1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu hợp tác an ninh chính trị asean từ 1991 đến nay

94 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,06 MB

Cấu trúc

  • A. MỞ ĐẦU (7)
    • 1. Lí do chọn đề tài (7)
    • 2. Lịch sử vấn đề (8)
    • 3. Phạm vi nghiên cứu (10)
    • 4. Phương pháp nghiên cứu (10)
    • 5. Đóng góp của đề tài (11)
    • 6. Bố cục của đề tài (11)
  • B. NỘI DUNG (12)
  • Chương 1. Hợp tác an ninh chính trị ASEAN thời kỳ 1991 - 1995 (12)
    • 1.1. Khái quát về ASEAN (12)
      • 1.1.1. Khái quát về sự ra đời và mục đích hoạt động của tổ chức (12)
      • 1.1.2. Khái quát những thành tựu cơ bản về hợp tác an ninh chính trị của ASEAN từ 1967 - 1990 (16)
    • 1.2. Hợp tác an ninh chính trị của ASEAN thời kỳ 1991 - 1995 (19)
      • 1.2.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh (19)
      • 1.2.2. Từ tuyên bố về Biển Đông đến Diễn đàn an ninh khu vực (21)
    • 1.3. Tiểu kết (26)
  • Chương 2. Hợp tác an ninh chính trị ASEAN từ 1995 đến nay (28)
    • 2.1. Từ ASEAN 6 đến ASEAN 10 (28)
      • 2.1.1. Việt Nam gia nhập ASEAN (28)
      • 2.1.2. Lào, Mianma và Campuchia gia nhập ASEAN (30)
    • 2.2. Hợp tác an ninh chính trị ASEAN với các bên liên quan (32)
      • 2.2.1. Hợp tác trong khuôn khổ ARF (32)
      • 2.2.4. ASEAN trong việc giải quyết vấn đề Biển Đông (41)
      • 2.2.5. Hợp tác an ninh chính trị ASEAN trong vấn đề chống khủng bố (46)
    • 2.3. Tiểu kết (49)
  • Chương 3. Thực trạng và triển vọng trong hợp tác an ninh chính trị của ASEAN hiện nay (51)
    • 3.1. Thực trạng (51)
      • 3.1.1. Những thuận lợi cơ bản (51)
      • 3.1.2. Những khó khăn thách thức (54)
    • 3.2. Những triển vọng hợp tác an ninh chính trị của ASEAN (58)
      • 3.2.1. Triển vọng của ASEAN trong thời gian tới (58)
      • 3.2.2. Triển vọng của Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN (ARF) (61)
      • 3.2.3. Triển vọng về xây dựng Cộng đồng an ninh khu vực (63)
    • 3.3. Vai trò của Việt Nam trong quá trình hợp tác an ninh chính trị ASEAN (65)
    • 3.4. Tiểu kết (69)
    • C. KẾT LUẬN (71)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (75)
  • PHỤ LỤC (79)

Nội dung

Hợp tác an ninh chính trị ASEAN thời kỳ 1991 - 1995

Khái quát về ASEAN

1.1.1 Khái quát về sự ra đời và mục đích hoạt động của tổ chức ASEAN

1.1.1.1 Sự ra đời của ASEAN

Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, quan hệ quốc tế chứng kiến nhiều biến chuyển phức tạp, dẫn đến sự hình thành và phát triển nhanh chóng của chủ nghĩa khu vực nhằm bảo vệ quyền lợi quốc tế và khu vực Nhiều tổ chức khu vực đã được thành lập, như Liên đoàn Arập vào năm 1950 và Tổ chức các nước Trung Mỹ.

(1951), Thị trường chung châu Âu (1957), Tổ chức Đoàn kết châu Phi (1963), Tình hình đó đã tác động đến các nước Đông Nam Á trên con đường phát triển của mình

Chiến tranh thế giới thứ hai đã kết thúc với sự thất bại của chủ nghĩa phát xít, mở ra cơ hội cho chủ nghĩa xã hội phát triển từ Âu sang Á Chủ nghĩa yêu nước đã thắng thế ở nhiều quốc gia thuộc địa của phương Tây, đặc biệt là ở Đông Nam Á Sau khi giành độc lập, các nước trong khu vực này đều mong muốn phát triển quan hệ hợp tác và hữu nghị lẫn nhau.

Sự gia tăng đối đầu giữa Liên Xô và Mỹ trong chiến tranh lạnh đã thúc đẩy sự hình thành các tổ chức khu vực, như Tổ chức Hiệp ước phòng thủ Đông Nam Á (SEATO) để đối phó với chủ nghĩa cộng sản tại Đông Nam Á Sự xuất hiện của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và sự phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa đã làm gia tăng cuộc đua vũ trang trong khu vực Để tránh bị cuốn vào các mưu toan địa - chính trị của các siêu cường, các nước Đông Nam Á nhận thấy cần thiết phải hợp tác với nhau Đến giữa những năm 60, tình hình quốc tế và nội bộ khu vực trở nên căng thẳng với cuộc chiến tranh Đông Dương và ảnh hưởng của “Cách mạng văn hóa” từ Trung Quốc Mặc dù hầu hết các quốc gia Đông Nam Á đã giành được độc lập và đang trong quá trình công nghiệp hóa, họ vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn về kinh tế và thách thức chính trị, tôn giáo, sắc tộc.

Biến động chính trị trong khu vực đã thúc đẩy các nước Đông Nam Á tìm kiếm giải pháp và cơ chế mới nhằm dàn hòa và giảm bớt mâu thuẫn nội bộ cũng như quốc tế Tất cả các quốc gia trong khu vực đều mong muốn đạt được sự ổn định để phát triển, đồng thời chống lại sự can thiệp từ bên ngoài, từ đó nâng cao vai trò ngoại giao trong quan hệ quốc tế.

Trong bối cảnh hiện nay, Thái Lan, Philippines và Malaysia tin rằng việc thành lập một tổ chức khu vực mới sẽ thúc đẩy hợp tác và phát triển giữa các quốc gia Do đó, sự hình thành ASEAN có thể được xem như một phản ứng của các nước Đông Nam Á trước những biến động của tình hình khu vực và thế giới.

Trong quá trình tìm kiếm sự hợp tác giữa các nước Đông Nam Á, một số tổ chức khu vực đã được thành lập nhưng chỉ tồn tại trong thời gian ngắn Tổ chức tiền thân của ASEAN là Hiệp hội Đông Nam Á (ASA), được thành lập vào ngày 31/7/1961 với sự tham gia của ba nước Thái Lan, Malaysia và Philippines.

Năm 1964, tổ chức ASA đã giải thể do mâu thuẫn nghiêm trọng giữa Malaysia và Philippines về lãnh thổ Sabah Cùng thời điểm, MAPHILIDO, một tổ chức khu vực mới được thành lập vào tháng 3/1963, bao gồm Malaysia, Philippines và Indonesia, cũng chỉ tồn tại một tháng trước khi tan rã vì bất đồng nội bộ.

Sự thành lập và tan rã của các tổ chức đầu tiên đã tạo tiền đề cho việc hình thành một tổ chức khu vực mới Sau thời gian dài thảo luận, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất về việc cần thiết thành lập một tổ chức hợp tác khu vực Vào năm 1966, ngoại trưởng Thái Lan đã gửi dự thảo về "Hội các quốc gia Đông Nam Á về sự hợp tác khu vực" đến các ngoại trưởng Indonesia, Malaysia, Philippines và Singapore Sau nhiều cuộc thảo luận và thỏa hiệp, vào ngày 8/8/1967, ngoại trưởng của năm quốc gia đã họp tại Bangkok, Thái Lan và chính thức tuyên bố thành lập Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN).

Sự thành lập ASEAN vào năm 1967 đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc thể hiện ý thức tự cường và chủ nghĩa khu vực của các quốc gia Đông Nam Á, đồng thời phản ánh sự đoàn kết khu vực trước bối cảnh căng thẳng gia tăng của chiến tranh lạnh.

Trong tuyên bố Băng Cốc ngày 8/8/1967, những người sáng lập tổ chức này đã nêu rõ tôn chỉ, mục đích thành lập của ASEAN:

1 Thúc đẩy hợp sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá trong khu vực thông qua các nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng và hợp tác nhằm tăng cường cơ sở cho một cộng đồng thịnh vượng và hòa bình của các quốc gia Đông Nam Á

2 Tăng cường hòa bình và ổn định khu vực bằng việc tôn trọng công lý và nguyên tắc luật pháp trong quan hệ giữa các quốc gia trong vùng và tuân thủ các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc

3 Thúc đẩy sự hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau trong các vấn đề cùng quan tâm trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học và hành chính

4 Giúp đỡ lẫn nhau dưới các hình thức đào tạo, cung cấp phương tiện nghiên cứu trong các lĩnh vực giáo dục, kĩ thuật, nghề nghiệp và hành chính

5 Hợp tác có hiệu quả hơn để sử dụng tốt nền nông nghiệp và các ngành công nghiệp của nhau, mở rộng mậu dịch kể cả việc nghiên cứu các vấn đề về trao đổi hàng hóa quốc tế, cải tiến các phương tiện giao thông, liên lạc và nâng cao mức sống của nhân dân

6 Tăng cường nghiên cứu Đông Nam Á

7 Duy trì sự hợp tác chặt chẽ cùng có lợi với các tổ chức quốc tế và khu vực có cùng tôn chỉ, mục đích và thăm dò tất cả các lĩnh vực, hợp tác chặt chẽ hơn giữa các tổ chức này

Mục đích thành lập ASEAN được bộ trưởng ngoại giao Indonesia nhấn mạnh là để phản ánh ý chí chính trị của các quốc gia trong khu vực, nhằm nắm bắt tương lai của chính mình ASEAN hướng tới việc giải quyết các vấn đề phát triển, ổn định và an ninh chung, đồng thời ngăn chặn khu vực trở thành đấu trường cho những tranh chấp và xung đột giữa các cường quốc.

Hợp tác an ninh chính trị của ASEAN thời kỳ 1991 - 1995

Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, cuộc chiến tranh lạnh giữa hai siêu cường Xô - Mỹ kết thúc, mở ra giai đoạn hòa dịu và hợp tác toàn cầu Sự thay đổi này đã giúp các nước ASEAN và Đông Dương giảm bớt nghi kị và cải thiện quan hệ lẫn nhau.

Mặc dù thời hậu chiến tranh lạnh mang lại nhiều cơ hội cho Đông Nam Á, khu vực này cũng đối mặt với nhiều thách thức Sự sụp đổ của Liên Xô đã làm thay đổi căn bản môi trường chiến lược, khi Đông Nam Á không còn là nơi chứa đựng mâu thuẫn Đông - Tây Cả Nga và Mỹ đều giảm sự hiện diện quân sự, dẫn đến việc tuyên bố rút quân và tạo ra "khoảng trống quyền lực" Điều này khiến các nước ASEAN lo ngại về sự can thiệp của các cường quốc châu Á, tạo ra nguy cơ mất ổn định trong khu vực.

Trong nội bộ ASEAN, nhiều mâu thuẫn chưa được giải quyết vẫn tồn tại, bao gồm tranh chấp chủ quyền vùng Xabat giữa Philippines và Malaysia, xung đột giữa Malaysia và Indonesia ở biển Sulawesi, và vấn đề chủ quyền Biển Đông Thêm vào đó, các cuộc xung đột sắc tộc và tôn giáo trong từng quốc gia cũng góp phần tạo ra bất ổn Những vấn đề này không chỉ đe dọa hòa bình và an ninh của từng nước mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ khu vực.

Trước tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động, các nước ASEAN nhận thấy cần điều chỉnh chính sách đối nội và đối ngoại để tăng cường an ninh và ổn định cho Hiệp hội Việc đảm bảo môi trường an ninh, ổn định ở ASEAN và khu vực Đông Nam Á là điều kiện tiên quyết cho sự mở rộng hợp tác phát triển kinh tế - xã hội Đồng thời, hợp tác kinh tế - xã hội cũng là nền tảng quan trọng nhất để ASEAN củng cố an ninh và ổn định khu vực.

Hội nghị thượng đỉnh cấp cao ASEAN lần thứ IV diễn ra tại Singapore vào tháng 1 năm 1992, với mục tiêu tăng cường an ninh khu vực thông qua Hiệp ước thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á (TAC) Các nhà lãnh đạo ASEAN bày tỏ mong muốn xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, tự do và trung lập (ZOPFAN), đồng thời không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ) Tuyên bố Singapore là nội dung quan trọng nhất của hội nghị, thể hiện quyết tâm của các quốc gia ASEAN trong việc nâng cao hợp tác kinh tế - chính trị và mở rộng sang lĩnh vực an ninh, khẳng định rằng "ASEAN sẽ tìm kiếm cách thức nhằm cuốn hút các thành viên vào hình thức mới của hợp tác khu vực trong vấn đề an ninh."

1.2.2 Từ tuyên bố về Biển Đông đến Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN (ARF)

1.2.2.1 Tuyên bố Manila 1992 về Biển Đông

Sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh đã đánh dấu một thời kỳ hòa bình và đối thoại toàn cầu, tạo ra nhiều cơ hội phát triển cho Đông Nam Á Tuy nhiên, khu vực này cũng phải đối mặt với nhiều thách thức liên quan đến chủ quyền, sắc tộc và tôn giáo, đặc biệt là trong vấn đề Biển Đông, nơi diễn ra các tranh chấp giữa Trung Quốc và một số nước ASEAN.

Biển Đông, hay còn gọi là Biển Nam Trung Hoa, bao gồm quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cùng nhiều đảo nhỏ khác, là vùng biển giàu tiềm năng kinh tế và có vai trò chiến lược quan trọng về chính trị, quân sự Khu vực này đang diễn ra các tranh chấp chủ quyền giữa năm quốc gia: Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia và Brunei Trung Quốc giữ lập trường cứng rắn trong vấn đề tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông, và vào tháng 2/1992, nước này đã thông qua đạo luật khẳng định lãnh thổ của mình.

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bao gồm đại lục Trung Quốc và các đảo như Đài Loan, quần đảo Điếu Ngư và quần đảo Bành Hổ Tất cả các đảo lớn nhỏ khác đều thuộc về nước này Trung Quốc không chỉ ban hành luật Lãnh hải mà còn tăng cường lực lượng hải quân, xây dựng các căn cứ quân sự và sân bay trên một số đảo ở Biển Đông, thể hiện rõ sự cứng rắn trong chính sách biển đảo của mình.

Trung Quốc đã khiến các nước ASEAN rất lo lắng về nguy cơ bùng nổ xung đột mới ở khu vực

Để tìm kiếm giải pháp cho cuộc tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, tháng 7/1992, Hội nghị ngoại trưởng ASEAN lần thứ 25 đã diễn ra tại Manila, Philippines, nơi Việt Nam và Lào tham gia Hiệp ƣớc Bali và trở thành quan sát viên của ASEAN Tại hội nghị, vấn đề Biển Đông đã được thảo luận và kết thúc với "Tuyên bố của Bộ trưởng ngoại giao các nước Đông Nam Á về Biển Đông", hay còn gọi là Tuyên bố Manila Tuyên bố này khẳng định Biển Đông là một vấn đề nhạy cảm, phức tạp, ảnh hưởng đến lợi ích của nhiều quốc gia, và nếu không được giải quyết tốt, sẽ tác động trực tiếp đến hòa bình và an ninh khu vực ASEAN nhấn mạnh việc cần thiết phải giải quyết các vấn đề chủ quyền và Luật biển liên quan đến Biển Đông thông qua các giải pháp hòa bình, phi bạo lực.

- Tất cả các vấn đề thuộc chủ quyến và pháp lí liên quan đến biển Nam Trung Hoa thông qua các giải pháp hòa bình, không dùng vũ lực

Để đạt được kết quả tích cực trong việc giải quyết các vấn đề tranh chấp, việc thuyết phục các bên liên quan kiềm chế quan điểm của mình là vô cùng quan trọng Sự kiềm chế này sẽ góp phần tạo ra một bầu không khí hợp tác và tích cực, từ đó thúc đẩy quá trình thương thảo hiệu quả hơn.

Tôn trọng chủ quyền và pháp lý của tất cả các quốc gia có lợi ích trực tiếp trong khu vực là rất quan trọng Cần tìm kiếm khả năng hợp tác tại Biển Nam Trung Hoa, đặc biệt trong các vấn đề liên quan đến an toàn giao thông hàng hải, chống ô nhiễm môi trường biển, và hợp tác trong các hoạt động tìm kiếm trên biển.

Tán thành nguyên tắc trong Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (TAC) tại Đông Nam Á là cơ sở quan trọng để hình thành các quy định quốc tế cho toàn bộ vùng biển Nam Trung Hoa, với sự đồng thuận từ tất cả các bên liên quan.

Các nguyên tắc này được coi là nền tảng cho việc xây dựng một bộ luật ứng xử quốc tế về Biển Đông Tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ VI năm 1998, Tuyên bố Hà Nội nhấn mạnh tầm quan trọng của việc "giải quyết tranh chấp ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước năm 1982 của Liên hợp quốc về Luật biển" Tuyên bố cũng kêu gọi các bên liên quan kiềm chế và tránh những hành động có thể gây tổn hại đến hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương Điều này phản ánh mong muốn của các nước ASEAN trong việc duy trì an ninh và ổn định thông qua giải pháp hòa bình cho các tranh chấp.

Tuyên bố Manila năm 1992, mặc dù không giải quyết được tranh chấp chủ quyền ở biển Đông, đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong hợp tác an ninh chính trị trong ASEAN Tuy nhiên, biển Đông vẫn tiếp tục là vấn đề nhạy cảm, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xung đột, đe dọa hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực.

1.2.2.2 Thành lập Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN (ARF)

Kết thúc Chiến tranh Lạnh đã mang lại cơ hội cho các nước Đông Nam Á sống trong hòa bình và tập trung phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra nhiều thách thức về an ninh và hòa bình trong khu vực, đặc biệt là từ quá trình toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc tế Để đảm bảo an ninh và ổn định, ASEAN đã chủ trương tăng cường hợp tác song phương và đa phương, dựa trên nguyên tắc đồng thuận, đoàn kết, tạo lòng tin và ngăn chặn xung đột.

Tiểu kết

Đến cuối thế kỷ XX, ASEAN đã có những bước tiến đáng kể trong lĩnh vực an ninh và chính trị Trong giai đoạn này, tổ chức đã đưa ra nhiều sáng kiến mới để thích ứng với quá trình toàn cầu hóa và sự thay đổi quyền lực hậu Chiến tranh Lạnh Nhờ những thành tựu đạt được, ASEAN đã trở thành một trong những tổ chức hợp tác thành công nhất và có vai trò quan trọng trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng như trên thế giới.

ASEAN đã khẳng định vai trò quan trọng trong hợp tác an ninh chính trị bằng cách giải quyết mâu thuẫn nội bộ giữa các nước thành viên, đặc biệt là thành công trong vấn đề Campuchia Tổ chức này cũng đã xây dựng và thực hiện Bộ luật Manila về Biển Đông năm 1992, cùng với việc phát triển Diễn đàn an ninh khu vực ARF Những thành công này đã có ảnh hưởng lớn đến các thành tựu kinh tế - thương mại của ASEAN trong những năm đầu thế kỷ XXI.

Hợp tác an ninh chính trị ASEAN từ 1995 đến nay

Từ ASEAN 6 đến ASEAN 10

2.1.1 Việt Nam gia nhập ASEAN

Sau khi Hiệp định Paris về Campuchia được ký kết, khu vực Đông Nam Á đã bước vào một giai đoạn mới với sự chuyển biến lớn trong quan hệ giữa Việt Nam, Lào, Campuchia và các nước ASEAN Trước xu thế hòa bình và hợp tác, các quốc gia ASEAN nhận thấy tầm quan trọng của việc xây dựng một khu vực hòa bình và ổn định để phát triển Do đó, quan hệ hợp tác song phương giữa Việt Nam và ASEAN đã có những bước tiến đáng kể, được khẳng định tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII năm 1991.

Việt Nam hướng tới việc thiết lập quan hệ hữu nghị với tất cả các quốc gia trên thế giới, đồng thời nỗ lực vì hòa bình, độc lập và phát triển bền vững.

Vào ngày 22/7/1992, tại Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao ASEAN lần thứ 25, Việt Nam chính thức tham gia Hiệp ước Bali và trở thành quan sát viên của tổ chức này Với tư cách là quan sát viên, Việt Nam được mời tham dự các cuộc họp hàng năm của Bộ trưởng ngoại giao ASEAN Tại AMM lần thứ 26 diễn ra ở Singapore năm 1993, Việt Nam tham gia Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN để thảo luận về các vấn đề an ninh chính trị tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương Ngoài ra, Việt Nam còn được mời tham gia các chương trình dự án của ASEAN trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ và môi trường Sự tích cực của Việt Nam trong quan hệ với các nước ASEAN đã nhận được đánh giá cao từ ASEAN và cộng đồng quốc tế.

Việt Nam đang tích cực chuẩn bị để trở thành thành viên đầy đủ của ASEAN, nhờ vào sự hỗ trợ mạnh mẽ từ tổ chức này Các nhà lãnh đạo ASEAN, bao gồm Thủ tướng Malaysia và Singapore, đã bày tỏ sự ủng hộ đối với việc Việt Nam gia nhập, nhấn mạnh rằng sự khác biệt về chính trị và xã hội không phải là rào cản Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao ASEAN diễn ra từ ngày 22 đến 23/7/1994 đã thể hiện thiện chí và quyết tâm của Việt Nam trong quá trình hội nhập.

Tại ASEAN lần thứ 27, các ngoại trưởng của 10 nước Đông Nam Á đã hoan nghênh sự gia nhập của Việt Nam vào tổ chức, nhấn mạnh rằng việc kết nạp Việt Nam sẽ mang lại sức mạnh mới cho Hiệp hội các nước Đông Nam Á, đồng thời nâng cao khả năng đối ngoại và kết nối trong khu vực Sự đồng thuận cao giữa các thành viên ASEAN về vấn đề này phản ánh nguyện vọng của từng quốc gia và xu thế phát triển chung của thời đại.

Tại Hội nghị, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm nhấn mạnh rằng việc gia nhập ASEAN sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong việc tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trong khu vực, nhằm mục tiêu hòa bình và phát triển Ông cũng khẳng định tầm quan trọng của việc tôn trọng độc lập, chủ quyền và bản sắc dân tộc của mỗi quốc gia, đồng thời nhấn mạnh nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ và hợp tác bình đẳng cùng có lợi.

Vào ngày 28/7/1995, tại Banda Seri Begawan, Brunei, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN, trở thành thành viên thứ 7 của tổ chức này Sự kiện diễn ra trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao ASEAN lần thứ 28 và ARF lần thứ hai, đánh dấu bước tiến quan trọng trong quan hệ hợp tác khu vực.

Sự kiện Việt Nam gia nhập ASEAN đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình hội nhập khu vực và toàn cầu, đồng thời chấm dứt tình trạng chia rẽ trong ASEAN Việc kết nạp Việt Nam chứng tỏ rằng các quốc gia với cấu trúc chính trị và ý thức hệ khác nhau vẫn có thể hợp tác và phát triển trong khuôn khổ tổ chức khu vực Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ V diễn ra tại Bangkok vào tháng 12 năm 1995 đã thông qua hai văn kiện quan trọng: Tuyên bố Hội nghị Thượng đỉnh Bangkok và Hiệp ước về khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ) Hiệp ước SEANWFZ không chỉ thể hiện quyết tâm của ASEAN vì một Đông Nam Á phi vũ khí hạt nhân mà còn đặt nền tảng cho hợp tác quốc tế về giải trừ quân bị Mặc dù chưa thuyết phục được tất cả các cường quốc hạt nhân ký Nghị định thư công nhận Hiệp ước, nhưng nếu quan hệ giữa ASEAN với các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ ổn định, viễn cảnh về một khu vực hòa bình và trung lập ở Đông Nam Á sẽ sớm trở thành hiện thực.

2.1.2 Lào, Mianma và Campuchia gia nhập ASEAN

Trong Tuyên bố Băng Cốc năm 1967, các nước ASEAN đã khẳng định

Hiệp hội này sẽ mở rộng cho tất cả các quốc gia Đông Nam Á nếu họ chấp nhận các nguyên tắc và mục đích của tổ chức Điều này được khẳng định trong Hiệp ước TAC, cho phép các quốc gia khác trong khu vực tham gia.

Việc Việt Nam gia nhập ASEAN đã chứng minh rằng sự khác biệt về chính trị không còn là rào cản đối với sự phát triển của tổ chức này, mở đường cho Lào, Myanmar và Campuchia tham gia Tuy nhiên, việc kết nạp Myanmar gây ra nhiều tranh cãi, mặc dù các nước ASEAN ủng hộ, nhưng một số nước phương Tây, đặc biệt là Mỹ, phản đối do lo ngại về vi phạm nhân quyền và tình hình chính trị nội bộ Dù vậy, ASEAN đã quyết định kết nạp Myanmar, thể hiện sự tự chủ trước áp lực của các cường quốc và mong muốn xây dựng một tổ chức khu vực thống nhất Bộ trưởng Ngoại giao Indonesia, Ali Alatat, nhấn mạnh quyền quyết định về việc kết nạp thành viên và cấp quy chế quan sát viên thuộc về các nước ASEAN.

- đó là quyền của ASEAN" [34, 2 l l]

Ngày 23/7/1997, tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 30 ở Kuala Lumpur, Lào và Myanmar đã chính thức gia nhập ASEAN, nâng tổng số thành viên lên 9 Việc Campuchia gia nhập tổ chức này chỉ còn là vấn đề thời gian, mặc dù quá trình này gặp nhiều khó khăn Cuối cùng, vào ngày 30/4/1999, Campuchia đã trở thành thành viên thứ 10 của ASEAN tại Hà Nội Sự gia nhập của Việt Nam, Lào, Myanmar và Campuchia đã hiện thực hóa nguyện vọng xây dựng một tổ chức khu vực chung của các nước Đông Nam Á, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc duy trì hòa bình và ổn định để phát triển trong khu vực.

Việc mở rộng đón nhận các nước thành viên đã gia tăng sức mạnh của ASEAN, với mục tiêu biến Đông Nam Á thành khu vực hòa bình và hợp tác phát triển Sự hiện diện của 10 quốc gia trong ASEAN nâng cao uy tín và ảnh hưởng của Hiệp hội trong quan hệ với các cường quốc ở châu Á - Thái Bình Dương và toàn cầu Điều này một lần nữa khẳng định sự trỗi dậy của tinh thần tự cường và tự đề kháng, được nuôi dưỡng trong suốt 30 năm tồn tại và phát triển của Hiệp hội.

Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, xu thế đối thoại và hợp tác đã trở thành động lực phát triển chính của thời đại Trong bối cảnh này, các nước ASEAN nhận thấy sự cần thiết xây dựng một Đông Nam Á hòa bình, hợp tác và cùng phát triển Sự gia nhập của Việt Nam vào ASEAN, cùng với việc mở rộng thành ASEAN 10, đã góp phần củng cố hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm khẳng định rằng sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng, giúp Đông Nam Á trở thành khu vực có triển vọng nhất với tiềm năng và tốc độ tăng trưởng cao Hiện nay, ASEAN là tổ chức duy nhất có quan hệ đối thoại với tất cả các nước lớn và hầu hết các lục địa khác.

Hợp tác an ninh chính trị ASEAN với các bên liên quan

Đông Nam Á đóng vai trò quan trọng trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều xung đột và bất ổn đe dọa hòa bình Trước tình hình này, ASEAN đã tăng cường hợp tác toàn diện để giải quyết các vấn đề an ninh và chính trị, nhằm duy trì hòa bình và ổn định cho khu vực Việc duy trì mối quan hệ cân bằng giữa các nước lớn là ưu tiên hàng đầu của ASEAN Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN (ARF), được thành lập năm 1994, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng hình ảnh đáng tin cậy của ASEAN và trao đổi các vấn đề an ninh chính trị như tình hình bán đảo Triều Tiên, vấn đề Campuchia và tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, với nhiều tiến triển tích cực.

Biển Đông, với vị trí địa lý chiến lược quan trọng, đã trở thành điểm nóng tranh chấp chủ quyền giữa các nước ASEAN và Trung Quốc trong hơn hai thập kỷ qua, tiềm ẩn nguy cơ xung đột Các nước ASEAN luôn mong muốn giải quyết vấn đề này bằng con đường hòa bình, trong khi Trung Quốc chủ trương đối thoại tay đôi và phản đối đàm phán đa phương Nhận thức được rằng lợi ích của mình sẽ được bảo đảm nếu vấn đề biển Đông được đưa ra thảo luận tại ARF, các nước ASEAN đã thúc đẩy sự tham gia của Trung Quốc vào các cuộc thảo luận đa phương về an ninh khu vực Kể từ khi trở thành thành viên đối thoại về an ninh của ASEAN tại ARF vào năm 1996, Trung Quốc đã dần từ bỏ lập trường coi vấn đề tranh chấp biển Đông là nội bộ và thừa nhận đây là vấn đề an ninh khu vực, cam kết tuân thủ Luật biển năm 1982 để tìm kiếm giải pháp cho cuộc tranh chấp.

Vấn đề Triều Tiên luôn là chủ đề quan trọng trong các Hội nghị đối thoại của ARF Tại những Hội nghị này, các quốc gia thành viên nhấn mạnh rằng việc tái khởi động đàm phán giữa hai miền Nam - Bắc và tiến trình phi vũ khí hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên là yếu tố then chốt để duy trì an ninh, hòa bình và ổn định cho khu vực Đông Bắc Á.

Tại các cuộc họp của ARF, các vấn đề an ninh khu vực, kể cả những vấn đề nhạy cảm, được thảo luận với tinh thần hiểu biết lẫn nhau ARF hiện vẫn đang ở giai đoạn xây dựng lòng tin và chuẩn bị cho ngoại giao phòng ngừa, với hơn 40 biện pháp đã được đưa ra, bao gồm tăng cường giao lưu quân sự và trao đổi thông tin tình báo Sự hợp tác này đã tạo ra sự hiểu biết và tin cậy giữa các nước thành viên ASEAN và ARF, hiện có 25 thành viên với quan điểm và cách tiếp cận về an ninh khác nhau Nhiều nước phương Tây, như Mỹ và Australia, mong muốn đẩy nhanh tiến trình ARF, trong khi một số nước ASEAN và Trung Quốc phản đối việc thay đổi nguyên tắc "không can thiệp" Các nước ASEAN lo ngại rằng việc thể chế hóa ARF có thể làm giảm vai trò lãnh đạo của họ, trong khi Trung Quốc xem đây là một cách để kiềm chế sự phát triển của mình Trong các cuộc họp cấp cao hàng năm, các thành viên đều nhất trí rằng ARF đang đi đúng hướng và ủng hộ ASEAN tiếp tục đóng vai trò chính trong diễn đàn này.

Tại ARF - 10 (16 đến 21/3/2003), các nước thành viên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng lòng tin để nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau, coi đây là "sợi chỉ đỏ" trong tiến trình ARF, tạo nền tảng vững chắc cho các bước tiếp theo Bên cạnh đó, ASEAN cũng đang dần tiếp cận ngoại giao phòng ngừa nhằm đạt được sự đồng thuận trước khi ARF chuyển sang giai đoạn thứ hai.

Sau 14 năm hoạt động, ARF đã trở thành Diễn đàn thành công nhất trong việc điều chỉnh chiến lược của ASEAN sau chiến tranh lạnh, đặc biệt là trong việc đưa Trung Quốc vào cuộc đối thoại an ninh đa phương Điều này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc xây dựng lòng tin giữa các quốc gia Thông qua các hoạt động của mình, ARF đã thúc đẩy đối thoại, hợp tác và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước ASEAN, đồng thời duy trì mối quan hệ với các nước bên ngoài ARF thực sự là một Diễn đàn an ninh đa phương "xuyên đại dương" như nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định.

2.2.2 Hợp tác trong khuôn khổ Hội nghị thưởng đỉnh Á- Âu (ASEM) Để thích ứng với xu thế hoà bình, hợp tác để phát triển đang diễn ra mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu, các nhà lãnh đạo ASEAN cho rằng không những phải tăng cường mối quan hệ hợp tác với các nước, các cường quốc trên cơ sở đa phương mà còn phải thiết lập các mối quan hệ hợp tác liên khu vực trong đó Hiệp hội đóng vai trò động lực chính Có thể nói một đóng góp quan trọng nữa trong hợp tác an ninh chính trị của ASEAN với bên ngoài là ý tưởng về sự thiết lập mối quan hệ hợp tác giữa hai châu lục Á - Âu (hai trung tâm kinh tế và chính trị lớn nhất trên thế giới) gồm 25 nước thành viên: 7 nước ASEAN, 3 nước Đông Bắc Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản) và 15 nước thuộc Liên minh châu Âu (EU) Ý tưởng về ASEM được đưa ra lần đầu tiên do Thủ tướng Xingapo Goh Chok Tong khởi xướng tại Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) tổ chức vào tháng 9/1994 ở Xingapo Về phía châu Âu, Pháp là nước có nhiều đóng góp cho sự ra đời của Diễn đàn Có thể nói "ASEM là một Diễn đàn đốí thoại chính trị giữa hai châu lục có đặc điểm phi chính thức, phi thể chế hoá, bình đẳng và quan tâm đến tất cả các vấn đề, tập trung ở ba trụ cột: chính trị, kinh tế và văn hoá - văn minh”[21, 29]

ASEM lần đầu tiên diễn ra tại Băng Cốc, Thái Lan từ ngày 1 đến 2/3/1996, đánh dấu một "bước ngoặt" quan trọng trong quan hệ giữa châu Á và châu Âu Sự kiện này tạo ra một diễn đàn đối thoại mới giữa các đối tác bình đẳng.

Trong bối cảnh tình hình quốc tế đầy biến động trong những năm đầu thế kỷ XXI, từ ngày 22 đến 23/9/2002 Hội nghị Thƣợng đỉnh ASEM lần thứ

Hội nghị IV đã diễn ra tại Copenhagen, Đan Mạch, trong bối cảnh thế giới đang trải qua nhiều biến động lớn, đặc biệt sau sự kiện 11/9 Các thách thức mới từ toàn cầu hóa và sự lan rộng của chủ nghĩa khủng bố đã khiến vấn đề an ninh quốc tế trở thành chủ đề được các nhà lãnh đạo ASEM quan tâm thảo luận Sự kiện 11/9 đã đẩy vấn đề chống khủng bố lên hàng đầu trong các hoạt động của ASEM, nhằm tìm kiếm giải pháp hợp tác hiệu quả trong cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố quốc tế.

Tại lễ bế mạc, Hội nghị đã thông qua Tuyên bố Copenhagen về hòa bình trên bán đảo Triều Tiên và Tuyên bố chống khủng bố, thể hiện quyết tâm của ASEM trong việc chống lại các mối đe dọa đối với hòa bình, an ninh, phát triển bền vững và ổn định chính trị toàn cầu Tuyên bố nhấn mạnh rằng cuộc chiến chống khủng bố cần dựa trên vai trò chủ đạo và các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hiệp Quốc.

Nỗ lực của ASEM trong việc thông qua các Tuyên bố Copenhagen về hòa bình trên bán đảo Triều Tiên và chủ nghĩa khủng bố thể hiện mong muốn mạnh mẽ của các nhà lãnh đạo ASEM trong việc đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định và an ninh không chỉ trong khu vực mà còn trên toàn cầu.

Hội nghị Á - Âu lần thứ năm (ASEM 5) tại Hà Nội đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển hợp tác giữa châu Á và châu Âu Tại sự kiện này, ASEM đã chính thức chào đón 13 thành viên mới, mở rộng mạng lưới hợp tác quốc tế.

3 nước ASEAN là Campuchia, Lào, Mianma và 10 nước thành viên mới của

EU bao gồm Ba Lan, Estonia, Hungary, Latvia, Litva, Malta, Séc, Síp, Slovakia và Slovenia ASEM 5 với mục tiêu "Tiến tới quan hệ đối tác Á - Âu sống động và thực chất hơn" đã mở ra bước chuyển biến mới trong quan hệ đối tác này, với vai trò quan trọng của ASEAN Việt Nam tổ chức thành công ASEM 5, đánh dấu vai trò và đóng góp lớn lao của mình trong tiến trình hợp tác Á - Âu mà ASEAN khởi xướng.

Trong hơn một thập kỷ qua, ASEM đã bị cho là chú trọng vào hợp tác kinh tế hơn là an ninh chính trị, nhưng tại Diễn đàn ASEM, nhiều vấn đề liên quan đến hòa bình và ổn định như buôn lậu ma túy, xung đột sắc tộc, tôn giáo và chủ nghĩa khủng bố đã được thảo luận nhằm tìm kiếm sự đồng thuận Điều này không chỉ nâng cao vị thế của ASEM và EU trên trường quốc tế mà còn thúc đẩy hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thu hút đầu tư từ bên ngoài Với hơn một thập kỷ phát triển và những thành tựu từ Hội nghị Thượng đỉnh Á - Âu, chúng ta có thể hy vọng vào một tương lai tươi sáng cho cả hai châu lục ASEM được coi là một khuôn khổ đối thoại không thể thay thế, bất chấp những thay đổi trong khu vực và thế giới Thủ tướng Đan Mạch đã nhận xét rằng ASEM là tiến trình duy nhất kết nối hơn hai tỷ dân thuộc các nền văn minh và văn hóa khác nhau, góp phần biến sự đa dạng thành một tài sản quý giá.

2.2.3 Hợp tác an ninh chính trị ASEAN qua chương trình Hợp tác Đông Á (ASEAN +3) Để thích ứng trước sự gia tăng của toàn cầu hoá và đối phó với những khó khăn do cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 - 1998 gây ra, các nước ASEAN và Đông Bắc Á đều nhận thức rằng, chỉ có tăng cường hợp tác trong khu vực Đông Á mới có thể ngăn chặn đƣợc những mặt trái của toàn cầu hoá mang lại Trên tinh thần đó, ASEAN đã chủ động đƣa ra sáng kiến về một cơ chế hợp tác mới: Hợp tác Đông Á (hay còn gọi là Hợp tác ASEAN + 3) Diễn đàn này đƣợc chính thức thành lập bằng việc các nhà lãnh đạo cấp cao 10 nước ASEAN và 3 nước ở Đông Á là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc họp tại Manila - Philippin vào ngày 28/ll/1999, đƣa ra Tuyên bố chung về hợp tác Đông Á

Tiểu kết

Từ năm 1995 đến nay, ASEAN đã có những bước tiến quan trọng trong lĩnh vực an ninh và chính trị Sự mở rộng từ ASEAN 6 lên ASEAN 10 chứng tỏ rằng khu vực này đang hướng tới sự thống nhất và phát triển chung, không bị chi phối bởi các thể chế chính trị hay kinh tế của các quốc gia thành viên.

Kỷ nguyên mới đã bắt đầu tại Đông Nam Á, đánh dấu sự hòa hợp và hợp tác khu vực Sự chuyển mình này hứa hẹn mang lại những lợi ích thiết thực và to lớn cho từng quốc gia cũng như toàn bộ khu vực.

[4, 27l ] Sự tham gia của Việt Nam đã tạo điều kiện cho ba nước Lào,

Myanmar và Campuchia gia nhập ASEAN, đánh dấu một thắng lợi của tinh thần đoàn kết và hợp tác trong khu vực Sự mở rộng thành viên đã chấm dứt tình trạng phân hóa về kinh tế và chính trị xã hội tại Đông Nam Á, tạo nên một ASEAN thống nhất nhưng vẫn đa dạng Sự liên kết sức mạnh của từng quốc gia sẽ góp phần nâng cao sức bật chung của toàn khu vực, đảm bảo an ninh cho mỗi quốc gia và an ninh cho toàn Hiệp hội.

ASEAN đã khẳng định vai trò quan trọng của mình trên trường quốc tế thông qua các mối quan hệ hợp tác đa phương, song phương và khu vực Đặc biệt, tổ chức này đã tăng cường vai trò trong ASEM và ký kết nhiều Hiệp ước về an ninh, chống khủng bố, cùng Bộ quy tắc ứng xử Biển Đông với Trung Quốc Những nỗ lực này không chỉ đảm bảo hòa bình, ổn định và hợp tác giữa các thành viên trong khu vực mà còn nâng cao ảnh hưởng của ASEAN đối với thế giới.

Thực trạng và triển vọng trong hợp tác an ninh chính trị của ASEAN hiện nay

Ngày đăng: 02/12/2021, 23:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Baladas Ghosal (1997), "ASEAN bước vào thế kỉ XXI: Những thách đố trước mắt", Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, (4), tr 18 -26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ASEAN bước vào thế kỉ XXI: Những thách đố trước mắt
Tác giả: Baladas Ghosal
Năm: 1997
3. Bộ ngoại giao. Vụ ASEAN (1998), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
Tác giả: Bộ ngoại giao. Vụ ASEAN
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1998
4. Bộ ngoại giao (1995), Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc
Tác giả: Bộ ngoại giao
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1995
5. Nguyễn Phương Bình (1994), "Vai trò của ASEAN trong việc xây dựng cơ chế an ninh khu vực", Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, (4), tr 30- 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của ASEAN trong việc xây dựng cơ chế an ninh khu vực
Tác giả: Nguyễn Phương Bình
Năm: 1994
6. Phạm Cao Cường (2005), “Đằng sau cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ ở Đông Nam Á”, Tạp chí châu Mỹ ngày nay, (2), tr 18 - 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đằng sau cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ ở Đông Nam Á”
Tác giả: Phạm Cao Cường
Năm: 2005
7. Đoàn Ngọc Cảnh (1994), Vấn đề an ninh ở khu vực Đông Nam Á, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề an ninh ở khu vực Đông Nam Á
Tác giả: Đoàn Ngọc Cảnh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1994
8. Luận Thùy Dương (2007) “40 năm hợp tác ASEAN và chặng đường phía trước”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, (2) tr 14-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2007) “40 năm hợp tác ASEAN và chặng đường phía trước”", Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế", (2
9. Trần Văn Đào, Phan Doãn Nam (200l), Giáo trình lịch sử Quan hệ quốc tế 1945 - 1995, Học viện Quan hệ quốc tê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử Quan hệ quốc tế 1945 - 1995
10. Trần Hiệp (2007), “Vấn đề Biển Đông trong tiến trình xây dựng cộng đồng an ninh ASEAN những năm đầu thế kỉ XXI”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (1), tr 30-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề Biển Đông trong tiến trình xây dựng cộng đồng an ninh ASEAN những năm đầu thế kỉ XXI
Tác giả: Trần Hiệp
Năm: 2007
11. Nguyễn Thị Hoa (1999), “ASEAN trước ngưỡng cửa thiên niên kỷ mới”, Tạp chí Cộng sản, (2 l), tr 59-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ASEAN trước ngưỡng cửa thiên niên kỷ mới
Tác giả: Nguyễn Thị Hoa
Năm: 1999
12. Trần Khánh (2002), Liên kết ASEAN trong bối cảnh toàn cầu hoá, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết ASEAN trong bối cảnh toàn cầu hoá
Tác giả: Trần Khánh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2002
13. Trần Khánh (2007), “Những thách thức đối với xây dựng cộng đồng an ninh ASEAN”, Nghiên cứu Đông Nam Á (7), tr 15-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thách thức đối với xây dựng cộng đồng an ninh ASEAN”
Tác giả: Trần Khánh
Năm: 2007
14. Vũ Khoan (1998), "Đoàn kết và hợp tác vì một ASEAN hoà bình, ổn định và phát triển đồng đều", Tạp chí Cộng sản, (24), tr 17-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoàn kết và hợp tác vì một ASEAN hoà bình, ổn định và phát triển đồng đều
Tác giả: Vũ Khoan
Năm: 1998
15. Trần Bá Khoa (2002), “Hiện trạng và triển vọng hợp tác an ninh khu vực châu Á Thái Bình Dương”, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, (9), tr 31- 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng và triển vọng hợp tác an ninh khu vực châu Á Thái Bình Dương
Tác giả: Trần Bá Khoa
Năm: 2002
16. Nguyễn Kim Lân (2000), "Đông Nam Á và các vấn đề an ninh trong khu vực", Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, (32), tr 49- 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Nam Á và các vấn đề an ninh trong khu vực
Tác giả: Nguyễn Kim Lân
Năm: 2000
17. Nguyễn Kim Lân (2003), "Quan hệ hợp tác giữa ASEAN với Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ: hiện tại và triển vọng", Tạp chí Khoa học quân sự, (6), tr 14- 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ hợp tác giữa ASEAN với Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ: hiện tại và triển vọng
Tác giả: Nguyễn Kim Lân
Năm: 2003
18. Nguyễn Văn Lịch (2000), "ASEAN - Những đóng góp cho hoà bình, hợp tác và phát triển ở khu vực", Một số chuyên đề lịch sử thê giới, NXB Đại Học Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ASEAN - Những đóng góp cho hoà bình, hợp tác và phát triển ở khu vực
Tác giả: Nguyễn Văn Lịch
Nhà XB: NXB Đại Học Quốc Gia
Năm: 2000
19. Phan Ngọc Liên (chủ biên), Ngiêm Đình Vỳ, Đinh Ngọc Bảo, Trần Thị Vinh, (1998), Lược sử Đông Nam Á, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử Đông Nam Á
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên), Ngiêm Đình Vỳ, Đinh Ngọc Bảo, Trần Thị Vinh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
20. Đinh Xuân Lý (2000), Tiến trình hội nhập Việt Nam - ASEAN, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình hội nhập Việt Nam - ASEAN
Tác giả: Đinh Xuân Lý
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2000
21. Phạm Quang Minh (2004), “ASEM 5 - thách thức trong quan hệ hợp tác Á - Âu”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, (5), tr 28-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ASEM 5 - thách thức trong quan hệ hợp tác Á - Âu”
Tác giả: Phạm Quang Minh
Năm: 2004

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w