Lý do nghiên cứu
Cuộc cách mạng CNTT-TT và xu thế triển khai CPĐT đang tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội toàn cầu Sự phát triển này tạo ra cơ hội cho các quốc gia thực hiện những biến đổi cơ bản và đạt được thành công lớn Trong hai thập kỷ qua, nhiều nước đã tận dụng ứng dụng CNTT để phát huy thế mạnh, nâng cao năng lực kinh tế - xã hội, từ đó tạo ra những bước tiến vượt bậc cho đất nước.
Công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) đã trở thành động lực chính thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ (KH&CN) Sự tiến bộ nhanh chóng của các công nghệ hiện đại, đặc biệt là Internet, đang tạo ra những biến đổi lớn trong tổ chức và quản lý nghiên cứu triển khai, ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống KH&CN.
Trong những năm gần đây, nhiều quốc gia đã tiến hành cải cách khu vực hành chính công nhằm xây dựng một bộ máy hành chính năng động, hiệu quả và minh bạch Mục tiêu chính là nâng cao chất lượng dịch vụ công cho người dân, tổ chức và doanh nghiệp theo mô hình Chính phủ điện tử (CPĐT).
Chính phủ điện tử (CPĐT) đã chứng minh là công cụ quan trọng để nâng cao năng lực của chính phủ, giúp hoạt động hiệu quả, minh bạch và phục vụ nhân dân tốt hơn CPĐT thể hiện xu hướng chuyển đổi từ chính phủ quản lý hành chính sang cung cấp dịch vụ công, đồng thời phản ánh sự phát triển chung của thế giới hiện nay.
Chính phủ Việt Nam đã ký Hiệp định khung ASEAN điện tử (E-ASEAN) từ năm 2000, cam kết xây dựng Chính phủ điện tử (CPĐT) Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị nhấn mạnh việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin (CNTT) nhằm giải phóng sức mạnh vật chất và trí tuệ của toàn dân, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và cải thiện chất lượng cuộc sống Kể từ đó, nhiều chương trình và dự án về tin học hóa quản lý đã được triển khai, với Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 là bước tiến quan trọng trong việc ứng dụng CNTT tại cơ quan nhà nước, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, cải cách thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công công khai, minh bạch.
Kể từ năm 1996, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đã thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ, triển khai các dự án phát triển ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) nhằm thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển CNTT của Đảng và Nhà nước Các chương trình quan trọng bao gồm Chương trình quốc gia về CNTT (1996-2000), Chương trình Tin học hóa quản lý nhà nước (2001-2005), Nghị định 64/2007/NĐ-CP về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước, cũng như các quyết định phê duyệt kế hoạch ứng dụng CNTT trong năm 2008 và giai đoạn 2009.
Mặc dù đã đạt được một số thành tựu trong việc triển khai ứng dụng CNTT hỗ trợ công tác điều hành, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần khắc phục, đặc biệt là trong việc cung cấp dịch vụ công nhằm hướng tới hình thành Chính phủ điện tử tại Bộ Khoa học và Công nghệ.
Đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT và mức độ ảnh hưởng giữa thiết chế quản lý và triển khai CNTT là cơ sở quan trọng để đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong quản lý nhà nước về KH&CN Hướng tới việc hình thành Bộ KH&CN điện tử sẽ góp phần biến KH&CN thành động lực phát triển kinh tế - xã hội.
Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chính phủ nhiều quốc gia đã phát triển hệ thống thông tin từ những năm 1970 và 1980, và từ thập niên 1990, với sự bùng nổ của Internet, khái niệm Chính phủ điện tử (CPĐT) đã ra đời Mỹ khởi xướng chương trình “Đổi mới chính phủ” từ năm 1993, Singapore có “Chính phủ nối mạng” từ 1995, Anh thực hiện dự án “Chính phủ hiện đại” từ 1997, Hàn Quốc triển khai “Người điều khiển Hàn Quốc thế kỷ XXI” từ 1998, và Nhật Bản có dự án “Thiên niên kỷ” từ 1999 Hiệp định ASEAN điện tử năm 2000 thể hiện quyết tâm thực hiện CPĐT trong 10 nước thành viên Mặc dù ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính đã được nhiều quốc gia chú trọng từ lâu, Việt Nam chỉ mới đẩy mạnh từ giữa những năm 90, với việc áp dụng có chọn lọc các thành tựu quốc tế vào thực tiễn trong bối cảnh kinh tế - xã hội và thể chế chính trị đặc thù.
+ Giai đoạn 1996-2000: Thực hiện Kế hoạch tổng thể phát triển CNTT trong Chương trình quốc gia về CNTT;
+ Giai đoạn 2001- 2005: Thực hiện Đề án tin học hoá quản lý hành chính nhà nước;
+ Giai đoạn: 2006 - nay: Thực hiện chiến lược phát triển CNTT-
Đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Việt Nam đã xác định rõ việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong các cơ quan nhà nước nhằm phục vụ công tác nghiệp vụ, quản lý và điều hành Đây là nhiệm vụ quan trọng được quán triệt qua nhiều chỉ thị và nghị định của Nhà nước và Chính phủ Nghị định 64 năm 2007 là định hướng mới nhất cho việc ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước, hướng tới hình thành Chính phủ điện tử tại Việt Nam Mặc dù có nhiều nghiên cứu về kết quả thực hiện qua từng giai đoạn, cho thấy những thành tựu nhất định, nhưng vẫn tồn tại nhiều vấn đề hạn chế kết quả ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính nhà nước.
Việc xác định khó khăn trong ứng dụng công nghệ thông tin và định hướng hình thành Chính phủ điện tử tại Bộ Khoa học và Công nghệ vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống Đồng thời, cần phân tích ảnh hưởng của các thiết chế quản lý liên quan đến hoạt động ứng dụng CNTT và đề xuất các giải pháp phù hợp.
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của các thiết chế quản lý đến việc triển khai và phát triển ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong quản lý nhà nước, đồng thời định hướng hình thành Chính phủ điện tử (CPĐT) tại Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Đề xuất giải pháp về tổ chức, quản lý và điều hành nhằm thúc đẩy ứng dụng CNTT trong quản lý nội bộ và quản lý khoa học công nghệ, hướng tới xây dựng CPĐT tại Bộ KH&CN.
Mẫu khảo sát
- Các đơn vị trực thuộc Bộ KH&CN;
- Kết quả triển khai ứng dụng CNTT vào công tác quản lý hành chính nhà nước tại một số Bộ, ngành, địa phương;
- Mô hình triển khai CPĐT của một số nước trên thế giới.
Vấn đề nghiên cứu
Hiện trạng ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong quản lý hành chính nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đang được cải thiện đáng kể Các thiết chế quản lý của nhà nước, đặc biệt là của Bộ KH&CN, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy ứng dụng CNTT và triển khai Chính phủ điện tử (CPĐT) Những chính sách và chiến lược này không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp.
Bộ KH&CN đã đề xuất nhiều giải pháp tổ chức, quản lý và điều hành nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong công tác quản lý nội bộ và quản lý KH&CN Những giải pháp này không chỉ giúp cải thiện quy trình làm việc mà còn định hướng cho việc hình thành Chính phủ điện tử tại Bộ, từ đó tối ưu hóa hoạt động quản lý và tăng cường tính minh bạch trong các hoạt động KH&CN.
Hiện trạng ứng dụng CNTT tại Bộ KH&CN:
Hạ tầng cơ sở kỹ thuật hiện tại đã đáp ứng đủ nhu cầu triển khai các dự án công nghệ thông tin (CNTT), với nhiều ứng dụng CNTT được áp dụng để hỗ trợ công tác quản lý và điều hành của Lãnh đạo Bộ, cũng như nâng cao hiệu quả công việc của các chuyên viên Mặc dù một số dịch vụ công đã được xây dựng nhưng vẫn còn ở mức sơ khai, tuy nhiên, nhận thức của cán bộ, công chức về vai trò và tác dụng của CNTT đã được cải thiện đáng kể.
Mặc dù Bộ KH&CN đã nỗ lực ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) để cải thiện năng lực điều hành và phục vụ người dân, doanh nghiệp, nhưng vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng của họ cũng như yêu cầu của Chính phủ Các thiết chế quản lý hiện có ảnh hưởng đáng kể đến việc thúc đẩy ứng dụng CNTT và định hướng hình thành Chính phủ điện tử (CPĐT) tại Bộ.
Bộ KH&CN đã thực hiện các chính sách của Nhà nước nhằm phát triển ứng dụng CNTT thông qua việc ban hành các văn bản quy định về sử dụng tài nguyên mạng và cung cấp thông tin trong hệ thống quản lý Mặc dù các thiết chế quản lý đã giúp thúc đẩy quá trình triển khai ứng dụng CNTT và CPĐT, nhưng Bộ vẫn chưa có chiến lược tổng thể và thiếu cơ sở pháp lý để triển khai hiệu quả các ứng dụng CNTT, bao gồm phân cấp quản lý, chia sẻ thông tin, và quy định chức năng của đơn vị phụ trách phát triển ứng dụng CNTT.
…), dẫn tới việc ứng dụng CNTT trong Bộ chưa thực sự hiệu quả, chưa đạt được mục tiêu đề ra của Chính phủ
Giải pháp tổ chức, quản lý, điều hành để thúc đẩy ứng dụng CNTT, hình thành CPĐT tại Bộ KH&CN
Nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện môi trường pháp lý bao gồm việc cụ thể hóa các cơ chế và chính sách phát triển công nghệ thông tin của nhà nước tại Bộ Khoa học và Công nghệ Điều này liên quan đến việc thiết lập các quy định rõ ràng về quy trình làm việc, chia sẻ thông tin, giám sát, kiểm tra và đánh giá hiệu quả hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
- Nhóm các giải pháp về phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực ứng dụng CNTT và CPĐT tại Bộ KH&CN;
- Nhóm giải pháp liên quan đến phương thức tổ chức thực hiện các dự án CNTT.
Phương pháp chứng minh giả thuyết
Đề thực hiện các nội dung nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu sau đã được sử dụng:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu được áp dụng để thu thập và phân tích các tài liệu giảng dạy lý thuyết về khoa học chính sách, kết quả nghiên cứu các đề tài và dự án liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước, cùng với các bài báo khoa học và văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
Để đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong quản lý nhà nước tại Bộ KH&CN, nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 29 đơn vị thuộc bộ này, bao gồm các khối quản lý nhà nước và đơn vị sự nghiệp Ngoài ra, đề tài cũng tham khảo ý kiến từ các chuyên gia CNTT và sử dụng các nguồn thông tin khác để phân tích và đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy ứng dụng CNTT cũng như triển khai Chính phủ điện tử tại Bộ KH&CN.
Kết cấu luận văn
Bản Luận văn gồm những nội dung chính sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận;
1.1 Các khái niệm liên quan 1.2 Tin học hóa quản lý nhà nước hướng tới “nền hành chính điện tử
1.3 Các nội dung ứng dụng CNTT phục vụ quản lý hành chính nhà nước
Kết luận Chương 1 Chương 2: Hiện trạng, xu thế triển khai ứng dụng CNTT trong công tác quản lý nhà nước và định hướng high thành CPĐT;
2.1 Tình hình triển khai ứng dụng CNTT, CPĐT tại một số nước trên thế giới
2.2 Tình hình triển khai ứng dụng CNTT, CPĐT trong các cơ quan nhà nước của Việt Nam
2.3 Tình hình triển khai ứng dụng CNTT, CPĐT ở một số Bộ, ngành tiêu biểu
2.4 Hiện trạng triển khai ứng dụng CNTT, CPĐT tại Bộ KH&CN Kết luận Chương 2
Chương 3: Các giải pháp để thiết chế quản lý có thể thúc đẩy ứng dụng CNTT trong công tác quản lý và hình thành CPĐT tại Bộ KH&CN;
3.1 Tính thích ứng của thiết chế quản lý đối với việc thúc đẩy ứng dụng CNTT, CPĐT tại Bộ KH&CN
3.2 Các giải pháp thúc đẩy phát triển ứng dụng CNTT, hình thành CPĐT tại Bộ KH&CN
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Các khái niệm liên quan
1.3 Các nội dung ứng dụng CNTT phục vụ quản lý hành chính nhà nước
Kết luận Chương 1 Chương 2: Hiện trạng, xu thế triển khai ứng dụng CNTT trong công tác quản lý nhà nước và định hướng high thành CPĐT;
2.1 Tình hình triển khai ứng dụng CNTT, CPĐT tại một số nước trên thế giới
2.2 Tình hình triển khai ứng dụng CNTT, CPĐT trong các cơ quan nhà nước của Việt Nam
2.3 Tình hình triển khai ứng dụng CNTT, CPĐT ở một số Bộ, ngành tiêu biểu
2.4 Hiện trạng triển khai ứng dụng CNTT, CPĐT tại Bộ KH&CN Kết luận Chương 2
Chương 3: Các giải pháp để thiết chế quản lý có thể thúc đẩy ứng dụng CNTT trong công tác quản lý và hình thành CPĐT tại Bộ KH&CN;
3.1 Tính thích ứng của thiết chế quản lý đối với việc thúc đẩy ứng dụng CNTT, CPĐT tại Bộ KH&CN
3.2 Các giải pháp thúc đẩy phát triển ứng dụng CNTT, hình thành CPĐT tại Bộ KH&CN
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Các khái niệm liên quan 1.1.1 Khái niệm quản lý
Quản lý được hiểu là việc đạt được mục tiêu thông qua sự phối hợp của nhiều người trong tổ chức Tổ chức, dù chính thức hay không chính thức, đều có mục tiêu chung và yêu cầu phân công lao động khoa học cùng tinh thần hợp tác cao Quản lý là yếu tố thiết yếu để thúc đẩy sự hợp tác và đạt được mục tiêu Trong bối cảnh hiện nay, với những thách thức ngày càng tăng về năng lực và uy tín, quản lý trở nên quan trọng hơn bao giờ hết để khẳng định vị thế và chuyên môn của từng tổ chức.
Quản lý được hiểu là hoạt động có tổ chức và định hướng của người quản lý nhằm tác động đến một đối tượng cụ thể, điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi con người để duy trì sự ổn định và phát triển theo các mục tiêu đã đề ra.
1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là hình thức quản lý xã hội đặc thù, thể hiện quyền lực của nhà nước thông qua việc sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực đời sống Hoạt động này được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu hợp pháp của công dân, đồng thời duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.
1.1.3 Khái niệm quản lý hành chính nhà nước
Quản lý hành chính nhà nước là một hoạt động quan trọng trong quản lý nhà nước, thực hiện quyền hành pháp của Nhà nước Hoạt động này được tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước, tác động đến các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân Các cơ quan trong hệ thống hành chính, từ chính quyền trung ương đến cơ sở, thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước nhằm duy trì và phát triển mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật, cũng như đáp ứng nhu cầu hợp pháp của con người trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Nội dung quy trình quản lý hành chính nhà nước
Lập kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu cần đạt trong tương lai cùng với các phương thức và lịch trình để thực hiện những mục tiêu đó Nội dung và phạm vi của kế hoạch được xác định dựa trên thẩm quyền liên quan.
Xây dựng và vận hành cơ cấu tổ chức là nhiệm vụ quan trọng liên quan đến việc thành lập hoặc điều chỉnh các đơn vị và cơ quan, đồng thời đưa chúng vào hoạt động hiệu quả Cần quy định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, đơn vị và thành viên, cũng như mối quan hệ giữa chúng Điều này tạo cơ sở vững chắc cho việc thực thi, đôn đốc, kiểm tra, đánh giá cán bộ và tổ chức, đặc biệt là các nhà quản lý, từ đó điều chỉnh cơ cấu tổ chức một cách hợp lý.
Quản lý và phát triển đội ngũ công chức, viên chức là việc xây dựng và thực hiện hệ thống chính sách nhằm thu hút nhân tài cho cơ quan hành chính nhà nước Để thu hút thêm nhân tài, điều quan trọng là phải sử dụng hiệu quả đội ngũ hiện tại.
Phối hợp hoạt động là nhiệm vụ quan trọng trong việc tổ chức giao tiếp nội bộ và bên ngoài của cơ quan Để đạt hiệu quả, cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị và thành viên, đồng thời thiết lập mối quan hệ hợp lý giữa chúng Hệ thống hành chính, quy trình và thủ tục nội bộ cũng đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo sự phối hợp hiệu quả.
- Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực (công sở, công sản, tài chính công…)
Giám sát, kiểm tra và đánh giá là những yếu tố quan trọng giúp các nhà quản lý hành chính nhà nước có thể đánh giá kịp thời và đầy đủ các chính sách, quyết định quản lý, năng lực của nhân viên và tổ chức, cũng như tác động từ môi trường.
1.1.4 Khái niệm thiết chế xã hội
Thiết chế xã hội là một khái niệm xã hội học [16, tr 45]
Theo J.H.Fichter, văn hóa của một dân tộc được hình thành từ những khuôn mẫu đã được định hình trong lối sống của họ Những khuôn mẫu này không chỉ thể hiện qua tác phong công khai mà còn tiềm ẩn, tự biến thành các vai trò xã hội mà con người đảm nhận Các mối quan hệ giữa con người với nhau, đặc biệt là những diễn tiến xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc định hình văn hóa này.
Fichter còn viết: “Những tương quan xã hội và những vai trò xã hội hợp thành những yếu tố chủ yếu của thiết chế.”
Fichter khẳng định rằng thiết chế là một trạng thái hoặc sự phối hợp giữa các khuôn mẫu hành vi được đa số chấp nhận, tập trung vào việc đáp ứng nhu cầu cơ bản của cộng đồng.
Gidden A, xác định rõ: “Thiết chế bao gồm những chuẩn mực và những giá trị”
Thiết chế là một phần quan trọng của văn hóa, bao gồm các chuẩn mực và giá trị, hình thành nên một hệ thống quan hệ ổn định Nó tạo ra một khuôn mẫu xã hội thể hiện sự thống nhất được xã hội công nhận, nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ bản của cộng đồng.
Chính sách xã hội là một thiết chế quan trọng, bao gồm các chuẩn mực và giá trị được tổ chức thành những khuôn mẫu hành vi được xã hội công nhận Nó đóng vai trò là công cụ để đáp ứng những nhu cầu cơ bản của cộng đồng.
Trước đây, trong nghiên cứu ở Việt Nam, hệ thống khái niệm về khoa học quản lý chủ yếu dựa vào các lý thuyết của Liên Xô và các nước XHCN, trong đó khái niệm "cơ chế" được định nghĩa là "hệ thống xác định một trật tự các dạng hoạt động."
Khái niệm này có thể xuất phát từ lĩnh vực cơ học, ra đời sau các cuộc cách mạng kỹ thuật Con người đã xem máy móc là thành quả cao nhất trong tư duy nhân loại, và các khái niệm cơ học được áp dụng để mô tả hiện tượng xã hội cũng như sinh học, như bộ máy hành chính, bộ máy tiêu hóa và cơ chế quản lý.
Với sự xuất hiện xã hội học, khái niệm mang bản chất xã hội về
Các nội dung ứng dụng CNTT phục vụ quản lý hành chính nhà nước
Kết luận Chương 1 Chương 2: Hiện trạng, xu thế triển khai ứng dụng CNTT trong công tác quản lý nhà nước và định hướng high thành CPĐT;
2.1 Tình hình triển khai ứng dụng CNTT, CPĐT tại một số nước trên thế giới
2.2 Tình hình triển khai ứng dụng CNTT, CPĐT trong các cơ quan nhà nước của Việt Nam
2.3 Tình hình triển khai ứng dụng CNTT, CPĐT ở một số Bộ, ngành tiêu biểu
2.4 Hiện trạng triển khai ứng dụng CNTT, CPĐT tại Bộ KH&CN Kết luận Chương 2
Chương 3: Các giải pháp để thiết chế quản lý có thể thúc đẩy ứng dụng CNTT trong công tác quản lý và hình thành CPĐT tại Bộ KH&CN;
3.1 Tính thích ứng của thiết chế quản lý đối với việc thúc đẩy ứng dụng CNTT, CPĐT tại Bộ KH&CN
3.2 Các giải pháp thúc đẩy phát triển ứng dụng CNTT, hình thành CPĐT tại Bộ KH&CN
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Các khái niệm liên quan 1.1.1 Khái niệm quản lý
Quản lý được định nghĩa là đạt được mục tiêu thông qua sự phối hợp của con người trong tổ chức Tổ chức, dù chính thức hay không, đều cần có một mục tiêu chung để hoạt động hiệu quả Để đạt được mục tiêu này, cần có sự phân công lao động hợp lý và tinh thần hợp tác cao giữa các thành viên Quản lý đóng vai trò thiết yếu trong việc xây dựng những yếu tố này, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi các thách thức về năng lực, uy tín và tính chuyên môn hóa của tổ chức ngày càng gia tăng.
Quản lý là hoạt động có tổ chức và định hướng nhằm tác động đến một đối tượng nhất định, điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi con người để duy trì sự ổn định và phát triển theo các mục tiêu đã đề ra.
1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là hình thức quản lý xã hội đặc thù, thể hiện quyền lực nhà nước thông qua việc sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực đời sống Hoạt động này được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu hợp pháp của công dân, đồng thời duy trì sự ổn định và phát triển xã hội.
1.1.3 Khái niệm quản lý hành chính nhà nước
Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thiết yếu trong quản lý nhà nước, thực thi quyền hành pháp và điều chỉnh các quá trình xã hội thông qua quyền lực nhà nước Hoạt động này được thực hiện bởi các cơ quan trong hệ thống hành chính từ trung ương đến cơ sở, nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước Mục tiêu chính là duy trì và phát triển mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật, đồng thời đáp ứng nhu cầu hợp pháp của công dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nội dung quy trình quản lý hành chính nhà nước
Lập kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu tương lai cần đạt được và xây dựng các phương thức cùng lịch trình để thực hiện những mục tiêu đó Nội dung và phạm vi của kế hoạch sẽ được quy định theo thẩm quyền.
Xây dựng và vận hành cơ cấu tổ chức là nhiệm vụ quan trọng, bao gồm việc thành lập hoặc điều chỉnh các đơn vị và cơ quan, đồng thời đưa chúng vào hoạt động hiệu quả Cần quy định cụ thể, hợp lý và rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cũng như từng đơn vị và thành viên, đặc biệt là mối quan hệ giữa chúng Điều này tạo cơ sở cho việc thực thi, đôn đốc, kiểm tra và đánh giá cán bộ, tổ chức, đặc biệt là các nhà quản lý, từ đó điều chỉnh cơ cấu tổ chức một cách hợp lý.
Quản lý và phát triển đội ngũ công chức, viên chức là việc xây dựng và thực hiện chính sách nhằm thu hút những nhân tài cho cơ quan hành chính nhà nước Để đạt được điều này, việc sử dụng hiệu quả đội ngũ hiện tại là yêu cầu cấp thiết, giúp nâng cao chất lượng công việc và tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững trong lĩnh vực công.
Phối hợp hoạt động là nhiệm vụ quan trọng trong việc tổ chức giao tiếp giữa các bộ phận nội bộ và bên ngoài cơ quan Để đạt hiệu quả, cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị và mối quan hệ giữa các thành viên Hơn nữa, một hệ thống hành chính cùng quy trình, thủ tục nội bộ rõ ràng và hợp lý là điều kiện cần thiết để đảm bảo sự phối hợp hiệu quả.
- Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực (công sở, công sản, tài chính công…)
Giám sát và kiểm tra là yêu cầu thiết yếu giúp các nhà quản lý hành chính nhà nước đánh giá kịp thời và toàn diện về chính sách, quyết định quản lý, năng lực của nhân viên và tổ chức, cũng như tác động từ môi trường.
1.1.4 Khái niệm thiết chế xã hội
Thiết chế xã hội là một khái niệm xã hội học [16, tr 45]
Theo J.H.Fichter, văn hóa là một phần không thể thiếu trong nếp sống của một dân tộc, với những khuôn mẫu tác phong công khai và tiềm ẩn hình thành nên các vai trò xã hội Những vai trò này tạo ra nhiều loại tương quan giữa con người, trong đó các diễn tiến xã hội đóng vai trò quan trọng nhất.
Fichter còn viết: “Những tương quan xã hội và những vai trò xã hội hợp thành những yếu tố chủ yếu của thiết chế.”
Fichter khẳng định rằng thiết chế là một "hình trạng hoặc sự phối hợp giữa các khuôn mẫu tác phong được đa số chấp nhận, tập trung vào việc thỏa mãn nhu cầu cơ bản của cộng đồng."
Gidden A, xác định rõ: “Thiết chế bao gồm những chuẩn mực và những giá trị”
Thiết chế là một yếu tố quan trọng trong văn hóa, bao gồm các chuẩn mực và giá trị, tạo nên hệ thống quan hệ ổn định trong xã hội Nó hình thành khuôn mẫu xã hội được công nhận, nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ bản của cộng đồng.
Chính sách được xem như một thiết chế xã hội, bao gồm các chuẩn mực và giá trị được tổ chức thành những khuôn mẫu hành vi được xã hội công nhận Nó đóng vai trò như những công cụ để đáp ứng các nhu cầu cơ bản của cộng đồng.
Trước đây, trong cộng đồng nghiên cứu tại Việt Nam, khái niệm về khoa học quản lý chủ yếu dựa vào hệ thống lý thuyết của Liên Xô và các nước XHCN Trong đó, khái niệm “cơ chế” được định nghĩa là “hệ thống xác định một trật tự các dạng hoạt động.”
Khái niệm này có thể xuất phát từ lĩnh vực cơ học, ra đời sau các cuộc cách mạng kỹ thuật, khi con người coi máy móc là thành quả cao nhất của tư duy nhân loại Những khái niệm cơ học đã được áp dụng để mô tả các hiện tượng xã hội và sinh học, như bộ máy hành chính, bộ máy tiêu hóa, và cơ chế quản lý.
Với sự xuất hiện xã hội học, khái niệm mang bản chất xã hội về