1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế ở việt nam

65 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 602,5 KB

Cấu trúc

  • A. MỞ ĐẦU (6)
    • 1. Tính cấp thiết của đề tài (6)
    • 2. Mục tiêu và nhiệm vụ khóa luận (6)
    • 3. Phương pháp nghiên cứu (7)
    • 4. Kết cấu đề tài (7)
  • B. NỘI DUNG (8)
  • Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KÝ KẾT, GIA NHẬP VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ (8)
    • 1.1. Khái niệm điều ước quốc tế (8)
      • 1.1.1. Định nghĩa điều ước quốc tế (8)
      • 1.1.2. Các đặc trưng của điều ước quốc tế (9)
    • 1.2. Ký kết điều ước quốc tế (16)
      • 1.2.1. Thẩm quyền ký kết điều ước quốc tế (16)
      • 1.2.2. Trình tự ký kết điều ước quốc tế (17)
    • 1.3. Gia nhập điều ước quốc tế (29)
    • 1.4. Thực hiện điều ước quốc tế (31)
      • 1.4.1. Nguyên tắc thực hiện điều ước quốc tế (31)
      • 1.4.2. Giải thích điều ước quốc tế (32)
      • 1.4.3. Công bố và đăng ký điều ước quốc tế (34)
      • 1.4.4. Thực hiện điều ước quốc tế (36)
  • Chương 2: THỰC TRẠNG KÝ KẾT, GIA NHẬP VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM GIẢI QUYẾT VƯỚNG MẮC (38)
    • 2.1.1. Giai đoạn từ năm 1945-1986 (38)
    • 2.1.2. Giai đoạn từ 1986 đến trước khi Luật kí kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 có hiệu lực (ngày 01tháng 01 năm 2006) (40)
    • 2.2. Tình hình ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế ở Việt Nam (41)
      • 2.2.1. Đối với điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết, gia nhập (41)
      • 2.2.2. Tình hình thực hiện điều ước quốc tế ở Việt Nam (53)
    • 2.3. Những vướng mắc trong việc kí kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế ở Việt Nam và một số kiến nghị (56)
      • 2.3.1. Những vướng mắc trong việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế ở Việt Nam (56)
      • 2.3.2. Một số kiến nghị nhằm giải quyết vướng mắc trong việc ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế ở Việt Nam (59)
    • C. KẾT LUẬN (63)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (64)

Nội dung

NỘI DUNG

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KÝ KẾT, GIA NHẬP VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ 1.1 Khái niệm điều ước quốc tế

1.1.1 Định nghĩa điều ước quốc tế

Theo Điều 2, khoản 1 của Công ước viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969, "điều ước" được định nghĩa là một thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia, được điều chỉnh bởi pháp luật quốc tế Điều ước này có thể được thể hiện trong một văn kiện duy nhất hoặc trong nhiều văn kiện liên quan, bất kể tên gọi cụ thể của nó.

Công ước viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969 chỉ tập trung vào hình thức của điều ước quốc tế mà không đề cập đến nội dung Ngoài ra, Công ước này chỉ công nhận các quốc gia là chủ thể của điều ước, bỏ qua các chủ thể khác trong luật quốc tế như các dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết và các tổ chức quốc tế liên chính phủ.

Theo Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam năm 2005, điều ước quốc tế được định nghĩa là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết hoặc gia nhập nhân danh nhà nước hoặc chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của pháp luật quốc tế Định nghĩa này không phụ thuộc vào tên gọi như hiệp ước, công ước, hay thỏa thuận, tuy nhiên, nó vẫn chưa làm rõ nội dung cụ thể của điều ước quốc tế.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KÝ KẾT, GIA NHẬP VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ

Khái niệm điều ước quốc tế

1.1.1 Định nghĩa điều ước quốc tế

Theo Điều 2, khoản 1 của Công ước viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969, "điều ước" được định nghĩa là thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia, được điều chỉnh bởi pháp luật quốc tế, có thể được ghi nhận trong một hoặc nhiều văn kiện liên quan, bất kể tên gọi của nó.

Công ước viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969 chỉ quy định về hình thức mà không đề cập đến nội dung của điều ước quốc tế Ngoài ra, Công ước này chỉ công nhận các quốc gia là chủ thể của điều ước, trong khi không xem xét đến các chủ thể khác của luật quốc tế như các dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết và các tổ chức quốc tế liên chính phủ.

Theo Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam năm 2005, điều ước quốc tế được định nghĩa là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết hoặc gia nhập nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của pháp luật quốc tế Định nghĩa này không phụ thuộc vào tên gọi như hiệp ước, công ước, hay thỏa thuận Mặc dù định nghĩa đã tương đối đầy đủ, nhưng vẫn chưa xác định rõ nội dung của điều ước quốc tế.

Điều ước quốc tế là thỏa thuận bằng văn bản giữa các chủ thể của luật quốc tế, chủ yếu là các quốc gia, được ký kết trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng Mục đích của điều ước này là thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý trong quan hệ quốc tế.

1.1.2 Các đặc trưng của điều ước quốc tế

Điều ước quốc tế có những đặc điểm riêng biệt giúp phân biệt nó với các văn kiện quốc tế khác và các văn bản pháp lý quốc gia Để được công nhận là điều ước quốc tế, văn kiện pháp lý quốc tế cần phải đáp ứng một số tiêu chí đặc trưng nhất định.

Chủ thể của ĐƯQT chủ yếu là các quốc gia, tuy nhiên, Điều 3 của Công ước Viên 1969 khẳng định rằng công ước này không áp dụng cho các hiệp định quốc tế giữa các quốc gia và các chủ thể khác của pháp luật quốc tế, cho thấy rằng các chủ thể khác cũng có thể ký kết ĐƯQT Công ước Viên 1986 đã công nhận năng lực ký kết điều ước của các tổ chức quốc tế, và một số phong trào giải phóng dân tộc cũng được công nhận là thành viên của hiệp định quốc tế, mặc dù với mức độ hạn chế.

Điều ước quốc tế chủ yếu tồn tại dưới hình thức văn bản, và các điều ước quân tử (bất thành văn) gần như không còn phổ biến trong quan hệ quốc tế hiện nay Khi xem xét đặc trưng về hình thức của điều ước quốc tế, cần lưu ý đến tên gọi, cơ cấu và ngôn ngữ sử dụng trong các điều ước này.

Điều ước quốc tế, một thuật ngữ pháp lý chung, tương tự như "văn bản quy phạm pháp luật" trong hệ thống pháp luật quốc gia, dùng để chỉ các văn bản pháp luật quốc tế được ký kết bởi hai hoặc nhiều chủ thể luật quốc tế.

Việc xác định tên gọi cho một điều ước quốc tế phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên liên quan Tùy thuộc vào phạm vi và nội dung, điều ước có thể mang nhiều tên gọi như hiệp ước, công ước, định ước, nghị định thư, hay hiệp định Tên gọi không quyết định xem một văn bản có phải là điều ước quốc tế hay không, và luật quốc tế không quy định bắt buộc về tên gọi Tuy nhiên, việc đặt tên cần tuân theo những thông lệ nhất định để đảm bảo tính hợp lệ và sự công nhận trong quan hệ quốc tế.

Công ước là các điều ước quốc tế đa phương với nhiều thành viên, bao gồm những văn bản quan trọng như Công ước Viên 1969 về luật điều ước quốc tế, Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG 1980), Công ước về Sử dụng giao dịch điện tử trong hợp đồng quốc tế, và Công ước năm 1982 về Luật biển.

Các điều ước quốc tế song phương và khu vực thường được gọi là Hiệp ước hoặc Hiệp định, ví dụ như Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương và Hiệp định hợp tác tài chính giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Liên bang Đức năm 2010.

Nghị định thư luôn gắn liền với các Hiệp định, có nhiệm vụ sửa đổi hoặc bổ sung cho các điều ước quốc tế đã ký kết trước đó Ví dụ, Nghị định thư bổ sung cho thỏa thuận giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Liên bang Nga về việc tái đầu tư một phần nợ từ khoản tín dụng Nhà nước trước đây do Liên Xô cung cấp, nhằm đảm bảo phần góp vốn của phía Nga.

Xí nghiệp liên doanh Việt - Nga "Visorutex" do Việt Nam ký kết với Liên bang Nga vào ngày 21 tháng 11 năm 2011,…

Hiến chương là văn bản pháp lý mang tính chính trị cao, nó thường được gắn với 1 tổ chức quốc tế nhất định như: Hiến chương Liên hợp quốc

- Về cơ cấu của điều ước quốc tế: Về mặt cơ cấu,ĐƯQT bao gồm 3 phần: lời nói đầu, phần nội dung chính và phần cuối cùng

Lời nói đầu của ĐƯQT là phần mở đầu quan trọng, không được chia thành chương mục hay điều khoản, và không xác định quyền và nghĩa vụ của các bên Phần này thường ghi nhận lý do, mục đích, nguyên tắc ký kết ĐƯQT, tên gọi các bên, và bối cảnh dẫn đến việc ký kết.

Lời nói đầu có giá trị pháp lý tương đương với nội dung chính của văn bản, đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích các quy định của điều ước trong phần chính.

Phần nội dung chính của điều ước là phần quan trọng nhất, được chia thành các chương, mục, điều và khoản nhằm điều chỉnh các quan hệ giữa các bên Nội dung này ghi nhận cụ thể quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong điều ước.

Ký kết điều ước quốc tế

1.2.1.Thẩm quyền ký kết điều ước quốc tế

Tất cả các quốc gia đều có quyền ký kết điều ước quốc tế, nhưng trong thực tế, một số quốc gia có thể từ chối hoặc ủy quyền cho quốc gia khác thực hiện quyền này, như Hiệp ước liên minh thuế quan giữa Thụy Sỹ và Liechtenstein năm 1923, trong đó Thụy Sỹ ký các điều ước quốc tế thay mặt cho Liechtenstein Ngoài ra, trong một số trường hợp nhất định, cộng đồng Châu Âu cũng có thể đại diện cho các quốc gia thành viên ký kết một số điều ước quốc tế.

* Các tổ chức quốc tế:

Các tổ chức quốc tế ký kết các điều ước quốc tế dựa trên chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình, thể hiện quyền năng của chủ thể luật quốc tế.

* Một số thực thể đặc biệt trong quan hệ quốc tế:

Như: Tòa thánh Vaticăng, Đài Loan, Hồng Kông, Ma cao cũng tham gia ký kết một số điều ước quốc tế nhất định

Khi ký kết các điều ước quốc tế, các chủ thể thực hiện thông qua các đại diện của mình mà không cần thư ủy nhiệm, bao gồm đại diện đương nhiên.

- Nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu chính phủ, bộ trưởng bộ ngoại giao trong mọi hoạt động liên quan đến việc ký kết điều ước quốc tế;

Người đứng đầu các cơ quan đại diện ngoại giao có trách nhiệm thông qua văn bản của điều ước quốc tế giữa nước cử cơ quan và nước sở tại.

- Những người thay mặt cho quốc gia tại các hội nghị quốc tế hoặc tại tổ chức quốc tế

Ngoài các đại diện đã nêu, các bộ trưởng và người đứng đầu các cơ quan ngang bộ cũng có quyền ký kết các điều ước quốc tế trong lĩnh vực quản lý của mình Đối với những đại diện cần có thư ủy nhiệm khi tham gia ký kết, họ phải xuất trình thư ủy nhiệm đó.

Theo khoản 1, Điều 2 của Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam năm 2005, điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập là thỏa thuận được thực hiện nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc các chủ thể khác của luật quốc tế Điều này khẳng định tính hợp pháp và quyền hạn của Việt Nam trong việc tham gia vào các thỏa thuận quốc tế, thể hiện cam kết của đất nước đối với cộng đồng quốc tế.

Trong lĩnh vực pháp lý quốc tế, điều ước quốc tế được ký kết dưới danh nghĩa Nhà nước hoặc Chính phủ đều có giá trị pháp lý như nhau, vì chúng đều phản ánh sự thỏa thuận giữa các chủ thể luật quốc tế Sự phân biệt giữa hai danh nghĩa này chủ yếu ảnh hưởng đến quá trình thực hiện điều ước sau này Theo Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam năm 2005, các hành vi ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế được thực hiện bởi Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, hoặc các đại diện được ủy quyền từ các Bộ, ngành chức năng trong hệ thống chính trị của Việt Nam.

1.2.2 Trình tự ký kết điều ước quốc tế

Trình tự ký kết điều ước quốc tế là một quá trình phức tạp, bao gồm nhiều giai đoạn Trong quá trình này, các bên tham gia ký kết thực hiện các bước cần thiết để đảm bảo rằng các thỏa thuận của họ có giá trị pháp lý và phát sinh hiệu lực.

Theo quy định của Công ước viên 1969 về luật điều ước quốc tế cũng như Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước của Việt Nam năm

2005 và thực tiễn ký kết điều ước quốc tế giữa các quốc gia, việc ký kết điều ước quốc tế gồm các giai đoạn (các bước) sau đây:

- Soạn thảo và thông qua văn bản;

- Ký kết điều ước quốc tế;

- Phê chuẩn hoặc phê duyệt

Trình tự ký kết điều ước quốc tế có thể khác nhau tùy thuộc vào nội dung và thỏa thuận giữa các bên tham gia Một số điều ước quan trọng sẽ trải qua tất cả các giai đoạn từ đàm phán đến ký kết, trong khi những điều ước không quan trọng hơn có thể chỉ cần thực hiện giai đoạn đàm phán, soạn thảo và ký kết.

1.2.2.1 Đàm phán Đàm phán để ký kết điều ước quốc tế sẽ được tiến hành thông qua các cá nhân, các phái đoàn đại diện của quốc gia hoặc các chủ thể khác của luật quốc tế theo thõa thuận của các bên ký kết Pháp luật của tất cả các quốc gia đều quy định trình tự, thẩm quyền đàm phán, ký kết điều ước quốc tế Theo đó, nếu những người đại diện, thay mặt các quốc gia đàm phán theo sự ủy quyền của Nguyên thủ quốc gia, Thủ tướng Chính phủ hoặc của các cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật của quốc gia đó khi đi đàm phán phải có thư ủy quyền (letters patentes)

Theo Điều 2, khoản 1 của Công ước viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969, "thư ủy quyền" là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của một quốc gia ban hành, nhằm chỉ định một hoặc nhiều cá nhân đại diện cho quốc gia đó trong việc đàm phán, thông qua hoặc xác thực văn bản của một điều ước Văn bản này ghi nhận sự đồng ý của quốc gia đối với các nghĩa vụ của điều ước và thực hiện các công việc liên quan khác.

Việc lập và trao thư ủy quyền cho người đại diện quốc gia là một bước quan trọng, mặc dù không phải là giai đoạn ký kết điều ước quốc tế Thư ủy quyền xác nhận tư cách đại diện cho quốc gia trong việc đàm phán, thông qua văn bản điều ước, xác thực nội dung của điều ước, và thể hiện sự đồng ý của quốc gia chịu ràng buộc theo điều ước quốc tế, theo quy định tại Điều 7 của Công ước Vienna 1969.

Theo Công ước Vienna 1969, các vị trí như Nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu Chính phủ, Bộ trưởng Bộ ngoại giao, Trưởng đoàn ngoại giao và đại diện quốc gia tại hội nghị quốc tế không cần thư ủy nhiệm khi thực hiện ký kết các điều ước quốc tế Quy định về thẩm quyền cấp thư ủy nhiệm thuộc về pháp luật của từng quốc gia.

Theo Điều 22, 23 của Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, một số cá nhân không cần giấy ủy nhiệm khi tham gia đàm phán, ký kết hoặc tham dự hội nghị quốc tế liên quan đến điều ước quốc tế.

Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, cùng với người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài, không cần giấy ủy quyền để tiến hành đàm phán và ký kết các văn bản điều ước quốc tế với nước tiếp nhận.

Gia nhập điều ước quốc tế

Theo Công ước viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969, gia nhập điều ước quốc tế được định nghĩa là hành vi quốc tế của một quốc gia, thể hiện sự đồng ý của quốc gia đó trong việc chịu sự ràng buộc bởi điều ước quốc tế.

Theo Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam năm 2005, gia nhập là hành vi pháp lý do Quốc hội, Chủ tịch nước hoặc Chính phủ thực hiện, nhằm chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế nhiều bên đối với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong trường hợp Việt Nam không ký điều ước đó, bất kể điều ước đã có hiệu lực hay chưa.

Gia nhập điều ước quốc tế là hành động tự nguyện của một quốc gia, cho phép quốc gia đó trở thành thành viên của một điều ước quốc tế mà họ chưa ký kết.

Gia nhập Điều ước quốc tế (ĐƯQT) có thể diễn ra sau khi thời hạn ký kết đã hết hoặc khi ĐƯQT đã có hiệu lực Các điều kiện và thủ tục gia nhập được quy định bởi chính ĐƯQT Thực tế cho thấy, việc gia nhập có thể thực hiện bằng cách gửi công hàm xin gia nhập đến quốc gia bảo quản hoặc ban thư ký của tổ chức quốc tế, hoặc cử đại diện ký trực tiếp vào văn bản Thẩm quyền gia nhập ĐƯQT được quy định bởi luật quốc gia, theo Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam năm 2005.

“1 Quốc hội quyết nghị gia nhập điều ước quốc tế hiều bên theo đề nghị của Chủ tịch nước

2 Chủ tịch nước quyết nghị gia nhập điều ước quốc tế nhiều bên nhân danh nhà nước, điều ước quốc tế nhiều bên có quy định phải phê chuẩn, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này

3 Chính phủ quyết định gia nhập điều ước quốc tế nhiều bên nhân danh chính phủ” (khoản 1, 2, 3 Điều 53)

Quyết định gia nhập điều ước quóc tế của Việt Nam phải có các nội dung sau đây:

Quyết định gia nhập điều ước quốc tế nhiều bên cần bao gồm các nội dung chính như: tên điều ước, thời gian và địa điểm ký kết; nội dung bảo lưu và phản đối bảo lưu của các bên ký kết; quyết định áp dụng trực tiếp điều ước; và trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc hoàn tất thủ tục gia nhập và thực hiện điều ước.

Khi một quốc gia chính thức gia nhập điều ước quốc tế, quốc gia đó trở thành thành viên của ĐƯQT đó và phải tuân thủ đầy đủ nội dung mà không có quyền yêu cầu sửa đổi hay bổ sung điều khoản nào Tuy nhiên, các thành viên vẫn có quyền bảo lưu theo quy định của điều ước.

Thực hiện điều ước quốc tế

1.4.1.Nguyên tắc thực hiện điều ước quốc tế

Việc thực hiện điều ước quốc tế là trách nhiệm của các bên trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý đã được ghi nhận Các thành viên tham gia điều ước phải tuân thủ nguyên tắc tận tâm và thiện chí, được gọi là "pacta sunt servanda" Nguyên tắc này là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật điều ước quốc tế, được quy định tại Điều 26 của Công ước Viên.

Năm 1969, "tất cả điều ước có hiệu lực ràng buộc các thành viên và phải được các thành viên tự nguyện thi hành với thiện chí." Sự tận tâm và thiện chí của các chủ thể ký kết không chỉ là cơ sở mà còn là đảm bảo quan trọng để họ tự ràng buộc mình thực hiện các nghĩa vụ theo luật điều ước, bao gồm cả luật ĐƯQT Việc không thi hành ĐƯQT chỉ được phép trong một số trường hợp cụ thể và theo những điều kiện nghiêm ngặt, chẳng hạn như cắt đứt quan hệ ngoại giao hoặc quan hệ lãnh sự theo quy định tại Điều 63 của Công ước Viên.

Năm 1969, việc cắt đứt quan hệ ngoại giao hoặc lãnh sự giữa các quốc gia thành viên của một số điều ước không ảnh hưởng đến các quan hệ pháp lý mà điều ước thiết lập Trong một mức độ nhất định, sự tồn tại của các quan hệ ngoại giao hoặc lãnh sự là cần thiết để thực thi các điều ước này.

Các thành viên của điều ước quốc tế không thể biện minh cho việc không thực hiện các cam kết trong điều ước bằng cách viện dẫn sự khác biệt giữa điều ước và luật quốc gia của họ.

Nguyên tắc tận tâm và thiện chí trong việc thực hiện cam kết quốc tế chỉ áp dụng cho các điều ước quốc tế (ĐƯQT) có hiệu lực, tức là những điều ước được ký kết tự nguyện và trên cơ sở bình đẳng Điều ước bất bình đẳng vi phạm chủ quyền quốc gia và Hiến chương Liên hợp quốc, vì Liên hợp quốc được thành lập dựa trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia thành viên Tất cả các quốc gia đã cam kết phát triển quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc, tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc.

1.4.2 Giải thích điều ước quốc tế

* Khái niệm giải thích điều ước quốc tế

Giải thích ĐƯQT là quá trình làm rõ nội dung thực sự của điều ước, nhằm giúp các bên thực hiện điều ước một cách đầy đủ và chính xác Mục tiêu của việc này là tránh hiểu lầm và mâu thuẫn trong quá trình thực hiện Qua đó, giải thích điều ước giúp các bên nhận thức đúng và thực hiện đúng tinh thần của điều ước đã ký kết Đối tượng được giải thích bao gồm ĐƯQT mà các bên tham gia ký kết và các văn bản phụ lục kèm theo (nếu có).

* Chủ thể giải thích điều ước

Chủ thể giải thích điều ước bao gồm hai loại: chủ thể giải thích chính thức và chủ thể giải thích không chính thức

Chủ thể giải thích chính thức trong luật quốc tế bao gồm các quốc gia và tổ chức quốc tế có thẩm quyền giải thích điều ước khi được ủy quyền Những chủ thể này sẽ cung cấp văn bản giải thích có tính chất bắt buộc cho các bên liên quan Theo Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam năm 2005, Ủy ban thường vụ Quốc hội có quyền tự giải thích hoặc giải thích theo đề nghị từ các cơ quan như Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và các tổ chức liên quan khác.

Chủ thể giải thích không chính thức bao gồm cá nhân, cơ quan và tổ chức như luật quốc gia và viện nghiên cứu pháp luật Kết quả của các giải thích này chỉ mang tính chất tham khảo và không có giá trị bắt buộc đối với các bên tham gia điều ước.

* Quy tắc chung của giải thích

Theo quy định tại Điều 31 Công ước viên 1969, giải thích điều ước phải được tiến hành theo các quy tắc sau đây:

- Giải thích phải thiện chí, phù hợp với nội dung nguyên bản của điều ước, đồng thời chú trọng đến đối tượng và mục đích của điều ước;

- Giải thích mọi thỏa thuận liên quan đến điều ước đã được tất cả các bên thông qua;

Trong quá trình giải thích điều ước, cần xem xét mọi thỏa thuận giữa các bên về cách hiểu và thực hiện các quy định của điều ước Đồng thời, mọi thực tiễn được các bên thống nhất trong quá trình thực hiện cũng phải được tính đến Ngoài ra, các quy tắc pháp luật quốc tế phù hợp cũng cần được áp dụng trong quan hệ giữa các bên.

Giải thích ĐƯQT có thể thực hiện theo các phương pháp sau đây:

Giải thích theo văn phạm là quá trình phân tích cấu trúc của văn bản diều ước, bao gồm việc xem xét cấu tạo câu, ý nghĩa từ ngữ và nguồn gốc của các thuật ngữ được sử dụng trong điều ước.

Giải thích theo logic là quá trình phân tích văn bản điều ước bằng cách so sánh các điều khoản của điều ước, đối chiếu từng điều khoản giải thích với nội dung cụ thể của điều ước theo một trật tự hợp lý.

Giải thích theo thực tiễn là phương pháp giải thích điều ước quốc tế đa phương, chú trọng đến các hoạt động tiếp theo của các bên ký kết, đặc biệt trong quá trình thực hiện các điều ước.

Giải thích theo tài liệu trù bị là quá trình sử dụng các tài liệu liên quan trực tiếp đến việc ký kết điều ước, như thư điện trao đổi và các văn bản dự thảo, nhằm làm rõ ý định của các bên tham gia ký kết.

1.4.3 Công bố và đăng ký điều ước quốc tế

* Công bố điều ước quốc tế

Công bố Điều ước quốc tế (ĐƯQT) là trách nhiệm của Ban Thư ký Liên hợp quốc đối với các ĐƯQT của tổ chức này Theo Điều 69 của Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam năm 2005, quy định rõ về quy trình và trách nhiệm liên quan đến việc công bố các điều ước quốc tế.

Điều ước quốc tế có hiệu lực tại Việt Nam sẽ được công bố trên Công báo và niêm giám điều ước quốc tế, trừ khi có thỏa thuận khác giữa Việt Nam và bên ký kết nước ngoài hoặc quyết định khác từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

THỰC TRẠNG KÝ KẾT, GIA NHẬP VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM GIẢI QUYẾT VƯỚNG MẮC

Ngày đăng: 16/09/2021, 17:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 05 tháng 04 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ : “Về tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với công tác điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với công tác điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế
7. Giáo trình Luật quốc tế, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Nxb chính trị quốc gia, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật quốc tế
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
8. Giáo trình Luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội. Nxb giáo dục, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật quốc tế
Nhà XB: Nxb giáo dục
9. Báo cáo công tác tương trợ tư pháp giai đoạn 2007 – 2010, Bộ tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác tương trợ tư pháp giai đoạn 2007 – 2010
10. Đặng Hoàng Oanh, Vụ hợp tác quốc tế - Bộ tư pháp: “Thực trạng và nhu cầu ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp của Việt Nam” lấy từ: URL: http://moj.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực trạng và nhu cầu ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp của Việt Nam”" lấy từ: URL
12. Thanh Chương (2011): “Tuân thủ Công ước Luật biển năm 1982 – yêu cầu cấp thiết trong hoạt động biển hiện nay” lấy từ: URL: http://biengioi lanhtho.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tuân thủ Công ước Luật biển năm 1982 – yêu cầu cấp thiết trong hoạt động biển hiện nay”" lấy từ: URL
Tác giả: Thanh Chương
Năm: 2011
1. Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khác
3. Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước quốc tế giữa các quốc gia Khác
4. Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam năm 2005 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w