1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trách nhiệm dân sự do không thực hiện hợp đồng theo bộ luật dân sự 2005

57 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trách Nhiệm Dân Sự Do Không Thực Hiện Hợp Đồng Theo Bộ Luật Dân Sự 2005
Tác giả Nguyễn Thị Trà Giang
Người hướng dẫn THS. Nguyễn Thị Thanh
Trường học Đại học Vinh
Chuyên ngành Luật: Tư Pháp
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 775,99 KB

Cấu trúc

  • A. PHẦN MỞ ĐẦU (7)
    • 1. Lý do chọn đề tài (7)
    • 2. Tình hình nghiên cứu đề tài (8)
    • 3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu (9)
    • 4. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (9)
    • 5. Kết cấu của luận văn (10)
  • B. PHẦN NỘI DUNG (10)
  • CHƯƠNG 1 CƠ SỞ Ý LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO KHÔNG THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG (10)
    • 1.1. Khái niệm trách nhiệm dân sự và trách nhiệm dân sự do không thực hiện hợp đồng (10)
    • 1.2. Đặc điểm của trách nhiệm dân sự do không thực hiện hợp đồng (11)
    • 1.3. Lịch sử chế định trách nhiệm dân sự do không thực hiện hợp đồng trong dân luật Việt Nam (13)
    • 1.4. Các trường hợp không thực hiện hợp đồng phải áp dụng trách nhiệm dân sự (16)
  • CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO KHÔNG THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG (21)
    • 2.1. Quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về trách nhiệm dân sự do không thực hiện hợp đồng (21)
      • 2.1.1. Chế tài áp dụng trong các trường hợp không thực hiện hợp đồng phải áp dụng trách nhiệm dân sự (21)
      • 2.1.2. Trường hợp miễn trách nhiệm dân sự do không thực hiện hợp đồng. 270 2.2. Thực tiễn xét xử các vụ án liên quan đến không thực hiện hợp đồng (33)
    • 3.1. Yêu cầu đối với việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về trách nhiệm dân sự do không thực hiện hợp đồng (46)
    • 3.2. Một số kiến nghị pháp lý nhắm hoàn thiện quy định của pháp luật về trách nhiệm dân sự do không thực hiện hợp đồng (47)
    • 3.3. Một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng xét xử về trách nhiệm dân sự do không thực hiện hợp đồng tại Tòa án (0)
    • C. PHẦN KẾT LUẬN (55)
    • D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO (56)

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Hợp đồng dân sự là một giao dịch cơ bản và thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân và tổ chức trong xã hội Nó được hình thành từ sự thỏa thuận tự nguyện giữa các bên, nhằm chuyển giao lợi ích vật chất và tinh thần, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và tiêu dùng Để có hiệu lực pháp luật, hợp đồng cần tuân thủ các quy định của nhà nước và pháp luật.

Hợp đồng dân sự là một loại quan hệ pháp lý thiết yếu trong mọi xã hội, và khi được ký kết hợp pháp, nó cần phải được thực hiện đúng theo các điều khoản đã thỏa thuận.

(như nội dung giao kết) thì lợi ích của các bên khi thiết lập hợp đồng mới được thỏa mãn

Theo Luật dân sự Việt Nam, việc thực hiện hợp đồng hợp pháp là nguyên tắc cơ bản được Nhà nước bảo vệ Tuy nhiên, thực tế cho thấy ngày càng nhiều hợp đồng đã ký kết nhưng không được thực hiện, đặc biệt trong bối cảnh phát triển phức tạp của các mối quan hệ xã hội và hình thức giao dịch Do đó, cần làm rõ trách nhiệm dân sự của các bên khi không thực hiện hợp đồng.

Formatted: Font: Times New Roman, 14 pt

Với sự ban hành Bộ Luật Dân Sự mới, vấn đề giao kết hợp đồng nói chung đã được thống nhất trong Bộ Luật Dân Sự năm 2005 (BLDS năm 2005)

Nhiều hợp đồng hợp pháp không được thực hiện, gây khó khăn cho các đương sự và Tòa án trong việc áp dụng pháp luật Các vấn đề pháp lý phát sinh thường không có hướng giải quyết rõ ràng, một phần do quy định pháp luật chưa minh bạch và có sự chồng chéo giữa các văn bản Hơn nữa, một số quy định có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, dẫn đến sự không thống nhất trong thực tiễn Do đó, việc nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật liên quan là rất cần thiết.

Dựa trên cơ sở nghiên cứu về trách nhiệm dân sự do không thực hiện hợp đồng theo Bộ Luật Dân Sự 2005, bài viết này nhằm tìm hiểu các quy định pháp luật và thực tiễn xét xử tại Việt Nam liên quan đến vấn đề này Từ đó, tác giả sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành trong lĩnh vực trách nhiệm dân sự.

Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở Việt Nam, BLDS năm 2005 và Luật thương mại 2005 (LTM năm

Luật hiện hành năm 2005 quy định về xử lý việc không thực hiện hợp đồng, tuy nhiên vẫn còn thiếu tính nhất quán Số lượng công trình nghiên cứu liên quan đến các quy định này rất hạn chế Trách nhiệm dân sự do không thực hiện hợp đồng chủ yếu chỉ được đề cập trong một số công trình nghiên cứu như chuyên đề, luận văn tốt nghiệp Cử nhân, luận văn Thạc sĩ và một vài bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành.

Bài viết "Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng" của luật sư Trần Việt, đăng trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 198 vào tháng 7 năm 2011, tập trung vào các khía cạnh pháp lý liên quan đến trách nhiệm dân sự trong hợp đồng Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về các vấn đề pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện hợp đồng, góp phần nâng cao hiểu biết về trách nhiệm của các bên liên quan.

Đề tài “Vấn đề thực hiện không đúng hợp đồng trong pháp luật thực định Việt Nam” là một báo cáo tổng kết của đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ Nghiên cứu này tập trung vào các khía cạnh pháp lý liên quan đến việc thực hiện hợp đồng, những khó khăn và bất cập trong việc áp dụng luật, cũng như các giải pháp nhằm cải thiện tình hình thực thi hợp đồng tại Việt Nam.

Formatted: Font: Times New Roman, 14 pt

Ts Đỗ Văn Đại- Phó trưởng khoa luật dân sự trường Đại học luật thành phố

Các công trình nghiên cứu hiện tại chưa thực sự đi sâu và toàn diện vào pháp luật điều chỉnh trách nhiệm dân sự liên quan đến việc không thực hiện hợp đồng Nội dung này chỉ đề cập đến một phần trong nghĩa vụ hợp đồng chung, dẫn đến việc thiếu tính bao quát và toàn diện về trách nhiệm dân sự trong luật dân sự Việt Nam hiện hành.

Mục đích và phạm vi nghiên cứu

Mục đích của đề tài là nghiên cứu các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về trách nhiệm dân sự liên quan đến việc không thực hiện hợp đồng Đề tài sẽ xác định các hành vi vi phạm hợp đồng cần áp dụng chế tài dân sự, các loại chế tài có thể được áp dụng, cũng như những trường hợp mà pháp luật cho phép miễn trách nhiệm Bên cạnh đó, đề tài cũng sẽ phân tích những bất cập và hạn chế trong quy định hiện hành.

Bài viết này tập trung nghiên cứu các quy định về trách nhiệm dân sự và hợp đồng dân sự trong Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005, nhằm đưa ra các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật Đồng thời, tác giả sẽ liên hệ và so sánh với một số nội dung của Luật Thương mại (LTM) năm 2005 để làm rõ hơn các vấn đề liên quan.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các quy định của BLDS 2005 về trách nhiệm dân sự và hợp đồng dân sự

Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, cùng với phép biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lê Nin Ngoài ra, tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật cũng là nền tảng quan trọng trong quá trình nghiên cứu.

Formatted: Font: Times New Roman, 14 pt

Các phương pháp được áp dụng trong đề tài bao gồm phương pháp tổng hợp, phân tích và so sánh đối chiếu nhằm thể hiện rõ nội dung của nghiên cứu.

Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 3 chương :

PHẦN NỘI DUNG

Chương 2 Thực trạng của pháp luật và thực tiễn xét xử các vụ án về trách nhiệm dân sự do không thực hiện hợp đồng

Chương 3 Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét xử tranh chấp về không thực hiện hợp đồng.

CƠ SỞ Ý LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO KHÔNG THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG

Khái niệm trách nhiệm dân sự và trách nhiệm dân sự do không thực hiện hợp đồng

không thực hiện hợp đồng

Ngày nay, mọi hoạt động của cá nhân đều phải tuân theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của mọi chủ thể Khi những lợi ích này bị xâm phạm, họ có quyền yêu cầu bồi thường và đền bù xứng đáng Để bảo vệ những lợi ích này, pháp luật dân sự đã thiết lập các quy tắc và chế tài, trong đó trách nhiệm dân sự là yếu tố buộc mọi người phải tuân theo.

Trách nhiệm dân sự được hiểu khách quan là tổng hợp các quy định pháp luật liên quan đến các căn cứ và điều kiện phát sinh trách nhiệm, năng lực chịu trách nhiệm, phương thức thực hiện trách nhiệm, cũng như hậu quả pháp lý khi áp dụng trách nhiệm dân sự.

Formatted: Centered, Level 1 Formatted: Centered Formatted: Centered, Level 1

Formatted: Font: Times New Roman, 14 pt

Trách nhiệm dân sự là biện pháp cưỡng chế áp dụng cho những người vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Mục tiêu của trách nhiệm dân sự là buộc người vi phạm thực hiện nghĩa vụ hoặc bồi thường thiệt hại để khôi phục quyền lợi cho nạn nhân.

Trách nhiệm dân sự phát sinh từ việc không thực hiện hợp đồng là hậu quả pháp lý đối với bên vi phạm, bao gồm các biện pháp cưỡng chế áp dụng nhằm bảo vệ quyền lợi của bên có quyền Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, bên có quyền có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước can thiệp để buộc bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ Do đó, trách nhiệm dân sự thể hiện mối quan hệ pháp lý giữa bên có quyền và bên có nghĩa vụ, trong đó bên vi phạm sẽ bị pháp luật cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ của mình.

Vi phạm nghĩa vụ được coi là hành vi vi phạm pháp luật, với các biện pháp cưỡng chế nhằm tác động đến ý thức tự giác của các chủ thể Những biện pháp này cũng giúp xác định trách nhiệm, làm cơ sở cho việc áp dụng khi xảy ra vi phạm nghĩa vụ dân sự.

Đặc điểm của trách nhiệm dân sự do không thực hiện hợp đồng

Trách nhiệm dân sự do không thực hiện hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý, có những đặc điểm chung như: chỉ áp dụng khi có hành vi vi phạm pháp luật và đối với người vi phạm; là hình thức cưỡng chế của nhà nước do cơ quan có thẩm quyền thực hiện; và luôn dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi cho người vi phạm.

Ngoài những đặc điểm đã nêu trên, trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ không thực hiện hợp đồng còn có những đặc điểm riêng biệt :

Formatted: Font: Times New Roman, 14 pt

Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng chỉ phát sinh khi giữa bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại có một hợp đồng hợp pháp, tức là hợp đồng đáp ứng các điều kiện hiệu lực theo quy định của pháp luật Theo Bộ luật Dân sự hiện hành, trách nhiệm này được quy định trong chế định hợp đồng, và chỉ tồn tại khi có sự vi phạm một hoặc nhiều nghĩa vụ trong hợp đồng Điều này khác với trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, nơi mà trách nhiệm phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật dân sự, không phụ thuộc vào bất kỳ hợp đồng nào giữa các bên.

Nội dung trách nhiệm trong hợp đồng phụ thuộc vào thỏa thuận giữa các bên hoặc quy định của pháp luật Các bên có quyền thống nhất về hậu quả khi vi phạm nghĩa vụ và dự liệu các chế tài áp dụng khi xảy ra tranh chấp Khi có vi phạm hợp đồng, trách nhiệm dân sự của bên vi phạm sẽ dựa trên các nội dung đã thỏa thuận trước đó Nếu không có thỏa thuận về chế tài, trách nhiệm sẽ được xử lý theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005.

Hành vi vi phạm pháp luật trong trách nhiệm dân sự thể hiện rõ qua việc người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình.

Khi ký kết hợp đồng, cả hai bên đều có mục tiêu và lợi ích riêng Hành vi vi phạm pháp luật trong quan hệ hợp đồng xảy ra khi bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng cam kết, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên còn lại, điều này được pháp luật bảo vệ.

Formatted: Font: Times New Roman, 14 pt

Trách nhiệm dân sự phát sinh từ việc không thực hiện hợp đồng chủ yếu liên quan đến tài sản, vì lợi ích mà các bên hướng tới trong quan hệ nghĩa vụ thường mang tính chất tài sản Việc vi phạm nghĩa vụ của một bên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích vật chất của bên kia Do đó, người vi phạm có trách nhiệm bù đắp cho bên bị vi phạm những lợi ích vật chất đã mất.

Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ hợp đồng vào thứ năm là người vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ đã cam kết hoặc bồi thường thiệt hại Điều này nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của bên bị vi phạm và khắc phục những thiệt hại vật chất mà họ phải gánh chịu.

Trách nhiệm dân sự do không thực hiện hợp đồng là một chế tài quan trọng trong quan hệ nghĩa vụ, nhằm đảm bảo các bên tham gia tự giác thực hiện nghĩa vụ của mình Luật không chỉ khuyến khích sự tự giác mà còn thiết lập các biện pháp cưỡng chế để tác động đến ý thức của các chủ thể, đồng thời áp dụng khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự.

Lịch sử chế định trách nhiệm dân sự do không thực hiện hợp đồng trong dân luật Việt Nam

đồng trong dân luật Việt Nam

Trong thời kỳ phong kiến, luật dân sự Việt Nam không được quy định trong một bộ luật độc lập mà nằm trong các điều khoản của các bộ luật phong kiến như Lê triều hình luật (Luật Hồng Đức) và Nguyễn triều hình luật (Hoàng Việt luật lệ).

Luật phong kiến Việt Nam không xem Hợp đồng như một nội dung độc lập mà chỉ tồn tại dưới dạng khế ước, được phân tán trong một số điều luật khác nhau.

Bộ Quốc Triều Hình Luật quy định về vấn đề này ở Chương tạp lục, tức là cũng không có phần riêng về khế ước Tại Điều 588 của Quốc Triều

Theo quy định của Hình Luật, nếu nợ quá hạn mà không thanh toán, người nợ có thể bị xử phạt tùy theo mức độ vi phạm Nếu bên có nghĩa vụ từ chối trả nợ, họ sẽ bị xử phạt nặng hơn, bao gồm việc bồi thường gấp đôi số tiền nợ Ngoài ra, nếu sau thời gian quy định, bên có quyền không yêu cầu đòi nợ nữa thì sẽ mất quyền đòi nợ.

Formatted: Font: Times New Roman, 14 pt

Theo Điều 590, nếu người vay nợ trốn tránh, người bảo lãnh phải trả tiền gốc thay cho họ, và nếu có thỏa thuận trước đó về người trả nợ, người đó sẽ chịu trách nhiệm như người mắc nợ Ngoài ra, nếu người mắc nợ có con cái, khoản nợ có thể được đòi từ họ Điều 591 quy định rằng nếu người đòi nợ tự ý lấy tài sản của người mắc nợ mà không thông qua cơ quan có thẩm quyền, họ sẽ bị xử phạt nếu vượt quá số tiền trong hợp đồng, và tài sản thu hồi sẽ được trả lại cho người mắc nợ sau khi trừ khoản nợ Trong thời kỳ thực dân Pháp, trách nhiệm dân sự được quy định bởi Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Hoàng Việt Trung Kỳ, tách biệt với trách nhiệm hình sự, nhưng vẫn chưa phân định rõ ràng giữa trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ trong và ngoài hợp đồng Điều này thể hiện qua quy định rằng bất kỳ ai gây thiệt hại cho người khác do lỗi của mình đều phải bồi thường.

(Điều 712 Bộ luật Bắc Kỳ và Điều 761 Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật)

Trong thời kỳ cận đại, quan hệ hợp đồng tại Việt Nam được điều chỉnh bởi hai văn bản chính, bao gồm Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ban hành năm 1989.

Pháp lệnh về hợp đồng dân sự năm 1991 quy định trách nhiệm đối với việc không thực hiện hợp đồng tại Điều 43 và Điều 44 Cụ thể, Điều 43 nêu rõ rằng bên có lỗi trong việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng phải chịu trách nhiệm vi phạm Điều 44 quy định rằng nếu một bên không thực hiện hợp đồng, bên đó phải thực hiện theo yêu cầu của bên kia và bồi thường thiệt hại Nội dung này cũng được đề cập trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, đặc biệt là Điều 29, nơi khẳng định rằng các bên phải chịu trách nhiệm tài sản trực tiếp với nhau về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng kinh tế.

Bên vi phạm hợp đồng phải trả cho bên bị vi phạm tiền phạt vi phạm hợp

Theo quy định, trong trường hợp vi phạm hợp đồng, mức tiền phạt có thể từ 2% đến 12% giá trị hợp đồng bị vi phạm Hội đồng bộ trưởng sẽ quy định cụ thể mức phạt dựa trên loại vi phạm Bên cạnh đó, tiền bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tài sản bị mất mát, hư hỏng, chi phí ngăn chặn thiệt hại do vi phạm, cùng với tiền phạt và bồi thường cho bên thứ ba do vi phạm gây ra.

Bên vi phạm nghĩa vụ thanh toán sẽ phải chịu phạt vi phạm hợp đồng, với mức phạt tương ứng bằng lãi suất tín dụng quá hạn theo quy định pháp luật.

Các văn bản pháp luật trước đây thường chồng chéo và mâu thuẫn, gây khó khăn trong việc áp dụng Để khắc phục, năm 1995, Quốc Hội đã thông qua Bộ luật Dân sự (có hiệu lực từ 1 tháng 7 năm 1996), trong đó quy định rõ về trách nhiệm dân sự liên quan đến hợp đồng Cụ thể, Điều 311 quy định rằng nếu người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ giao vật đặc định, người có quyền có thể yêu cầu giao đúng vật đó hoặc bồi thường thiệt hại nếu vật không còn hoặc bị hư hỏng Điều 312 quy định về trách nhiệm khi không thực hiện công việc: người có quyền có thể tự thực hiện hoặc thuê người khác làm và yêu cầu bồi thường chi phí Nếu người có nghĩa vụ làm công việc không được phép, người có quyền có thể yêu cầu chấm dứt và khôi phục tình trạng ban đầu.

Formatted: Font: Times New Roman, 14 pt

BLDS năm 1995 đã khắc phục nhiều bất cập của các văn bản pháp luật trước đó, nhưng vẫn gặp khó khăn trong việc áp dụng do không theo kịp sự phát triển của kinh tế và xã hội, đặc biệt là trong quan hệ hợp đồng Điều này dẫn đến sự ra đời của BLDS năm 2005 để đáp ứng các yêu cầu mới Trong BLDS năm 2005, trách nhiệm dân sự do không thực hiện hợp đồng được quy định rõ ràng tại mục 3, với các điều khoản cụ thể như Điều 302 về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự, Điều 303 về trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ giao vật, và Điều 304 về trách nhiệm dân sự liên quan đến việc thực hiện hoặc không thực hiện một công việc.

Tính đến nay, Bộ luật Dân sự năm 2005 là văn bản pháp luật chủ yếu điều chỉnh quan hệ hợp đồng dân sự và trách nhiệm dân sự liên quan đến việc không thực hiện hợp đồng Tuy nhiên, giống như các văn bản trước, bên cạnh những ưu điểm, Bộ luật này cũng gặp phải những thách thức trong việc đáp ứng yêu cầu của thực tiễn ngày càng phức tạp Việc đánh giá những gì mà Bộ luật hiện hành đã làm được và những gì còn thiếu đang là vấn đề được nghiên cứu và xem xét kỹ lưỡng.

Các trường hợp không thực hiện hợp đồng phải áp dụng trách nhiệm dân sự

Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ là hình thức trách nhiệm pháp lý áp dụng đối với những cá nhân không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết Đây là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước nhằm bảo đảm việc thực hiện các quy định pháp luật, đồng thời xử lý những hành vi vi phạm gây ra hậu quả pháp lý bất lợi cho người vi phạm Điều 302 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định rõ về trách nhiệm này.

Theo quy định năm 2005, bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền Nguyên tắc này khẳng định rằng người vi phạm nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm trước bên có quyền và có thể phải bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi cho người có nghĩa vụ, cần có các biện pháp đảm bảo hợp lý.

Formatted: Font: Not Italic Formatted: Font: Not Italic

Để xác định hành vi vi phạm nghĩa vụ của người có nghĩa vụ và buộc họ phải chịu trách nhiệm, cần lưu ý rằng bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu có thể chứng minh rằng việc không thực hiện nghĩa vụ hoàn toàn là do lỗi của người có quyền Ngoài ra, nghĩa vụ dân sự cũng không thể thực hiện được nếu do sự kiện bất khả kháng.

Trách nhiệm dân sự phát sinh từ việc vi phạm nghĩa vụ dân sự, là biện pháp cưỡng chế đối với bên vi phạm trong một quan hệ nghĩa vụ tồn tại Nghĩa vụ dân sự là yếu tố có trước, trong khi trách nhiệm dân sự chỉ hình thành sau khi xảy ra vi phạm Khi các bên thực hiện nghĩa vụ đúng hạn và tự giác, quan hệ nghĩa vụ được duy trì; ngược lại, khi có vi phạm, quan hệ trách nhiệm sẽ phát sinh Do đó, trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng hoặc không thực hiện nghĩa vụ giữa các bên được gọi là “trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ”.

Các bên có nghĩa vụ dân sự kể từ khi quan hệ nghĩa vụ được xác lập, nhưng trách nhiệm dân sự chỉ phát sinh khi một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của mình Theo Bộ luật Dân sự năm 2005, hành vi vi phạm nghĩa vụ, cụ thể là không thực hiện hợp đồng, phải chịu trách nhiệm dân sự trong hai trường hợp Thứ nhất là "không thực hiện nghĩa vụ giao vật" theo Khoản 2, Điều 304 BLDS năm 2005.

“không thực hiện nghĩa vụ phải làm một việc hoặc không được làm một công việc” (Khoản 1, Điều 304 BLDS năm 2005) a Không thực hiện nghĩa vụ giao vật

Hợp đồng giao vật là một loại hợp đồng phổ biến trong đời sống, liên quan đến việc thực hiện các hành vi cụ thể Việc thực hiện hợp đồng đòi hỏi các bên phải triển khai đầy đủ các nội dung đã cam kết, đảm bảo hoàn thành nghĩa vụ của mình để bảo vệ quyền lợi cho tất cả các bên liên quan.

Việc không thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật có thể dẫn đến trách nhiệm dân sự trong hợp đồng Để thực hiện nghĩa vụ giao vật, cần căn cứ vào tính chất của vật Nếu vật là đặc định, người có nghĩa vụ phải giao đúng vật đó với các đặc trưng riêng như kí hiệu, hình dáng, màu sắc, chất liệu, và vị trí Nếu vật không còn hoặc bị hư hỏng, người có nghĩa vụ phải thanh toán giá trị của vật và bồi thường thiệt hại khác nếu có, theo quy định tại Khoản 1, Điều 304.

Theo Điều 305 Bộ luật Dân sự năm 2005, nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ giao vật đặc định, bên có quyền có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ giao đúng vật đó Trong trường hợp vật không còn tồn tại hoặc bị hư hỏng, bên có nghĩa vụ phải thanh toán giá trị của vật.

Ví dụ: A kí hợp đồng cho B thuê một căn nhà mặt đường rộng 40m 2 để

B mở quán ăn Hai bên thỏa thuận đến tháng 4- 2000 thì A giao nhà cho B

Tháng 4 – 2000, khi B đã chuẩn bị đồ chuyển căn nhà được thuê theo giá thỏa thuận với A thì lúc này A vẫn đang cho người khác thuê với giá rất cao A không chịu giao nhà cho B như thỏa thuận trước đó B rất bất bình đòi A phải bồi thường cho B vì A không giao nhà là vật đặc định như nội dung hợp đồng

Trong trường hợp này, A vi phạm nghĩa vụ bằng cách không giao vật theo thỏa thuận với B Do đó, A có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho B vì B không thể mở quán theo kế hoạch đã định.

Khi giao vật cùng loại, nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện được, họ phải thanh toán giá trị vật và bồi thường thiệt hại (nếu có) Đối tượng nghĩa vụ phải đảm bảo đúng số lượng, chất lượng và quy cách theo thỏa thuận, cùng với việc giao đúng địa điểm, thời gian và phương thức như hợp đồng đã quy định Điều này được quy định tại khoản 2 Điều 304 BLDS.

Formatted: Font: Times New Roman, 14 pt nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ giao vật cùng loại thì phải thanh toán giá trị của vật”

Từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2007, vợ chồng anh L và chị T đã thuê 2 chiếc máy bơm nước công suất lớn từ vợ chồng chị H để phục vụ tưới cà phê Tuy nhiên, đến tháng 12 năm 2007, khi chị H yêu cầu vợ chồng chị T trả lại máy bơm để cho người khác thuê như đã thỏa thuận, vợ chồng chị T đã không thực hiện và viện lý do liên quan đến việc tưới cà phê.

Phê của nhà chị chưa tưới xong Ngày 17-12-2007 vợ chồng chị H có đơn kiện đến Toà án yêu cầu vợ chồng anh L phải giao 2 máy bơm nước cho chị H

Tòa án tối cao xét hợp đồng thuê tài sản giữa anh L và anh M ngày 2-12-

Năm 2007, thực chất là một thỏa thuận thuê mướn tài sản Yêu cầu của vợ chồng chị H có cơ sở pháp lý vững chắc, phù hợp với quy định của pháp luật, nhằm buộc vợ chồng anh phải thực hiện nghĩa vụ liên quan đến thỏa thuận này.

L thực hiện nghĩa vụ trả tài sản là hai máy bơm nước cho vợ chồng chị H

Khi người có nghĩa vụ không thực hiện việc giao vật theo thỏa thuận hoặc quy định pháp luật, họ phải thanh toán giá trị của vật và bồi thường thiệt hại nếu có Điều này có nghĩa là bên vi phạm không chỉ phải giao vật mà còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên có quyền, theo quy định: “trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều này mà gây thiệt hại cho bên có quyền thì ngoài việc thanh toán giá trị của vật còn phải bồi thường thiệt hại cho bên có quyền.”

(Khoản 3, Điều 304 BLDS năm 2005) b Không thực hiện nghĩa vụ phải làm một việc hoặc không đƣợc làm một công việc

Khi các bên trong quan hệ dân sự đạt thỏa thuận về việc thực hiện một công việc, bên có nghĩa vụ cần tuân thủ các nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ như đúng đối tượng, đúng địa điểm và đúng phương thức theo thỏa thuận hoặc quy định pháp luật.

THỰC TRẠNG CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO KHÔNG THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG

Quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về trách nhiệm dân sự do không thực hiện hợp đồng

do không thực hiện hợp đồng

2.1.1 Chế tài áp dụng trong các trường hợp không thực hiện hợp đồng phải áp dụng trách nhiệm dân sự

Trách nhiệm dân sự phát sinh khi một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hợp đồng hợp pháp, họ sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật Bên có quyền có thể áp dụng các chế tài đối với bên có nghĩa vụ để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ hoặc khắc phục hậu quả vi phạm.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự hiện hành, khi có vi phạm hợp đồng, các chế tài áp dụng bao gồm buộc thực hiện hợp đồng, bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng Mỗi chế tài này có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích hợp pháp của các bên trong hợp đồng Trong đó, biện pháp buộc thực hiện hợp đồng là cách thức đảm bảo rằng các bên thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết.

Khi một bên không thực hiện hợp đồng, biện pháp xử lý cần được ưu tiên theo thứ tự có lợi nhất cho các bên, khuyến nghị các bên áp dụng các giải pháp hợp lý Hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ hợp đồng không phải là lựa chọn tối ưu, vì điều này sẽ không đáp ứng được mục đích mà các bên đã ký kết, đặc biệt là bên có quyền Do đó, buộc thực hiện hợp đồng là biện pháp đầu tiên giúp các bên đạt được lợi ích mà họ mong muốn.

Buộc thực hiện hợp đồng là trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, trong đó bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo yêu cầu của bên bị vi phạm.

Căn cứ để áp dụng chế tài buộc thực hiện hợp đồng là hành vi vi phạm hợp đồng Khi yêu cầu thực hiện hợp đồng, bên yêu cầu không cần chứng minh thiệt hại, vì việc buộc thực hiện hợp đồng là hệ quả của hiệu lực ràng buộc hợp pháp Bên có nghĩa vụ phải cung cấp lợi ích cho bên có quyền, và bên có quyền chỉ cần chứng minh rằng lợi ích mong đợi chưa được cung cấp Điều này khác với biện pháp buộc bồi thường thiệt hại, nơi không có thiệt hại thì không cần bồi thường.

Ngay cả khi có vi phạm nghiêm trọng, biện pháp này vẫn có thể được áp dụng, cho phép hợp đồng tiếp tục thực hiện mà không bị hủy bỏ.

Formatted: Font: Times New Roman, 14 pt

Biểu hiện của việc áp dụng chế tài buộc thực hiện hợp đồng bao gồm việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng hoặc áp dụng các biện pháp khác như tự sửa chữa khuyết tật hàng hóa, mua hàng hóa từ bên thứ ba hoặc yêu cầu bên vi phạm phải chịu phí tổn phát sinh Theo Điều 297 LTM năm 2005, bên bị vi phạm có quyền lựa chọn yêu cầu bên vi phạm thực hiện hợp đồng đúng cam kết hoặc chọn biện pháp khác để đảm bảo hợp đồng được thực hiện Chế tài này áp dụng khi có vi phạm về số lượng, chất lượng hàng hóa hoặc yêu cầu kỹ thuật Nếu bên vi phạm giao hàng thiếu hoặc kém chất lượng, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu giao đủ hàng hóa hoặc sửa chữa khuyết tật Nếu bên vi phạm không thực hiện yêu cầu, bên bị vi phạm có quyền mua hàng hóa từ bên khác và bên vi phạm phải bù chênh lệch giá, hoặc tự sửa chữa và yêu cầu bên vi phạm thanh toán chi phí hợp lý.

Vấn đề thực hiện hợp đồng có sự điều chỉnh khác nhau giữa các hệ thống luật Tại các nước theo hệ thống dân luật, hợp đồng được coi là có giá trị bắt buộc, do đó, nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên kia thực hiện Quan điểm này dẫn đến việc áp dụng chế tài buộc thực hiện hợp đồng.

Trong các quốc gia theo hệ thống pháp luật thông luật, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được ưu tiên áp dụng trước, chỉ khi biện pháp này không hiệu quả hoặc không phù hợp thì mới chuyển sang áp dụng trách nhiệm buộc thực hiện hợp đồng.

Trong pháp luật dân sự Việt Nam, trách nhiệm thực hiện hợp đồng không phải luôn được áp dụng như một nguyên tắc hiển nhiên Theo Điều 302 BLDS năm 2005, quy định chỉ áp dụng cho nghĩa vụ giao vật đặc định Điều này đặt ra câu hỏi liệu trong các trường hợp khác, bên có quyền có thể yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ hay không, và liệu điều này có phù hợp với quy định pháp luật hay không Sự thiếu rõ ràng trong quy định dẫn đến lúng túng cho các bên tham gia hợp đồng, đặc biệt trong việc buộc bồi thường thiệt hại.

Trong Bộ luật Dân sự năm 2005, khái niệm về bồi thường thiệt hại trong hợp đồng chưa được định nghĩa rõ ràng Tuy nhiên, Luật Thương mại năm 2005 đã đề cập đến vấn đề này, mặc dù chưa cụ thể: "Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm" (Khoản 1, Điều 320 Luật Thương mại năm 2005).

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng được xác định dựa trên nghĩa vụ dân sự giữa các bên trong hợp đồng Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng cam kết, họ sẽ phải bồi thường cho bên kia Điều này khác với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, phát sinh từ nghĩa vụ dân sự theo quy định của luật dân sự, không liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng Việc xác định trách nhiệm bồi thường dựa trên quy định chung của luật dân sự.

Formatted: Font: Times New Roman, 14 pt

Trong trường hợp xe tải chở hàng theo hợp đồng vận chuyển giữa chủ xe và chủ hàng, nếu xảy ra sự cố trên đường do lỗi của chủ xe tải, có thể dẫn đến thiệt hại cho hàng hóa, cũng như thiệt hại về xe và người của một người đi xe máy.

Chủ xe tải phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng vận chuyển hàng hóa đối với thiệt hại của chủ hàng, đồng thời cũng phải bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đối với thiệt hại của người đi xe máy.

Trong pháp luật dân sự hiện hành, việc áp dụng trách nhiệm dân sự gặp khó khăn do thiếu quy định rõ ràng về bồi thường thiệt hại trong các điều khoản hợp đồng Theo Bộ luật Dân sự năm 2005, có bốn căn cứ để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại: hành vi vi phạm, lỗi của bên vi phạm, thiệt hại thực tế, và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại Tuy nhiên, Luật Thương mại năm 2005 lại không coi lỗi là yếu tố cần thiết để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Theo Điều 294 của Luật Thương mại năm 2005, trách nhiệm bồi thường chỉ phát sinh khi có hành vi vi phạm hợp đồng, thiệt hại thực tế xảy ra, và hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.

Yêu cầu đối với việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về trách nhiệm dân sự do không thực hiện hợp đồng

trách nhiệm dân sự do không thực hiện hợp đồng

Việc giải quyết tranh chấp hợp đồng của các chủ thể có thẩm quyền hiện đang gặp nhiều khó khăn do những vướng mắc trong hệ thống pháp luật Để khắc phục thực trạng này, việc xây dựng một hành lang pháp lý hoàn thiện, đầy đủ và ổn định là yêu cầu cần thiết.

Quá trình áp dụng pháp luật cho thấy sự không thống nhất giữa luật chung và luật riêng gây khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp, đặc biệt trong việc xác định tính hợp lệ của các căn cứ pháp lý Để cải thiện tình hình, luật cần phải đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ, điều này là yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo sự bền vững và hiệu quả của hệ thống pháp luật Việc xây dựng Bộ luật Dân sự năm 2005 theo hướng là bộ luật gốc giúp các luật chuyên ngành không cần phải quy định lại những vấn đề đã được quy định trong bộ luật này.

Bộ luật Dân sự hiện hành chỉ quy định về những vấn đề chưa được đề cập hoặc những đặc thù trong các loại hợp đồng như hợp đồng tín dụng, thuê mua, viễn thông và chuyển giao công nghệ Thực tiễn cho thấy sự chồng chéo và thiếu thống nhất giữa luật chung và luật riêng gây khó khăn cho người xử lý, đồng thời làm giảm sự tin tưởng của các bên trong quan hệ nghĩa vụ khi tranh chấp xảy ra.

Cần sửa đổi và hoàn thiện các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2005 nhằm tôn trọng quyền tự do hợp đồng của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác Trong nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự, quyền tự do hợp đồng phải được coi là một nguyên tắc cứng, cho phép các bên tự do giao kết và tự định đoạt hợp đồng trong khuôn khổ pháp luật.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay pháp luật hợp đồng của Việt

Nam chưa tương thích với pháp luật và tập quán thương mại quốc tế Ở Việt

Việt Nam chưa chính thức công nhận án lệ, tập quán và thông lệ thương mại như là nguồn của pháp luật hợp đồng Để hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng, cần đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời phù hợp với thể chế thị trường và các cam kết, luật pháp, thông lệ quốc tế.

Việc hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm dân sự liên quan đến việc không thực hiện hợp đồng là rất cần thiết và đòi hỏi sự đầu tư hợp lý Để đạt được mục tiêu này, cần xác định rõ các yêu cầu hiện tại và tuân thủ chặt chẽ những yêu cầu đó.

Một số kiến nghị pháp lý nhắm hoàn thiện quy định của pháp luật về trách nhiệm dân sự do không thực hiện hợp đồng

luật về trách nhiệm dân sự do không thực hiện hợp đồng

Một là, thống nhất các văn bản pháp luật Việt Nam về hợp đồng

Formatted: Font: Times New Roman, 14 pt

Pháp luật hợp đồng Việt Nam gặp một số tồn tại, trong đó Bộ luật Dân sự năm 2005 được xem là "bộ luật gốc" điều chỉnh các quan hệ cơ bản và thiết lập quy tắc chung Tuy nhiên, các luật chuyên ngành khác cần phải được xây dựng dựa trên nền tảng này để đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả trong việc áp dụng pháp luật.

Năm 2005 và LTM năm 2005 vẫn còn nhiều điểm khác biệt, do đó cần sửa đổi và bổ sung các văn bản pháp luật chuyên ngành liên quan đến hợp đồng để phù hợp với Bộ luật Dân sự hiện hành Mặc dù nguyên tắc chung là ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành khi có sự khác biệt với luật chung, nhưng các quy định của luật chuyên ngành phải làm rõ hơn về vấn đề cụ thể mà không được mâu thuẫn với luật chung, đồng thời phải tuân thủ các nguyên tắc và tinh thần mà luật chung đã đề ra.

Trách nhiệm trả lãi suất và lãi suất nợ quá hạn được quy định bởi Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Thương mại năm 2005 và các văn bản hướng dẫn khác của Ngân hàng Nhà nước Tuy nhiên, ba loại văn bản này chưa có sự thống nhất trong cách tiếp cận, đặc biệt là trong việc tính lãi suất cho các trường hợp khác nhau, gây khó khăn trong việc áp dụng và giải thích pháp luật Do đó, cần có quy định bao quát trong BLDS, đồng thời "dành" một số không gian cho các văn bản luật khác để quy định cụ thể cho từng trường hợp, đảm bảo tính hợp lý và thực tiễn, đồng thời tuân thủ cách tiếp cận mà BLDS năm 2005 đã đề ra.

Hai là, hoàn thiện các quy định của BLDS năm 2005 về phạt vi phạm hợp đồng

Chế định hợp đồng trong BLDS năm 2005 đã có nhiều điểm vượt trội so với BLDS năm 1995 và Pháp lệnh Hợp đồng dân sự 1991, tuy nhiên trong

Theo quy định của BLDS năm 2005, việc phạt vi phạm hợp đồng không được coi là một loại trách nhiệm dân sự, mặc dù đây là hình thức trách nhiệm phổ biến trong đời sống hàng ngày Điều này cho thấy sự khác biệt giữa các loại trách nhiệm dân sự và cách thức áp dụng phạt vi phạm hợp đồng trong thực tiễn.

Điều luật độc lập xác định mối quan hệ giữa việc phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại được đề cập trong Điều 422 của Bộ luật Dân sự năm 2005.

Luật thương mại năm 2005 quy định rõ về mối quan hệ giữa phạt vi phạm và trách nhiệm dân sự tại Điều 307, trong khi Bộ luật dân sự năm 1995 cũng đã đề cập đến vấn đề này tại Điều 379 Do đó, cần nhận thức rằng phạt vi phạm là một hình thức trách nhiệm dân sự có liên quan chặt chẽ với các loại trách nhiệm khác Việc xếp phạt vi phạm vào phần trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ là cần thiết, đồng thời cần bổ sung quy định về mối quan hệ giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại như đã được quy định trong Bộ luật dân sự năm 1995.

Ba là, hoàn thiện quy định về các trường hợp miễn trừ trách nhiệm dân sự

Các căn cứ miễn trừ trách nhiệm trong hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật Thương mại 2005 có sự khác biệt, dẫn đến cần thiết phải thống nhất giữa các văn bản pháp luật Để hạn chế mâu thuẫn, việc xây dựng quy định về căn cứ miễn trách nhiệm trong một văn bản hướng dẫn của Bộ luật Dân sự năm 2005 nên được thực hiện, nhằm phù hợp với các quy định hợp lý và cụ thể của Luật Thương mại 2005.

Để đảm bảo sự tôn trọng giữa các bên trong hợp đồng và ngăn chặn việc bên có lợi thế lợi dụng điều khoản miễn trách nhiệm, cần bổ sung các điều kiện nhất định Việc xem xét tính hợp lý của thỏa thuận giữa các bên là cần thiết để xác định liệu nó có thể trở thành căn cứ miễn trách nhiệm hay không Một thỏa thuận bất hợp lý, thiếu công bằng sẽ không đáp ứng đủ điều kiện pháp lý để được công nhận là căn cứ miễn trách nhiệm.

Sự kiện bất khả kháng là một trong những căn cứ miễn trách nhiệm dân sự phổ biến trong thực tế Theo nguyên tắc pháp luật chung, các sự kiện như thiên tai được xem là sự kiện bất khả kháng, ảnh hưởng đến khả năng thực hiện nghĩa vụ.

Các quy định về sự kiện bất khả kháng trong Bộ luật Dân sự năm 2005 còn thiếu sự cụ thể và tập trung, dẫn đến khó khăn trong việc miễn trách nhiệm dân sự trong hợp đồng Để cải thiện, cần có các điều kiện rõ ràng hơn, như sự kiện bất khả kháng phải là khách quan, ngoài ý chí các bên và không thể dự đoán trước Đồng thời, hành vi vi phạm phải là kết quả của sự kiện này, và bên vi phạm phải nỗ lực khắc phục nhưng không thành công Ngoài ra, Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng chưa quy định nghĩa vụ thông báo về sự kiện bất khả kháng, trong khi việc thông báo này có thể giảm thiểu thiệt hại cho bên bị vi phạm và chứng minh tính chất bất khả kháng của sự kiện.

Bốn là, phân định rõ các quy định về trách nhiệm dân sự trong hợp đồng và ngoài hợp đồng

Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng được quy định từ điều 302 đến điều 308 của Bộ luật Dân sự năm 2005, phản ánh trách nhiệm phát sinh từ việc vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Mặc dù trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ chủ yếu liên quan đến hợp đồng, cách sắp xếp các điều luật hiện tại làm cho sự phân định giữa trách nhiệm dân sự trong hợp đồng và ngoài hợp đồng không rõ ràng Do đó, tác giả đề xuất nên xếp riêng trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng tại Mục 7 Chương XVII Phần III “Hợp đồng dân sự” của Bộ luật Dân sự năm 2005, cùng với các quy định về trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng.

Formatted: Font: Times New Roman, 14 pt ðồng tại phần trách nhiệm bồi thýờng thiệt hại ngoài hợp ðồng tại Chýõng

Điều XXI của Bộ luật Dân sự 2005 quy định cách sắp xếp riêng biệt nhằm giúp nhận diện rõ ràng các loại trách nhiệm, từ đó tránh nhầm lẫn giữa hai chế định trách nhiệm trong luật dân sự.

Năm là, việc sửa đổi quy định về lãi suất và bổ sung điều luật về quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại vào Bộ luật Dân sự là cần thiết Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên bị vi phạm, cần thiết phải có một điều luật quy định rõ ràng về quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại trong trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng Cụ thể, bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại từ bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.

Sửa đổi Khoản 5, Điều 474 BLDS năm 2005, bổ sung cụm từ “trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác” vào điều khoản này Theo đó, khoản

Điều 474 sẽ được sửa đổi để quy định rằng trong trường hợp vay có lãi, nếu bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ đúng hạn, bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố Việc bổ sung quy định này nhằm đảm bảo nguyên tắc tự do cam kết hợp đồng và sự tự thỏa thuận giữa các bên, tránh tình trạng bên cho vay không yêu cầu lãi suất hoặc áp dụng mức lãi thấp do lý do tình cảm.

3.3 Một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lƣợng xét xử về trách nhiệm dân sự do không thực hiện hợp đồng tại Tòa án

Để cải thiện những hạn chế trong thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng, cũng như giải quyết nhanh chóng tranh chấp giữa các bên, việc đưa ra các hướng đi khác nhau là điều cần thiết Tất cả các chủ thể đều mong muốn có giải pháp hiệu quả để nâng cao chất lượng quản lý hợp đồng.

Formatted: Font: Times New Roman, 14 pt pháp hay thực hiện chúng có hiệu quả không phải là điều dễ làm được thuận lợi và dễ dàng

PHẦN KẾT LUẬN

Hợp đồng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế xã hội hiện nay, là kết quả của sự thỏa thuận tự nguyện giữa các bên để chuyển giao lợi ích vật chất và tinh thần Để hợp đồng hợp pháp có hiệu lực, các bên cần thực hiện đúng nội dung thỏa thuận, đảm bảo quyền lợi cho tất cả Pháp luật dân sự Việt Nam yêu cầu các bên thực hiện nghĩa vụ đã cam kết, nhằm tránh việc trốn tránh trách nhiệm hợp pháp.

Mặc dù có sự sửa đổi nhất định, nhưng hợp đồng vẫn không được thực hiện đầy đủ, dẫn đến gia tăng tranh chấp Luật thực định hiện tại còn nhiều thiếu sót, chưa hoàn thiện để điều chỉnh trọn vẹn quan hệ hợp đồng trong bối cảnh biến đổi Do đó, việc nghiên cứu và hiểu rõ các quy định pháp luật, cũng như thực tiễn giao kết là cần thiết để các bên trong quan hệ nghĩa vụ và các chủ thể có thẩm quyền có thể nhận thức đúng bản chất hợp đồng, lường trước hệ quả và áp dụng chế tài phù hợp.

Đã có những sửa đổi nhất định, tuy nhiên vẫn cần thực hiện các điều chỉnh linh hoạt hơn để khắc phục những hạn chế và bất cập hiện tại.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trần Việt Anh,“Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 198-tháng-7-2011 ngày 10/07/2011;

• Nguyễn Mạnh Bách,“Nghĩa vụ dân sự trong luật dân sự Việt Nam”, Nxb

• Bộ Luật Dân Sự năm 1995;

• Bộ Luật Dân Sự năm 2005;

• Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, tập 2, Nxb

Công an nhân dân, Hà Nội, 2006;

• Đỗ Văn Đại, Các biện pháp xử lý việc thực hiện không đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010;

• Đỗ Văn Đại, Bình luận Bản án: Sự kiện bất khả kháng,Tạp chí KHPL số 5

• Đỗ Văn Đại, Phạt vi phạm hợp đồng trong pháp luật thực định Việt Nam,

Tạp chí Tòa án nhân dân tháng số 19-2007;

Đỗ Văn Đại trong báo cáo tổng kết đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ đã nêu rõ vấn đề không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật thực định Việt Nam.

Ngày đăng: 16/09/2021, 10:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w