công chức, thanh tra viên, đồng thời yêu cầu sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành từ Trung ương đến địa phương để đảm bảo hiệu quả trong công tác kiểm tra và xử lý vi phạm.