1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp 2

75 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 830,33 KB

Cấu trúc

  • Bia lot.pdf

  • DETAI.pdf

    • MỤC LỤC

    • DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

    • MỤC LỤC HÌNH VẺ, ĐỒ THỊ, BẢNG BIỂU

    • PHẦN MỞ ĐẦU

    • CHƯƠNG 1:KHUNG LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾUDOANH NGHIỆP

      • 1.1 Tổng quan về trái phiếu

        • 1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của trái phiếu

        • 1.1.2 Phân loại trái phiếu

        • 1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trái phiếu

        • 1.1.4 Định giá trái phiếu

      • 1.2 Trái phiếu doanh nghiệp

        • 1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của trái phiếu doanh nghiệp

        • 1.2.2 Phân loại trái phiếu doanh nghiệp

        • 1.2.3 Vai trò của trái phiếu doanh nghiệp đối với sự phát triển của các chủ thểvà toàn nền kinh tế

        • 1.2.4 Nhận dạng các rủi ro khi đầu tư, giao dịch trên thị trường trái phiếu.

      • 1.3 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở một số nước và bài học kinhnghiệm cho Việt Nam.

        • 1.3.1 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Mỹ

        • 1.3.2 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Hàn Quốc

        • 1.3.3 Thị trường trái phiếu Malaysia

        • 1.3.4 Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

      • Kết luận chương 1:

    • CHƯƠNG 2:THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

      • 2.1 Thị trường tài chính Việt Nam

        • 2.1.1 Bối cảnh kinh tế

        • 2.1.2 Thực trạng thị trường tài chính Việt Nam

      • 2.2 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam

        • 2.2.1 Thực trạng thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam

        • 2.2.2 Nguyên nhân

        • 2.2.3 Một số nét mới trong phát hành trái phiếu doanh nghiệp – Huy độngvốn đối với doanh nghiệp kinh doanh bất động sản.

      • Kết luận chương 2:

    • CHƯƠNG 3:GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP

      • 3.1 Cơ hội và thách thức để phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp ởViệt Nam.

      • 3.2 Giải phát phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam

        • 3.2.1 Hoàn thiện khung pháp lý và hệ thống quản lý.

        • 3.2.2 Nâng cao nhận thức cho các doanh nghiệp và công chúng đầu tư vềchứng khoán nói chung và trái phiếu nói riêng.

        • 3.2.3 Giải pháp phát triển thị trường sơ cấp.

        • 3.2.4 Giải pháp phát triển thị trường thứ cấp

      • Kết luận chương 3:

    • KẾT LUẬN

    • TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Có ba phương thức chính để huy động vốn đầu tư: vay thương mại, phát hành trái phiếu và tiếp nhận vốn góp Vay thương mại thường có hạn mức và yêu cầu tài sản thế chấp Tiếp nhận vốn góp giúp công ty tăng vốn mà không phải chịu nghĩa vụ nợ, tuy nhiên có thể dẫn đến việc "pha loãng" quyền sở hữu Đối với trái phiếu, tổ chức phát hành có thể bán trực tiếp cho nhà đầu tư, giảm thiểu trung gian và do đó làm giảm chi phí vay vốn.

Việc huy động vốn trong thị trường tài chính – ngân hàng Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa vào vay vốn thương mại và vốn góp, trong khi phát hành trái phiếu chưa được khai thác nhiều Điều này tương tự như chiếc kiềng ba chân, đảm bảo sự phát triển bền vững Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 đã chỉ ra rằng nếu không phát triển đầy đủ ba phương thức huy động vốn, thị trường tài chính sẽ thiếu tính vững chắc và dễ bị tổn thương trước các cú sốc bên ngoài Khi Việt Nam gia nhập WTO và hội nhập kinh tế toàn cầu, nguồn vốn nước ngoài đang có xu hướng đổ vào, tạo cơ hội cho đầu tư phát triển, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ gây khủng hoảng nếu dòng vốn này rút lui đồng loạt.

Cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở Mỹ đã dẫn đến sự chuyển hướng của các nhà đầu tư tài chính, khi họ tìm đến thị trường trái phiếu với độ rủi ro thấp hơn và được ưu tiên thanh toán.

Việc hình thành và phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp là một chiến lược quan trọng và cần thiết cho sự sống còn của nền kinh tế trong bối cảnh thị trường tài chính đang mở cửa như hiện nay.

Chính phủ Việt Nam đã chú trọng phát triển thị trường trái phiếu, đặc biệt là trái phiếu doanh nghiệp, thông qua việc xây dựng chiến lược dài hạn đến năm 2020 Tuy nhiên, thị trường trái phiếu tại Việt Nam vẫn còn ở giai đoạn đầu phát triển Để tạo ra một thị trường trái phiếu năng động, cần thiết phải nghiên cứu thị trường trái phiếu doanh nghiệp trong bối cảnh Việt Nam, học hỏi từ kinh nghiệm quốc tế và đưa ra những kiến nghị phù hợp để thúc đẩy sự phát triển của thị trường này.

Xuất phát từ nguyên nhân này tác giả đã mạnh dạn đi vào nghiên cứu đề tài:

PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP.

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Thị trường trái phiếu Việt Nam hiện chưa phát triển mạnh mẽ và chưa đóng góp tích cực cho nền kinh tế do nhiều nguyên nhân, bao gồm thiếu tính minh bạch, cơ sở hạ tầng pháp lý chưa hoàn thiện và sự hạn chế trong việc thu hút nhà đầu tư Để xây dựng và phát triển thị trường trái phiếu trở nên năng động hơn, cần triển khai các giải pháp như hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao tính minh bạch thông tin và khuyến khích sự tham gia của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, từ đó góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế đất nước.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp định tính, định lượng, thống kê, so sánh

Thống kê lịch sử và tổng hợp để đánh giá quy mô thực trạng của thị trường

So sánh số liệu với các nước.

Tổng quan về trái phiếu

1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của trái phiếu

Trái phiếu là chứng khoán thể hiện nghĩa vụ của người phát hành (người vay) trong việc trả một khoản tiền xác định cho người nắm giữ (người cho vay) theo những khoảng thời gian cụ thể, cùng với việc hoàn trả khoản vay ban đầu khi đến hạn.

Một trái phiếu thông thường có ba đặc trưng chính:

Mệnh giá trái phiếu là số tiền thanh toán cho người sở hữu tại thời điểm đáo hạn, được ghi cụ thể trên mỗi trái phiếu và còn gọi là giá trị đáo hạn hoặc giá "bề mặt" Ví dụ, mệnh giá của trái phiếu do chính phủ Mỹ phát hành thường là 1.000 USD, trong khi ở Việt Nam, trái phiếu có mệnh giá là bội số của 100.000 đồng Lãi suất định kỳ, hay còn gọi là coupon, là tỷ lệ lãi hàng năm tính trên mệnh giá trái phiếu mà tổ chức phát hành phải thanh toán cho nhà đầu tư trong suốt thời gian trái phiếu có hiệu lực.

Thời hạn trái phiếu là khoảng thời gian tính từ ngày phát hành cho đến ngày đáo hạn Mỗi đợt phát hành trái phiếu có thể đi kèm với những đặc tính riêng nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của một bên nào đó.

Trái phiếu có thể mua lại cho phép nhà phát hành thu hồi chứng khoán trước thời điểm đáo hạn khi cần thiết Tính năng này mang lại lợi ích cho nhà phát hành nhưng lại gây bất lợi cho nhà đầu tư, do đó, trái phiếu này thường có lãi suất cao hơn so với các loại trái phiếu khác có cùng thời gian đáo hạn.

Trái phiếu có thể bán lại cho phép nhà đầu tư bán trái phiếu cho bên phát hành trước khi đáo hạn, mang lại quyền chủ động cho họ Do đó, lãi suất của loại trái phiếu này thường thấp hơn so với các trái phiếu khác có cùng thời hạn.

Trái phiếu chuyển đổi cho phép nhà đầu tư chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu thường, qua đó chuyển từ vai trò chủ nợ sang chủ sở hữu công ty.

• Phân loại theo nhà phát hành:

Phân loại trái phiếu theo nhà phát hành thì trái phiếu có hai loại trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp

Trái phiếu chính phủ là loại trái phiếu do chính phủ phát hành nhằm bù đắp thâm hụt ngân sách, tài trợ cho các công trình công ích và điều tiết tiền tệ, thường để kiểm soát lạm phát Với tính thanh khoản cao và rủi ro thanh toán gần như không có, lãi suất của trái phiếu chính phủ được coi là lãi suất chuẩn cho các công cụ nợ khác có cùng kỳ hạn Các loại trái phiếu chính phủ bao gồm trái phiếu đô thị và trái phiếu công trình.

Trái phiếu doanh nghiệp là công cụ tài chính do các công ty phát hành nhằm huy động vốn dài hạn So với trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có mức độ rủi ro cao hơn, dẫn đến lãi suất thường cao hơn lãi suất của trái phiếu chính phủ trong cùng kỳ.

• Phân loại theo kỳ hạn:

- Trái phiếu ngắn hạn (Shorts) có thời hạn từ 1 đến 5 năm;

- Trái phiếu trung hạn (Mediums) có thời hạn từ 5 đến 15 năm;

- Trái phiếu dài hạn (Longs) có thời hạn hơn 15 năm;

• Phân loại theo việc có ghi danh hay không:

Trái phiếu vô danh là loại trái phiếu không ghi tên trái chủ trên chứng chỉ và sổ sách của người phát hành Các phiếu trả lãi gắn liền với chứng chỉ, và khi đến hạn, người giữ trái phiếu chỉ cần xé phiếu và mang đến ngân hàng để nhận lãi Khi trái phiếu đáo hạn, người nắm giữ mang chứng chỉ đến ngân hàng để thu hồi khoản vay.

Trái phiếu ghi danh là loại trái phiếu có tên và địa chỉ của trái chủ được ghi trên chứng chỉ và sổ của người phát hành Hình thức ghi danh có thể áp dụng cho phần vốn gốc hoặc toàn bộ, bao gồm cả lãi Trong số đó, hình thức ghi sổ đang trở nên phổ biến, hoàn toàn không có dạng vật chất, và quyền sở hữu được xác nhận qua việc lưu giữ thông tin của chủ sở hữu trên máy tính.

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trái phiếu

1.1.3.1 Biến động lãi suất thị trường

Lãi suất thị trường đóng vai trò quan trọng trong việc định giá chứng khoán có lãi suất cố định Khi lãi suất tăng, lợi tức từ trái phiếu sẽ thay đổi, dẫn đến việc vốn chuyển hướng sang các kênh đầu tư hứa hẹn lợi nhuận cao hơn, làm giảm giá trái phiếu Ngược lại, nếu giá trái phiếu giảm do lạm phát gia tăng, việc tăng lãi suất có thể được xem là nỗ lực của Chính phủ nhằm kiểm soát lạm phát Do đó, ảnh hưởng tiêu cực của việc tăng lãi suất có thể được bù đắp bởi triển vọng cải thiện tình hình lạm phát.

1.1.3.2 Cấu trúc kỳ hạn của lãi suất

Vòng đời của trái phiếu được xác định ngay tại thời điểm phát hành, với các loại thời hạn như ngắn hạn (1-5 năm), trung hạn (6-15 năm) và dài hạn (trên 15 năm) Thời hạn dài thường đi kèm với lãi suất cao hơn, đồng nghĩa với việc tăng rủi ro cho nhà đầu tư Mối quan hệ giữa lãi suất và thời gian của trái phiếu được thể hiện qua đường cong lãi suất, một đồ thị mô tả cấu trúc thời hạn của lãi suất, thường liên quan đến trái phiếu chính phủ Có bốn dạng đồ thị chính: thông thường, dốc, đảo ngược và phẳng.

Đường cong lãi suất dạng thông thường thể hiện lãi suất ngắn hạn thấp nhất, sau đó tăng dần và gần như nằm ngang ở đoạn cuối Điều này cho thấy nền kinh tế lành mạnh, ổn định với mức tăng trưởng chậm nhưng đều đặn, đồng thời các thị trường cổ phiếu và trái phiếu cũng có xu hướng ổn định Cần lưu ý rằng đường cong lãi suất là một chỉ báo chứ không phải là dự báo.

Hình 1.1: Đườ ng cong lãi su ấ t d ạ ng thông th ườ ng

Đường cong lãi suất dốc xuất hiện khi chênh lệch giữa lãi suất ngắn hạn và dài hạn tăng lên 4%-5%, cho thấy niềm tin của nhà đầu tư vào sự cải thiện của nền kinh tế trong tương lai gần Thường thì, loại đường cong này xuất hiện sau các cuộc suy thoái, khi nền kinh tế đã ổn định và bắt đầu quá trình mở rộng.

Hình 1.2: Đườ ng cong lãi su ấ t d ạ ng d ố c

Nếu lãi suất ngắn hạn cao hơn lãi suất dài hạn, đường cong lãi suất sẽ có dạng đảo ngược, báo hiệu sự thu hẹp của nền kinh tế Nguyên nhân có thể do nhu cầu cao đối với quỹ ngắn hạn, vấn đề thanh khoản của công cụ chính phủ hoặc doanh nghiệp, áp lực lạm phát ngắn hạn gia tăng, hoặc chính sách tiền tệ thắt chặt của ngân hàng trung ương Vào đầu năm 2008, thị trường vốn Việt Nam ghi nhận lãi suất huy động 1 tháng là 1%/tháng, trong khi lãi suất huy động 12 tháng chỉ là 0,09% Tình hình này cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang đối mặt với lạm phát cao và chính phủ đang thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, làm cho việc vay vốn đầu tư trở nên khó khăn hơn.

Hình 1.3: Đườ ng cong lãi su ấ t d ạ ng đả o ng ượ c

Trái phiếu doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của trái phiếu doanh nghiệp

Trái phiếu doanh nghiệp là chứng khoán nợ do doanh nghiệp phát hành, cam kết nghĩa vụ hoàn trả cả gốc lẫn lãi cho người sở hữu.

Trái phiếu doanh nghiệp có những đặc điểm chung như sau: trái chủ nhận lãi định kỳ và gốc khi đáo hạn, nhưng không tham gia vào quyết định của doanh nghiệp Một số loại trái phiếu không trả lãi định kỳ, cho phép người mua mua dưới mệnh giá và nhận lại mệnh giá khi đáo hạn Trong trường hợp doanh nghiệp giải thể hoặc thanh lý, trái phiếu được ưu tiên thanh toán trước cổ phiếu Ngoài ra, còn có các điều kiện cụ thể và hình thức đảm bảo cho khoản vay.

1.2.2 Phân loại trái phiếu doanh nghiệp

Tuỳ theo cách thức phân loại mà trái phiếu doanh nghiệp được phân thành nhiều loại, nhưng cơ bản trái phiếu doanh nghiệp bao gồm những loại sau:

Trái phiếu thu nhập (Income Bonds) là loại trái phiếu mà việc thanh toán lãi suất phụ thuộc vào lợi nhuận của doanh nghiệp Loại trái phiếu này thường được phát hành trong bối cảnh doanh nghiệp gặp khó khăn tài chính hoặc cần huy động vốn cho dự án Điểm khác biệt giữa trái phiếu thu nhập và cổ phiếu ưu đãi là lãi suất trả cho trái chủ của trái phiếu này được chiết khấu thuế thu nhập doanh nghiệp (trả trước thuế), trong khi lãi suất của cổ phiếu thì không được chiết khấu (trả sau thuế).

Trái phiếu có đảm bảo (Mortgage Bonds) là loại trái phiếu được bảo vệ bởi tài sản thế chấp cụ thể, chủ yếu là bất động sản và thiết bị Người nắm giữ trái phiếu này có quyền đòi nợ từ tài sản cụ thể, mang lại mức độ an toàn cao trong trường hợp công ty phá sản.

Trái phiếu không bảo đảm (Debenture) là loại trái phiếu tín chấp không được bảo đảm bằng tài sản, mà dựa vào tín chấp của công ty phát hành Trong trường hợp công ty phá sản, trái chủ trái phiếu này sẽ được giải quyết quyền lợi sau các trái chủ có bảo đảm, nhưng trước cổ đông Ngoài ra, trái phiếu tín chấp có thể chuyển đổi, cho phép trái chủ chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu thường của công ty phát hành, với quy định về thời điểm chuyển đổi có thể linh hoạt hoặc cố định.

Trái phiếu có thể chuyển đổi (Convertible Bonds) là loại trái phiếu cho phép người nắm giữ chuyển đổi thành cổ phiếu thường với giá chuyển đổi được xác định trước Loại trái phiếu này rất được ưa chuộng, đặc biệt khi giá cổ phiếu tăng cao, giúp nhà đầu tư thu lợi từ việc chuyển đổi và hưởng chênh lệch giá.

Trái phiếu chuộc lại (Callable Bonds) là loại trái phiếu cho phép doanh nghiệp mua lại sau một thời gian nhất định với giá chuộc lại thường cao hơn mệnh giá Nhà đầu tư có quyền quyết định có chấp nhận sự chuộc lại này hay không.

Trái phiếu có lãi suất cố định, hay còn gọi là Straight Bonds, là loại trái phiếu truyền thống phổ biến trên hầu hết các thị trường chứng khoán toàn cầu Đặc điểm nổi bật của loại trái phiếu này là việc trả lãi suất ổn định định kỳ, thường là mỗi 6 tháng hoặc một lần, và nó ràng buộc nghĩa vụ trả lãi trong suốt thời gian trái phiếu được lưu hành.

Trái phiếu có lãi suất thả nổi là loại trái phiếu có lãi suất được điều chỉnh theo biến động của lãi suất thị trường, đảm bảo quyền lợi cho cả nhà đầu tư và doanh nghiệp trong môi trường kinh tế không ổn định Lãi suất trái phiếu thường được điều chỉnh mỗi 6 tháng dựa trên lãi suất tiền gửi ngắn hạn, giúp duy trì tính cạnh tranh và hấp dẫn cho nhà đầu tư.

Trái phiếu chiết khấu, hay còn gọi là Coupon Bonds, là loại trái phiếu không trả lãi định kỳ Giá của trái phiếu này được xác định dựa trên lãi suất thị trường tại thời điểm phát hành, thường thấp hơn mệnh giá, được gọi là giá chiết khấu Khi đến hạn, trái chủ sẽ nhận lại số tiền đúng bằng mệnh giá của trái phiếu.

1.2.3 Vai trò của trái phiếu doanh nghiệp đối với sự phát triển của các chủ thể và toàn nền kinh tế

• Cung cấp công cụ huy động vốn khác cho doanh nghiệp

Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2001-2010 đặt mục tiêu tổng sản phẩm quốc nội năm 2010 tăng gấp đôi so với năm 2000, với tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 7,5% - 8% mỗi năm trong giai đoạn 2006-2010 Để đạt được mục tiêu này, tổng mức huy động vốn cho đầu tư phát triển cần đạt khoảng 140 tỷ USD, tương đương 40% GDP, trong đó 65-67% là vốn trong nước và 33-35% là vốn nước ngoài Nghiên cứu cho thấy sự phát triển của thị trường vốn là rất quan trọng, với yêu cầu 0,527% vốn cần thiết để đạt được 1% tăng trưởng kinh tế, khẳng định vai trò quan trọng của vốn đối với nền kinh tế.

Khác với các kênh huy động vốn truyền thống phụ thuộc vào xét duyệt của tổ chức cho vay, phát hành trái phiếu giúp doanh nghiệp chủ động trong kế hoạch sản xuất và thời gian trả nợ Khoản vay từ trái phiếu thường lớn hơn nhiều so với vay vốn truyền thống, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh ngân hàng thương mại đang tăng vốn trước nhu cầu gia tăng nhanh chóng Để giảm phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng và tránh pha loãng cổ phiếu, một số doanh nghiệp như Tổng công ty Điện lực Việt Nam và Tổng công ty Dầu khí đã phát hành trái phiếu để huy động vốn xã hội Mặc dù hiện tại phát hành trái phiếu doanh nghiệp còn hạn chế và chủ yếu tập trung ở doanh nghiệp nhà nước lớn, nhưng rõ ràng đây là một kênh huy động vốn mới và hiệu quả cho doanh nghiệp.

• Tạo hàng hoá cho thị trường trái phiếu

Trái phiếu doanh nghiệp đã xuất hiện, mở rộng sự lựa chọn cho nhà đầu tư bên cạnh trái phiếu chính phủ và cổ phiếu Loại trái phiếu này giúp đa dạng hóa hàng hóa trên thị trường trái phiếu, cho phép nhà đầu tư tìm kiếm lãi suất cao hơn với mức độ rủi ro phù hợp, thay vì chỉ dựa vào trái phiếu chính phủ có lãi suất thấp và rủi ro gần như bằng không.

Mặc dù thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam đã phát triển nhanh chóng từ năm 2006, nhưng quy mô hiện tại vẫn còn nhỏ với tổng giá trị khoảng 16 ngàn tỷ đồng, chỉ chiếm 20% tổng giá trị trái phiếu và 1,5% GDP Điều này chưa đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Chính phủ hiện đang khuyến khích các doanh nghiệp huy động vốn trực tiếp trên thị trường chứng khoán, nhằm giảm sự phụ thuộc vào tín dụng, trong đó phát hành trái phiếu được xem là một hình thức tiềm năng.

• Tạo ra hình thức đầu tư mới hiệu quả, giảm thiểu rủi ro

Tính đến nay, tổng giá trị trái phiếu phát hành đạt khoảng 70.000-80.000 tỷ đồng, trong đó 80% là do Chính phủ phát hành, chủ yếu phục vụ cho phát triển hạ tầng như giao thông và thủy lợi Việc phát hành trái phiếu không chỉ góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế mà còn giúp giảm thiểu rủi ro cho hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính, tránh tình trạng sai lệch kỳ hạn và sai lệch đồng tiền Đối với nhà đầu tư, trái phiếu doanh nghiệp trở thành một kênh huy động vốn mới và là hình thức đầu tư đa dạng, giúp giảm thiểu rủi ro so với cổ phiếu, đặc biệt trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam có dấu hiệu suy giảm Trái phiếu doanh nghiệp thường có độ an toàn cao hơn và đảm bảo lợi nhuận hợp lý, đồng thời được ưu tiên hoàn trả vốn trong trường hợp công ty phá sản, trở thành nơi trú ẩn an toàn cho nhà đầu tư.

• Đa dạng hoá sản phẩm tài chính

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở một số nước và bài học kinh nghiệm

1.3.1 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Mỹ

Kể từ thập niên 1920, thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại Mỹ đã vươn lên trở thành thị trường phát hành trái phiếu phi chính phủ lớn nhất toàn cầu Hầu hết các công ty đều sử dụng hình thức phát hành trái phiếu để huy động vốn, với thời gian đáo hạn chủ yếu từ 2 đến 50 năm.

Hiện nay, trái phiếu doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường trái phiếu Mỹ, với số lượng doanh nghiệp phát hành và giá trị trái phiếu lưu hành tính theo đô la Mỹ rất lớn.

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Mỹ có một phân khúc đặc biệt dành cho các công ty nước ngoài phát hành trái phiếu bằng đồng USD, gọi là thị trường trái phiếu Yankee Tại Mỹ, có hai loại thị trường thứ cấp cho trái phiếu công ty: Sở Giao dịch chứng khoán New York và Sở giao dịch chứng khoán Mỹ, cùng với thị trường OTC, nơi chủ yếu diễn ra các giao dịch trái phiếu doanh nghiệp quy mô lớn giữa các nhà đầu tư tổ chức và quản lý quỹ chuyên nghiệp Đến cuối tháng 3 năm 2005, trái phiếu doanh nghiệp Mỹ đã chiếm 22% GDP của quốc gia.

1.3.2 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Hàn Quốc

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Hàn Quốc đã hình thành từ những năm 1970, chủ yếu được bảo lãnh bởi các ngân hàng, công ty chứng khoán và quỹ bảo lãnh.

Tại Hàn Quốc, số lượng trái phiếu của các công ty phi tài chính vượt xa trái phiếu không có bảo đảm từ khu vực ngân hàng, chiếm hơn 70% tổng số trái phiếu công ty trong giai đoạn 1995-1997 Điều này cho thấy sự hiện diện mạnh mẽ của nhiều công ty lớn và uy tín trong nền kinh tế.

Sau năm 1997, Hàn Quốc chứng kiến sự bùng nổ trong việc sử dụng trái phiếu doanh nghiệp để huy động vốn, đi kèm với sự phát triển mạnh mẽ của các công ty tín thác đầu tư.

Quốc đã có những thay đổi mang tính cách mạng trên thị trường trái phiếu chính phủ để tạo chuẩn cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp như:

Thủ tục phát hành mới nhằm thiết lập một hệ thống đấu giá mới, thay thế cho hệ thống cũ, đồng thời xóa bỏ thông lệ thỏa thuận thông tin về thời hạn phát hành.

Tính đều đặn trong phát hành (trái phiếu chính phủ được phát hành đều đặn hàng tháng)

B ả ng 1.1: Quy mô trái phi ế u t ạ i Hàn Qu ố c Đvt: nghìn tỷ KRW

Năm Năm 2000 Năm 2002 Năm 2004 Năm 2006

Trái phiếu của Ngân hàng Hàn Quốc 66,4 83,9 142,5 158,4 Trái phiếu doanh nghiệp (A) 143,1 162,7 131,0 121,7

Nguồn: Financial Supervisory Service, Financial Markets Development of the Bank of Korea

1.3.3 Thị trường trái phiếu Malaysia

Thị trường trái phiếu Malaysia bắt đầu phát triển từ những năm 1970 khi Chính phủ phát hành trái phiếu để đáp ứng nhu cầu tài chính lớn cho sự phát triển đất nước Đến giữa những năm 1980, khu vực tư nhân đã trở thành một phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của Malaysia.

Trong suốt thời gian qua, khu vực tư nhân đã nhận được sự tín nhiệm lớn từ ngân hàng, dẫn đến quyết tâm của Chính phủ trong việc phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp như một chiến lược quan trọng Cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 đã chỉ ra những rủi ro khi phụ thuộc quá mức vào các khoản vay ngân hàng.

Cuộc khủng hoảng đã thúc đẩy Chính phủ nỗ lực phát triển thị trường trái phiếu nhằm cung cấp nguồn tài chính thay thế cho khu vực tư nhân và giảm thiểu việc tài trợ không phù hợp Những nỗ lực này đã mang lại kết quả tích cực cho thị trường trái phiếu.

Cuối năm 1997, Malaysia đã triển khai chương trình phát hành trái phiếu chuẩn định kỳ hàng quý nhằm tạo ra đường cong lãi suất chuẩn cho thị trường trái phiếu, với các kỳ hạn 3, 5, 7 và 10 năm.

B ả ng 1.2: T ỷ tr ọ ng trái phi ế u chính ph ủ , trái phi ế u doanh nghi ệ p so v ớ i GDP c ủ a m ộ t s ố qu ố c gia (S ố li ệ u đế n tháng 3/2005)

Trái phiếu chính phủ Trái phiếu doanh nghiệp Trái phiếu của các tổ chức tài chính

**: số liệu doanh nghiệp đã bao gốm các tổ chức tài chính

Nguồn: Asian Development Bank, Asia Bonds online

B ả ng 1.3: Quy mô th ị tr ườ ng trái phi ế u c ủ a m ộ t s ố qu ố c gia

Giá trị (nghìn tỷ USD) Tỷ lệ

TP Chính phủ TP Doanh nghiệp

Nguồn: Asia Development Bank, Asian Bonds online

! T ổ ng quan v ề th ị tr ườ ng trái phi ế u doanh nghi ệ p:

Ngày 26/2/2008, trong khuôn khổ hoạt động hợp tác tài chính khu vực ASEAN và ASEAN + 3 nhằm chuẩn bị cho Hội nghị Bộ trưởng Tài chính ASEAN lần thứ

12 và Hội nghị Bộ trưởng Tài chính ASEAN + 3 diễn ra tại Đà Nẵng vào tháng

4/2008, “Sáng kiến thị trường trái phiếu châu Á” (ABMI) đã được đưa ra tại cuộc họp tổ chức Hà Nội

Mục tiêu của ABMI là phát triển các thị trường trái phiếu hiệu quả tại Châu Á, nhằm tối ưu hóa việc sử dụng nguồn vốn cho đầu tư trong khu vực và tăng cường kết nối tài chính giữa các quốc gia.

Theo đánh giá của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), thị trường trái phiếu nội tệ tại khu vực Đông Á (bao gồm: Trung Quốc, vùng lãnh thổ Hồng Kông,

Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt Nam) đã có bước phát triển vượt bậc

Thị trường trái phiếu Chính phủ năm 2007 ghi nhận mức tăng 21% Mặc dù thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển nhanh hơn so với năm 2006 và cho thấy chất lượng tín dụng cùng tính đa dạng cao hơn, nhưng tốc độ tăng trưởng của nó vẫn chậm hơn so với thị trường trái phiếu Chính phủ.

Chính phủ Trong 9 quốc gia và vùng lãnh thổ mới nổi ở khu vực Đông Á, Việt

Năm 2007, Việt Nam ghi nhận thị trường trái phiếu bằng đồng nội tệ phát triển nhanh nhất với tốc độ đạt 98,11%, trong khi Trung Quốc xếp thứ hai với mức tăng trưởng 33,42%.

Trong năm 2007, Trung Quốc dẫn đầu về giá trị trái phiếu huy động với 1.689,83 tỷ USD, theo sau là Hàn Quốc với 1.313,81 tỷ USD, trong khi Việt Nam chỉ đạt 9,79 tỷ USD, đứng cuối bảng xếp hạng.

Thị trường tài chính Việt Nam

Sau hơn 20 năm cải cách kinh tế, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể với tốc độ tăng trưởng bình quân 8% mỗi năm, nằm trong nhóm các quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhất khu vực và thế giới Tổng giá trị GDP quốc nội, tính theo tỷ giá hối đoái chính thức, đã phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế.

2006 là 60.999 triệu USD 2 , năm 2007 tiếp tục tăng với mức tăng 8,44%, đạt kế hoạch đề ra (8,0 - 8,5%), cao hơn năm 2006 (8,17%) và là mức cao nhất trong vòng

Trong 11 năm qua, Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng GDP ấn tượng, đứng thứ 3 châu Á vào năm 2007, chỉ sau Trung Quốc (11,3%) và Ấn Độ (khoảng 9%), đồng thời là cao nhất trong các nước ASEAN với mức 6,1% Tất cả ba khu vực kinh tế chính đều ghi nhận mức tăng trưởng khả quan: khu vực nông - lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,0%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,33% (trong đó công nghiệp tăng 10,32%), và khu vực dịch vụ tăng 8,5%, so với các mức tương ứng của năm 2006.

B ả ng 2.1 - T ố c độ t ă ng tr ưở ng kinh t ế (GDP) n ă m t ừ 1997 - 2007 (%)

DV 7,14 5,08 2,25 5,32 6,10 6,54 6,45 7,26 8,48 8,29 8,5 (Nguồn: Niên giám Thống kê năm 2006, tr 69)

Các yếu tố cơ bản trong nền kinh tế, bao gồm giá cả, tỷ giá và lãi suất, mặc dù còn một số hạn chế, nhưng đang dần trở nên có tính thị trường hơn.

2 World Development Indicators database, World Bank, 11 April 2008

Kênh đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã có sự phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là vào năm 2007 khi đạt kỷ lục mới về cả vốn đăng ký và vốn thực hiện Tổng vốn FDI vào Việt Nam trong năm 2007 đạt 20,3 tỷ USD, là mức cao nhất từ trước đến nay.

Lượng kiều hối gửi về Việt Nam trong năm 2007 ước đạt 5,5 tỷ USD, tăng so với 4,7 tỷ USD năm 2006, và gấp 157 lần so với năm 2001, với tốc độ tăng trưởng bình quân 37%/năm từ 1991 đến 2007, tổng kiều hối đạt 29,4 tỷ USD, chiếm 70% vốn FDI từ năm 1998 Nguồn kiều hối chủ yếu được sử dụng để đầu tư vào chứng khoán, bất động sản và mua sắm dịp cuối năm Vốn đầu tư gián tiếp từ thị trường chứng khoán trong năm 2007 ước đạt từ 4,5 đến 5 tỷ USD, với tổng vốn đăng ký dự án mới đạt 9,75 tỷ USD và vốn đăng ký bổ sung 1,51 tỷ USD, nâng tổng vốn đăng ký tháng 10 lên 11,26 tỷ USD, tăng 36,4% so với cùng kỳ năm trước Lượng vốn thực hiện ước đạt 3,71 tỷ USD, tăng 18,7%, dự báo cả năm có thể đạt trên 13,5 tỷ USD vốn đăng ký và trên 4,5 tỷ USD vốn thực hiện, cao nhất từ trước tới nay.

Kênh đầu tư gián tiếp đã xuất hiện trong những năm gần đây, đồng thời với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam về số lượng công ty niêm yết và giá trị vốn hóa Tính đến ngày 30.9.2007, giá trị vốn hóa thị trường tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM đạt 323.311 tỷ đồng (khoảng 20 tỷ USD) Tổng giá trị vốn hóa thị trường của các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài ước tính đạt khoảng 4,8 tỷ USD, cùng với 1,4 tỷ USD đầu tư gián tiếp vào bất động sản, nâng tổng số lên 6,2 tỷ USD Sự phát triển của thị trường chứng khoán đã tạo ra nhiều kênh huy động vốn mới cho doanh nghiệp thông qua việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu.

Việt Nam không chỉ có những bước tiến tích cực trong nước mà còn hòa nhập vào xu hướng phát triển toàn cầu Năm 2007, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và trở thành thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc.

Sự hội nhập kinh tế mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội như thu hút vốn đầu tư và tăng giá trị xuất khẩu, nhưng cũng đặt ra không ít thách thức do ảnh hưởng từ các yếu tố bên ngoài Từ cuối năm 2007 đến đầu năm 2008, kinh tế thế giới trải qua nhiều bất ổn, với giá dầu đạt đỉnh 129 USD/thùng và đồng USD mất giá mạnh, khiến nhà đầu tư chuyển hướng sang vàng, làm giá kim loại quý này tăng vọt Toàn cầu đang phải đối mặt với tình trạng lạm phát nghiêm trọng nhất trong những năm gần đây.

2.1.2 Thực trạng thị trường tài chính Việt Nam

Thị trường tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển giao nguồn tài chính từ nơi dư thừa sang nơi thiếu hụt Dựa trên bản chất và chức năng hoạt động, thị trường tài chính được phân chia thành hai loại chính: thị trường tiền tệ và thị trường vốn.

Thị trường tiền tệ là nơi trao đổi vốn ngắn hạn, bao gồm các khoản vay liên ngân hàng và giao dịch chứng khoán ngắn hạn như tín phiếu kho bạc và chứng chỉ tiền gửi, với thời gian đáo hạn thường dưới một năm Thị trường tín phiếu kho bạc thường được tổ chức thành thị trường tập trung, trong khi Ngân hàng Trung ương sử dụng tín phiếu kho bạc như công cụ để điều hành chính sách tiền tệ thông qua nghiệp vụ thị trường mở Nhiều quốc gia đang phát triển đã áp dụng công cụ này để hỗ trợ cho chính sách tiền tệ trực tiếp Ngược lại, thị trường chứng chỉ tiền gửi là thị trường phi tập trung, nơi các ngân hàng thương mại mua bán chứng chỉ tiền gửi với nhau.

Thị trường vốn là nơi huy động vốn dài hạn chủ yếu thông qua phát hành chứng khoán, thường được đồng nghĩa với thị trường chứng khoán Khác với ngân hàng, cung cấp vốn gián tiếp từ người tiết kiệm đến doanh nghiệp, thị trường chứng khoán cho phép huy động vốn trực tiếp Ngân hàng chủ yếu cung cấp vốn ngắn hạn, trong khi vốn dài hạn thường được huy động qua thị trường chứng khoán Đối với các công ty có triển vọng phát triển nhanh, thị trường chứng khoán là nguồn cung cấp vốn dài hạn hiệu quả nhất, giúp các doanh nghiệp này phát triển nhờ vào sản phẩm mới, công nghệ cao và sức cạnh tranh mạnh mẽ.

Thị trường tài chính Việt Nam, đặc biệt là thị trường chứng khoán, đang thu hút sự chú ý của nhiều nhà đầu tư và công ty chứng khoán nước ngoài Ông Andy Ho từ Vina Capital nhận định rằng hệ thống chính trị của Việt Nam là ổn định nhất trong khu vực châu Á, điều này sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng của các công ty niêm yết và chưa niêm yết Thêm vào đó, ông Louis Nguyen, Giám đốc Lion Capital, cho biết với dân số hơn 84 triệu người và chỉ 5% dân số có tài khoản ngân hàng, tiềm năng phát triển tài chính của Việt Nam rất lớn, khiến quốc gia này trở thành điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư và tổ chức tài chính quốc tế.

Thị trường chứng khoán, một phần quan trọng của thị trường vốn, đã trải qua hơn 7 năm hoạt động kể từ khi ra đời vào tháng 7/2000 Thị trường này đã chứng kiến nhiều giai đoạn thăng trầm, từ những ngày đầu "đìu hiu" cho đến sự phát triển mạnh mẽ vào cuối năm 2006 và đầu năm 2007.

Từ năm 2007 đến nay, chỉ số chứng khoán đã giảm mạnh, nhưng thị trường đã có những bước phát triển đáng kể về cả chất lượng và số lượng.

$ V ề khuôn kh ổ pháp lu ậ t: Mặc dù thị trường chứng khoán tại Thành phố

Hồ Chí Minh bắt đầu giao dịch chứng khoán từ ngày 20/7/2000, nhưng phải đến cuối năm 2006, Luật chứng khoán mới được ban hành Luật này, được Quốc hội khóa XI thông qua vào ngày 23/6/2006 và có hiệu lực từ 1/1/2007, đánh dấu một sự kiện quan trọng trong lịch sử phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam Ngay sau đó, Nghị định liên quan cũng được ban hành.

Ngày đăng: 11/10/2021, 21:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Noly Trần Hồ biên dịch (2001), Thị trường chứng khoán, Phân tích và chiến lược, Nhà xuất bản Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường chứng khoán, Phân tích và chiến lược
Tác giả: Noly Trần Hồ
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống Kê
Năm: 2001
2. TS Đào Lê Minh chủ biên (2002), Giáo trình những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Tác giả: TS Đào Lê Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2002
3. PGS.TS Nguyễn Đăng Nam (2006), Phân tích và đầu tư chứng khoán, Nhà xuất bản Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích và đầu tư chứng khoán
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Đăng Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2006
4. TS Trần Đắc Sinh (2002), Định mức tín nhiệm tại Việt Nam, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định mức tín nhiệm tại Việt Nam
Tác giả: TS Trần Đắc Sinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2002
5. PGS Trần Ngọc Thơ chủ biên, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp hiện đại (2005), Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tài chính doanh nghiệp hiện đại
Tác giả: PGS Trần Ngọc Thơ
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2005
6. PGS.TS. Bùi Kim Yến (2007), Phân tích và Đầu tư chứng khoán, Nhà xuất bản Thống kê.II. VĂN BẢN PHÁP LUẬT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích và Đầu tư chứng khoán
Tác giả: PGS.TS. Bùi Kim Yến
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2007
2. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 128/2007/QĐ-THị TRƯờNGg ngày 02 tháng 8 năm 2007 về Về việc phê duyệt Đề án phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 128/2007/QĐ-THị TRƯờNGg
Năm: 2007
3. Thông tư của Bộ Tài chính số 21/2004/THị TRƯờNG-BTC ngày 24/3/2004 về việc hướng dẫn việc đấu thầu trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu Chính quyền địa phương qua thị trường giao dịch chứng khoán tập trung Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư của Bộ Tài chính số 21/2004/THị TRƯờNG-BTC
Năm: 2004
1. Nghị định của Chính phủ số 52/2006/NĐ-CP ngày 19/5/2006 về phát hành trái phiếu doanh nghiệp Khác
4. Quyết định 46/2006/QĐ-BTC ban hành ngày 6/9/2006 của Bộ Tài chính về phát hành trái phiếu theo lô lớn Khác
5. Quyết định 2276/QĐ-BTC ngày 20/6/2006 về việc tập trung đấu thầu trái phiếu Chính phủ tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà NộiIII. TÀI LIỆU KHÁC Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2: Đường cong lãi suất dạng dốc - Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp 2
Hình 1.2 Đường cong lãi suất dạng dốc (Trang 13)
Hình 1.3: Đường cong lãi suất dạng đảo ngược - Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp 2
Hình 1.3 Đường cong lãi suất dạng đảo ngược (Trang 14)
Bảng 1.1: Quy mô trái phiếu tại Hàn Quốc - Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp 2
Bảng 1.1 Quy mô trái phiếu tại Hàn Quốc (Trang 26)
Bảng 1.3: Quy mô thị trường trái phiếu của một số quốc gia - Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp 2
Bảng 1.3 Quy mô thị trường trái phiếu của một số quốc gia (Trang 28)
Bảng 2.2: Quy mô thị trường chứng khoán Việt Nam đến 15/5/2008 - Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp 2
Bảng 2.2 Quy mô thị trường chứng khoán Việt Nam đến 15/5/2008 (Trang 38)
Bảng 2.3: Quy mô giao dịch chứng khoán từ 1/1/2007 đến 31/12/2007 - Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp 2
Bảng 2.3 Quy mô giao dịch chứng khoán từ 1/1/2007 đến 31/12/2007 (Trang 40)
Bảng 3.1: Ký hiệu định mức tín nhiệm dài hạn doanh nghiệp - Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp 2
Bảng 3.1 Ký hiệu định mức tín nhiệm dài hạn doanh nghiệp (Trang 66)
Bảng 3. 2: Các mã đánh giá trái phiếu cơ bản - Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp 2
Bảng 3. 2: Các mã đánh giá trái phiếu cơ bản (Trang 67)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN