1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Chính sách đối với công giáo của chính quyền ngô đình diệm (1955 1963)

112 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính Sách Đối Với Công Giáo Của Chính Quyền Ngô Đình Diệm (1955 - 1963)
Tác giả Nguyễn Đình Tùng
Người hướng dẫn TS. Lê Quang Hậu
Trường học Đại học Thủ Dầu Một
Chuyên ngành Sư Phạm Lịch Sử
Thể loại khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2016
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,85 MB

Cấu trúc

  • PHỤ LỤC

  • • •

  • EU C THU

  • KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

    • CHUYÊN NGÀNH SƯ PHẠM LỊCH SỬ

    • NGUYỄN ĐÌNH TÙNG

    • KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

    • NIÊN KHOÁ 2012 - 2016

      • CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÔNG GIÁO CỦA CHÍNH QUYỀN

      • NGÔ ĐÌNH DIỆM (1955 - 1963)

        • CHỊU TRÁCH NHIỆM THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

        • 1. SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN

        • LỜI CẢM ƠN

      • PHẦN MỞ ĐẦU

        • 1. Lý do chọn đề tài

        • 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

        • 3. Mục tiêu đề tài

        • 4.1. Đối tượng nghiên cứu

        • 4.2. Phạm vi nghiên cứu

        • 5.1. Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu

        • 5.2. Nguồn tài liệu

        • 6. Đóng góp và khả năng ứng dụng của đề tài

        • 7. Bố cục

      • CHƯƠNG I

        • 1.1. Quá trình hình thành và sự ra đời chính thể Cộng hoà Việt Nam

        • Bảng thống kê số phiếu trong cuộc “trưng cầu dân ý'' phế truất Bảo Đại năm 1955

        • 1.2. Khái quát chính quyền Ngô Đình Diệm

        • 1.3. Chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ (1963)

      • CHƯƠNG II

        • 2.1.1. Quyền lực của họ Ngô Đình trong Công giáo ở Việt Nam

        • 2.1.2. Quyền lực và vai trò của Công giáo trong chính quyền Ngô Đình Diệm

        • 2.1.3. Tôn vinh và ưu đãi Công giáo, kỳ thị Phật giáo và các tôn giáo khác

        • Về tư tưởng - chính trị:

        • Về kinh tế - xã hội:

        • Về văn hoá - giáo dục:

        • 2.2.1.1. Chủ trương “Công giáo hoá” bộ máy chính trị

        • 2.2.1.2. Những chính sách đối với Công giáo về quân sự

        • Bảng thống kê thanh niên Công giáo sử dụng vũ khí ở Vĩnh Bình và Kiến Hoà

        • 2.2.2. Chính sách kinh tế - xã hội

        • 2.2.3. Chính sách văn hoá - giáo dục

        • 2.2.4. Chính sách đối với Công giáo trong các hoạt động đối ngoại

        • ❖ Tiểu kết chương II

        • 3.2. Hệ quả chính sách tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm

        • ❖ Tiểu kết chương III

      • KẾT LUẬN

      • TÀI LIỆU THAM KHẢO

        • Tài liệu sách, báo, t ạp chí:

        • Tài liệu Internet:

  • PHẠM NGỌC CHI

Nội dung

Mục tiêu đề tài

Xuất phát từ nhận thức tính cấp thiết của đề tài, chúng tôi đã đặt ra và giải quyết các yêu cầu khoa học cụ thể sau đây:

Chế độ Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1955 - 1963 là một thời kỳ quan trọng trong lịch sử Việt Nam, đánh dấu quá trình hình thành và phát triển của chính quyền này Giai đoạn này chứng kiến sự sụp đổ dần dần của chế độ, với những biến động trong tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, văn hóa và giáo dục Đồng thời, chính sách đối ngoại của Việt Nam Cộng hòa cũng có nhiều thay đổi, phản ánh những thách thức và cơ hội trong bối cảnh quốc tế Những yếu tố này đã tạo nên một bức tranh tổng thể về Việt Nam Cộng hòa, giúp người đọc hiểu rõ hơn về những diễn biến lịch sử quan trọng trong thời kỳ này.

Chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện nhiều chính sách đối với Công giáo, ảnh hưởng đến các lĩnh vực chính trị - quân sự, kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục và đối ngoại Trong chính trị, Diệm củng cố quyền lực bằng cách ủng hộ các lãnh đạo Công giáo và loại trừ các đối thủ chính trị Về kinh tế - xã hội, chính phủ ưu đãi cho các doanh nghiệp Công giáo, dẫn đến sự phân biệt đối xử với các tôn giáo khác Trong lĩnh vực văn hóa - giáo dục, chính quyền khuyến khích giáo dục Công giáo, tạo ra sự phân chia trong hệ thống giáo dục quốc gia Cuối cùng, trong quan hệ đối ngoại, Diệm sử dụng mối quan hệ với Vatican để củng cố vị thế của mình trên trường quốc tế, đồng thời tìm kiếm sự hỗ trợ từ các nước phương Tây.

Nhận định, đánh giá và nêu lên hệ quả của chính sách Công giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1955 - 1963.

Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

Đề tài nghiên cứu áp dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Duy vật lịch sử, kết hợp với các vấn đề lý luận theo tư tưởng của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Để nghiên cứu đề tài “Chính sách đối với Công giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm (1955 - 1963)”, chúng tôi áp dụng một số phương pháp, chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic.

Phương pháp lịch sử được áp dụng để mô tả và trình bày các sự kiện liên quan đến quá trình hình thành, ra đời và sụp đổ của chính quyền Ngô Đình Diệm Qua đó, bài viết giúp bạn đọc có cái nhìn toàn diện về diễn biến và tác động của chế độ này trong lịch sử Việt Nam.

Phương pháp logic giúp phân tích nguồn gốc và hệ quả của các chính sách tôn giáo mà chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện Đặc biệt, cần làm rõ những chính sách đối với Công giáo, qua đó cho thấy sự gia tăng quyền lực của Công giáo trong bộ máy chính quyền Ngô Đình Diệm.

Chúng tôi áp dụng phương pháp so sánh để làm rõ chính sách của chính quyền Ngô Đình Diệm đối với Công giáo Việc so sánh này giúp chúng tôi nhận diện sự ưu đãi dành cho Công giáo và sự kỳ thị đối với các tôn giáo khác mà chính quyền này thực thi Qua đó, chúng tôi có thể hiểu sâu hơn về những bất công trong chính sách tôn giáo của chế độ Ngô Đình Diệm.

Để thực hiện bài nghiên cứu hiệu quả, chúng tôi đã sử dụng nhiều nguồn tài liệu phong phú, bao gồm sách, báo, tạp chí, internet và đặc biệt là tài liệu bậc một như Sắc lệnh, Nghị định, kế hoạch, văn thư và báo cáo kết quả từ thời kỳ Việt Nam Cộng hòa Các nguồn tài liệu chủ yếu được tham khảo từ Trung tâm lưu trữ Quốc gia II, thư viện Khoa học Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, thư viện tỉnh Bình Dương và thư viện trường Đại học Thủ Dầu Một.

Đóng góp và khả năng ứng dụng của đề tài

Nghiên cứu này giúp người đọc nắm bắt rõ hơn về chính sách của chính quyền Ngô Đình Diệm đối với tôn giáo Công giáo tại miền Nam Việt Nam trong giai đoạn này.

Bài viết này cung cấp tài liệu bổ ích cho những ai quan tâm đến chế độ Việt Nam Cộng hoà và tôn giáo tại Việt Nam Đồng thời, nó cũng giúp học sinh, sinh viên có thêm nguồn tư liệu tham khảo khi thực hiện các đề tài liên quan.

Chính sách tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm là một tài liệu quan trọng cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng chuyên ngành lịch sử và chính trị Việc nghiên cứu những chính sách này không chỉ giúp hiểu rõ bối cảnh lịch sử mà còn cung cấp cái nhìn sâu sắc về những tác động của chính quyền đối với các tôn giáo tại Việt Nam thời kỳ đó.

Bố cục

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, bài nghiên cứu được chia thành 3 chương:

Chương I: Khái quát chế độ Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1955 - 1963

Chương II: Chính sách đối với Công giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm

Chương III: Nhận định, đánh giá chính sách Công giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm (1955 - 1963)

Khái quát chế độ Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1955 - 1963

Quá trình hình thành và sự ra đời chính thểCộng hoà Việt Nam

Trước nguy cơ thất bại của Pháp tại Đông Dương, Mỹ đã can thiệp sâu hơn vào cuộc chiến tranh ở khu vực này Ngày 7/5/1954, sau trận thua tại Điện Biên Phủ, Mỹ đã tăng cường lực lượng để thay thế Pháp Ngô Đình Diệm, đang sống lưu vong, được Mỹ chọn làm người đại diện cho lợi ích của mình tại Đông Dương.

F Newcomb viết: “Đối với người Mỹ, Diệm là rất thích hợp Ông là người Việt Nam thực sự, 54 tuổi chống Pháp, chống Cộng Với một vài kinh nghiệm trong thời kỳ làm quan thuộc địa, và là một người Thiên Chúa giáo (không bao giờ chú ý đến Việt Nam có 85% dân số là Phật giáo)” [39; 29]. Để Ngô Đình Diệm trở thành tay sai đắc lực cho Mỹ, tháng 6/1954 Mỹ dùng viện trợ gây sức ép cho Pháp và Quốc trưởng Bảo Đại đưa Ngô Đình Diệm về nước làm thủ tướng Ngày 16/6/1954, Quốc Trưởng Bảo Đại chính thức công bố cử Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng với toàn quyền hành động Với toàn quyền hành động tức là mọi quyết định quan trọng liên quan đến Quốc gia Việt Nam thì Thủ tướng Ngô Đình Diệm không cần phải xin ý kiến của Quốc Trưởng Bảo Đại như những thủ tướng tiền nhiệm.

Vào ngày 25/6/1954, Ngô Đình Diệm trở về từ Pháp và được chào đón nồng nhiệt tại phi trường Tân Sơn Nhất, Sài Gòn Sự tiếp đón này diễn ra theo nghi lễ ngoại giao với sự tham gia của các đại diện từ Chính phủ Bửu Lộc, cùng với một số sĩ quan cấp tá của Việt Nam và Pháp thuộc Bộ Quốc phòng và bộ Tổng Tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam, bên cạnh những người thân thuộc dòng họ Ngô Đình và các nhân sĩ thân hữu của gia đình ông.

Sau khi trở về nước, Ngô Đình Diệm đã gặp gỡ các nhân sĩ nhằm thành lập chính phủ Vào ngày 7/7/1954, chính phủ của ông chính thức được trình diện và bắt đầu hoạt động trong lĩnh vực chính trị.

Ngay sau khi Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ mới, ông đã đối mặt với sự phản đối mạnh mẽ từ hai giáo phái Cao Đài và Hoà Hảo cùng với lực lượng Bình Xuyên Để chống lại chính quyền của Diệm, quân đội Cao Đài và Hoà Hảo đã liên minh với Bình Xuyên, thành lập "Mặt trận thống nhất toàn lực Quốc gia", yêu cầu quyền tham gia chính phủ Vào ngày 21/3/1955, họ đã buộc Thủ tướng Ngô Đình Diệm phải cải tổ nội các trong vòng năm ngày Cùng tháng đó, lực lượng Bình Xuyên đã tấn công Bộ Tổng tham mưu và bắn pháo vào Dinh Độc lập Để đáp trả, quân đội chính phủ đã bao vây Tổng nha Cảnh sát do Lại Văn Sang của Bình Xuyên lãnh đạo, buộc Ngô Đình Diệm triệu hồi Đại tá Dương Văn Minh về Sài Gòn để chỉ huy quân đội chống lại các lực lượng đối lập.

Vào ngày 26/4/1955, Ngô Đình Diệm đã ra lệnh cắt chức Lại Văn Sang và bổ nhiệm Đại tá Nguyễn Ngọc Lễ thay thế, nhưng Lại Văn Sang yêu cầu có lệnh từ Quốc trưởng Bảo Đại mới tuân thủ Ngày 27/4/1955, quân Bình Xuyên tấn công vào thành phố và kêu gọi Bảo Đại can thiệp Bảo Đại đã ra lệnh cho Ngô Đình Diệm sang Pháp hội kiến, nhưng Diệm không tuân thủ và triệu tập Hội đồng Nội các bác bỏ lệnh triệu tập Tiếp theo, Diệm triệu tập một phiên họp bất thường để đề xuất phế truất Bảo Đại, đồng thời lập ra “Hội đồng Nhân dân Cách mạng” nhằm kêu gọi nhân dân phế truất Quốc trưởng Cuộc đụng độ lớn giữa quân chính phủ và lực lượng Bình Xuyên diễn ra vào ngày 30/4/1955, gây hoả hoạn và khiến 20.000 người sơ tán Chính phủ đã kiểm soát các cửa ngõ quan trọng vào đô thành, buộc lực lượng Bình Xuyên phải rút khỏi Sài Gòn Đến tháng 5/1955, nhóm chỉ huy Bình Xuyên phải rút về Rừng Sát do bị chính phủ truy đuổi Cuối năm 1955, lực lượng Bình Xuyên tan rã sau chiến dịch Hoàng Diệu Để củng cố quyền lực, chính phủ cũng mở cuộc càn quét lực lượng vũ trang Hoà Hảo trong chiến dịch Đinh Tiên Hoàng, dẫn đến sự đầu hàng của tướng Nguyễn Giác Ngộ vào ngày 5/6/1955.

1956 thì thất bại Từ đó, lực lượng Hoà Hảo mới chính thức tan rã.

Lực lượng Cao Đài, dưới sự chỉ huy của hai tướng Trình Minh Thế và Nguyễn Thành Phương, đã quyết định gia nhập Hội đồng Cách mạng ủng hộ Thủ tướng Ngô Đình Diệm vào tháng 4, nhằm tránh xung đột với quân chính phủ do nhận thấy không thể chống lại họ.

Ngô Đình Diệm, bên cạnh việc thành lập chính phủ, đã thực hiện nhiều chính sách theo yêu cầu của Mỹ, bao gồm việc từ chối tổ chức tổng tuyển cử và tái lập quan hệ giữa hai miền Nam - Bắc Ông tổ chức các cuộc bầu cử riêng rẽ, thành lập Quốc hội Lập hiến, ban hành hiến pháp vào ngày 26/10/1956, và thiết lập các đảng phái như Cần Lao nhân vị, Phong trào Cách mạng quốc gia, Thanh niên cộng hoà, và Phụ nữ liên đ(')'i Đồng thời, chính quyền của ông cũng tiến hành khủng bố những người ủng hộ hòa bình, những người phản đối chế độ và những người đấu tranh thực hiện hiệp định Giơnevơ.

Năm 1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết nhằm chấm dứt chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương, nhưng Mỹ và Ngô Đình Diệm không thực hiện hiệp định này vì cho rằng nó không có lợi cho lợi ích của Mỹ, thậm chí còn gây bất lợi cho các kế hoạch của họ Mỹ lo ngại rằng Hiệp định Giơnevơ không chỉ không ngăn chặn được sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản mà còn dẫn đến việc trao trả miền Bắc cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sẽ trả miền Nam vào năm 1956 Do đó, Mỹ đã ngăn cản việc thực hiện hiệp định và thiết lập một chế độ thân Mỹ tại miền Nam Việt Nam, trong đó Ngô Đình Diệm đã sử dụng chiêu bài “chống Cộng” như một quốc sách để củng cố bộ máy đàn áp.

Năm 1955, Chính phủ Ngô Đình Diệm, được Mỹ hỗ trợ, đã tổ chức cuộc tổng tuyển cử nhằm phế truất Bảo Đại và đưa Ngô Đình Diệm lên nắm quyền, được gọi là “Trưng cầu dân ý” Nhiều tài liệu chỉ ra rằng cuộc bầu cử này mang tính chất “giả hiệu”, “đã an bài” và “có sắp xếp gian lận” Những nhận định này có cơ sở khi dưới sự chỉ đạo của Ngô Đình Nhu và Trần Chánh Thành, các cơ quan và đoàn thể từ trung ương đến địa phương đã bị yêu cầu ký đơn theo mẫu sẵn có để phế truất Bảo Đại và suy tôn Ngô Đình Diệm.

Vào ngày 23/10/1955, cuộc "Trưng cầu dân ý" diễn ra với sự kiểm soát chặt chẽ từ lực lượng cảnh sát và mật vụ, khiến người dân miền Nam bị buộc phải tham gia bỏ phiếu Gần 6 triệu lá phiếu đã được ghi nhận trong cuộc bỏ phiếu này.

Cộng (Việt Cộng) là nhóm người Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, với mục tiêu giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân thông qua sự hỗ trợ của Quốc tế cộng sản Từ "Việt Cộng" vẫn được sử dụng rộng rãi trong sách báo, phim ảnh và tài liệu lịch sử liên quan đến chế độ Việt Nam Cộng hòa.

Bảng thống kê số phiếu trong cuộc “trưng cầu dân ý'' phế truất Bảo Đại năm 1955

Lựa chọn Số phiếu Đồng ý phế truất Bảo Đại 5.721.735

Chống việc phế truất Bảo Đại 63.017

Nguồn: [64] (xem phụ lục 2; hình 5)

Ngô Đình Diệm đã đạt được tỷ lệ ủng hộ tuyệt đối 98.2% trong cuộc trưng cầu dân ý gian lận, loại bỏ Quốc trưởng Bảo Đại với chỉ 1.8% Kết quả này đã giúp Hoa Kỳ và Ngô Đình Diệm gạt Bảo Đại, người thân cận nhất của Pháp, ra khỏi miền Nam Việt Nam Sau khi Bảo Đại bị phế truất, Ngô Đình Diệm trở thành Quốc trưởng và vào ngày 26/10/1955, Mỹ đã ủy nhiệm cho ông thành lập nước “Việt Nam Cộng hoà” theo mô hình Tổng thống chế của Hoa Kỳ, với Ngô Đình Diệm giữ chức Tổng thống chính thể Việt Nam Cộng hoà (VNCH).

Khái quát chính quyền Ngô Đình Diệm

Sau khi nhậm chức Tổng thống vào tháng 11 năm 1955, Ngô Đình Diệm đã bắt tay vào việc soạn thảo Hiến pháp cho chính quyền mới Theo đó, Tổng thống đứng đầu ngành hành pháp với nhiệm kỳ 5 năm, và mỗi ứng cử viên có quyền tranh cử ba nhiệm kỳ liên tiếp.

Nội các hỗ trợ ngành hành pháp bao gồm 14 Bộ trưởng, trong khi ngành lập pháp có Quốc hội với một viện duy nhất gồm 123 dân biểu, được bầu theo từng đợt trong nhiệm kỳ ba năm.

Trong hệ thống tư pháp của chính quyền Ngô Đình Diệm, Viện Bảo hiến đóng vai trò quan trọng trong việc cân nhắc và xét duyệt các luật lệ để đảm bảo tính hợp hiến Tòa phá án được coi là tòa án tối cao, với một tòa phá án đặt tại Sài Gòn cùng hai tòa thượng thẩm ở Sài Gòn và Huế Mỗi tỉnh đều có một tòa hòa giải và các cấp tòa án thấp hơn để xử lý các vụ việc.

Ngô Đình Diệm thực hiện nhiều chính sách nhằm củng cố bộ máy đàn áp của mình Vào tháng 3 năm 1955, ông thành lập Tổng uỷ “Công dân vụ” để chuyên trách việc đàn áp chính trị.

Chế độ Tổng thống chế là hệ thống chính phủ với ngành hành pháp độc lập khỏi ngành lập pháp Trong thời kỳ này, nhiều luật lệ nghiêm ngặt được ban hành, như Dụ số 6 ngày 11/1/1956 cho phép lập trại tập trung giam giữ các lực lượng đối kháng, và Dụ số 13 ngày 20/2/1956 hạn chế quyền tự do báo chí Tháng 5/1959, Ngô Đình Diệm ban hành luật 10-59, thành lập các toà án quân sự đặc biệt nhằm loại trừ những người cộng sản khỏi hệ thống pháp luật.

"Khu trù mật”, “Ấp chiến lược””, “Cách cách điền địa””, “Khu dinh điền””

Chính sách "Khu trù mật" được ban hành vào ngày 7/7/1959 và thực hiện trong ba năm từ 1959 đến 1961, là một chương trình lớn nhằm kết hợp giữa đàn áp bạo lực và phát triển kinh tế Mục tiêu của chính sách này là bình định nông thôn, kiểm soát nông dân và cô lập các phong trào cách mạng ở cấp cơ sở, theo lời Tổng thống Diệm.

Năm nay, tôi đã triển khai công tác lập khu trù mật tại các thôn quê, chọn những địa điểm có giao thông thuận lợi, hợp vệ sinh và đầy đủ tiện nghi tối thiểu để tập hợp những người dân thiếu thốn Những khu trù mật này sẽ trở thành các đơn vị kinh tế quan trọng, góp phần vào sự phát triển kinh tế quốc gia trong tương lai.

Chính quyền Ngô Đình Diệm đã cố gắng đánh lừa dư luận về việc xây dựng “Khu trù mật” như một nỗ lực tạo ra “một xã hội mới” dựa trên công bằng xã hội, nhưng thực chất đây chỉ là chiêu trò nhằm bình định và khống chế nhân dân, cũng như cô lập các phong trào cách mạng Mục đích thực sự của “Khu trù mật” là tách rời quần chúng khỏi những người có cảm tình với cộng sản và tiêu diệt các lực lượng cách mạng ngay tại cơ sở.

Mỗi khu trù mật được quản lý bởi một ban đại diện gồm Trưởng ban, uỷ viên tài chính kiêm Chủ tịch hiệp hội nông dân, uỷ viên cảnh sát và uỷ viên phụ trách hộ tịch kiêm y tế Dưới ban đại diện khu là ban đại diện ấp, và mỗi ấp được chia thành “Ngũ gia liên bảo” với 5 gia đình, mỗi liên bảo có một liên gia trưởng và một liên gia phó Mỗi gia đình phải khai báo thông tin cá nhân đầy đủ, bao gồm họ tên, tuổi, nghề nghiệp và ảnh Người dân phải thông báo cho liên gia trưởng và ấp trưởng về mọi hoạt động của mình, tạo nên một hệ thống kiểm soát chặt chẽ và khắc nghiệt trong khu trù mật.

Khu trù mật đóng vai trò then chốt trong chiến lược quân sự của Mỹ - Diệm, không chỉ nhằm kiểm soát nhân dân mà còn là trung tâm đào tạo, huấn luyện và trang bị vũ khí Tại đây, các đơn vị biệt kích và dân vệ được tổ chức chặt chẽ, phối hợp với công an và mật vụ để kiểm soát khu vực Ngoài ra, ba tiểu đoàn lính Cộng hòa sẵn sàng hỗ trợ khi cần thiết để bảo vệ và càn quét trong trường hợp xảy ra giao tranh Qua đó, có thể thấy âm mưu chính trị sâu xa của chính quyền Ngô Đình Diệm trong việc xây dựng "Khu trù mật" nhằm tách biệt cộng sản khỏi nhân dân và ngăn chặn ảnh hưởng cũng như các cơ sở liên lạc cách mạng của họ.

Vào năm 1961, chính quyền Mỹ - Diệm đã triển khai chính sách "Ấp chiến lược" để thay thế cho "Khu trù mật", nhằm đối phó với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trong bối cảnh chiến tranh đặc biệt của Mỹ Mục tiêu chính của Ấp chiến lược là loại bỏ lực lượng du kích ra khỏi nông thôn, qua đó hạn chế sự tiếp tế và hoạt động của họ Hệ thống Ấp chiến lược được tổ chức theo mô hình tự quản, tự phòng và tự phát triển, với Ban trị sự quản lý và lực lượng Phòng vệ dân sự bảo vệ Kế hoạch này do Cố vấn Ngô Đình Nhu và Trung tá Phạm Ngọc Thảo đứng đầu, với các ấp được xây dựng kiên cố, bao gồm hai vòng rào và hào sâu, nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của quân du kích, tạo ra một cấu trúc vững chắc tương tự như Khu trù mật.

Năm 1955, Mỹ và Diệm thành lập Quân lực Việt Nam Cộng hòa, lực lượng quân đội chủ chốt của chính quyền này Được trang bị hùng hậu với sức cơ động cao và hỏa lực mạnh, Quân lực Việt Nam Cộng hòa nhận được sự hỗ trợ tích cực từ Mỹ và các đồng minh nhằm chống lại Quân giải phóng miền Nam Việt Nam cùng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Trong lĩnh vực kinh tế, sự hỗ trợ từ Mỹ đã giúp nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa phát triển nhanh chóng Trong giai đoạn 1955 - 1956, Mỹ đã cử một phái đoàn cố vấn đến Việt Nam để thúc đẩy sự tăng trưởng này.

W Ladejinsky (Là chuyên gia cải cách điền địa từng giúp Tưởng Giới Thạch thực hiện cải cách điền đị ở Đài Loan) dẫn đầu sang miền Nam Việt Nam để hỗ trợ chính quyền Ngô Đình Diệm soạn thảo chính sách ruộng đất Báo công Luận ra ngày 7/7/1969 cho biết: Từ năm 1955 đến năm 1960 Mỹ đã viện trợ 12 triệu USD cho chính quyền Việt Nam Cộng hoà để thực hiện chính sách “Cải cách điền địa”.

Bên cạnh chính sách “Cải cách điền địa”, Mỹ - Diệm còn chủ trương lập các

Khu dinh điền được thiết lập ở nhiều địa phương nhằm mục đích "cấy dân", với những khu lớn như Dinh điền Cái Sắn và Dinh điền huyện Trần Văn Thời (Cà Mau) Mặc dù mục tiêu ban đầu là giải quyết vấn đề ruộng đất và chỗ ở cho người tị nạn, thực chất đây lại là một phần trong chiến dịch "cách ly, cô lập và tiêu diệt lực lượng cách mạng" Chính quyền Mỹ - Diệm xác định khu dinh điền là phương pháp để ngăn chặn sự xâm nhập của lực lượng Cộng sản, cung cấp thông tin tình báo và làm điểm xuất phát cho các hoạt động quân sự.

Chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ (1963)

Chính sách và biện pháp của Ngô Đình Diệm tuy có hiệu quả nhưng không thể ngăn chặn hoạt động của Mặt trận Dân tộc giải phóng Nhiều thất bại của quân đội Việt Nam Cộng hòa trên chiến trường đã khiến chính quyền Ngô Đình Diệm trở nên bất ổn.

Vào tháng 5 năm 1961, khi Tổng thống Kennedy nhậm chức, ông đã cử Phó Tổng thống đến miền Nam Việt Nam để đánh giá tình hình Sự thất bại về chính trị và quân sự của chính quyền Ngô Đình Diệm đã làm căng thẳng mối quan hệ Mỹ - Diệm Đến đầu năm 1962, lực lượng cách mạng của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày càng mạnh, trong khi Mỹ - Diệm không thể ngăn chặn sự suy yếu của chính quyền Việt Nam Cộng hoà Đầu năm 1963, miền Nam Việt Nam đã trải qua một cuộc khủng hoảng chính trị nghiêm trọng, dẫn đến sức mạnh không thể ngăn cản của quân giải phóng miền Nam Việt Nam, đồng thời chịu áp lực lớn từ báo chí.

Chính phủ Mỹ, cùng với các đồng minh và Tòa thánh Vatican, đã yêu cầu lãnh đạo Mỹ thực hiện các chính sách cứng rắn trong lĩnh vực chính trị và viện trợ, nhằm tạo áp lực đồng thời hỗ trợ chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Ngày 2/1/1963, sự kiện Ấp Bắc đã khiến Mỹ và chính quyền Diệm phải bàng hoàng khi Quân giải phóng miền Nam Việt Nam lần đầu tiên đánh bại chiến lược “Trực thăng vận” và “Thiết xạ vận” của họ Sau chiến thắng này, nhiều chiến dịch càn quét của quân đội Sài Gòn như “Sóng tình thương” và “Đức Thắng” đã thất bại nặng nề, với số thương vong cao Đồng thời, chính sách “Ấp chiến lược” của Mỹ - Diệm cũng gặp thất bại lớn khi trong năm 1963, quân dân miền Nam đã phá hủy 2895 ấp chiến lược và giải phóng 12.000 thôn, giúp gần 9 triệu dân thoát khỏi sự kìm kẹp của Mỹ - Diệm.

Năm 1963, chế độ Ngô Đình Diệm phải đối mặt với phong trào của Phật giáo miền Nam Việt Nam, đánh dấu sự khởi đầu cho cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân tại hầu hết các đô thị miền Nam Sự kiện này đã làm suy yếu thêm chính sách thực dân mới của Mỹ trong bối cảnh chế độ đang liên tiếp thất bại trên chiến trường.

Trong tình thế cấp bách, Chính quyền Diệm buộc phải ra quyết định xiết chặt

Vào đêm 20 rạng sáng 21/8/1963, Ngô Đình Nhu đã chỉ đạo lực lượng đặc biệt thực hiện cuộc đàn áp đẫm máu đối với Phật tử ở miền Nam Việt Nam, dẫn đến tình hình chính trị ngày càng bất ổn và phong trào phản đối chính quyền Diệm gia tăng Các cuộc mít tinh và biểu tình diễn ra sôi nổi tại Sài Gòn, với sự tham gia của học sinh, sinh viên và công nhân, đặc biệt là vào ngày 24/8/1963 khi họ tổ chức đình công, bãi khóa Ngày 25/8/1963, các cuộc biểu tình lớn lan rộng ra các thành phố như Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt và Vĩnh Long nhằm phản đối chính sách đàn áp của gia đình Diệm Trước tình hình này, Tổng thống Kennedy đã xem xét khả năng thay thế Ngô Đình Diệm và vào cuối tháng 8/1963, kế hoạch đảo chính được đề xuất nhưng sau đó bị hủy bỏ Chính phủ Mỹ đã cử các tướng lĩnh đến miền Nam Việt Nam để tìm kiếm một "con bài mới" thay thế Diệm, trong khi từ tháng 1 đến 8 năm 1963, Kennedy đã bổ nhiệm Henry Cabot Lodge làm đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng hòa.

Ngày 22/8/1963 Henry Cabot Lodge có mặt ở Sài Gòn.

Sức ép từ Mỹ đối với chính quyền Ngô Đình Diệm gia tăng, dẫn đến việc cắt giảm viện trợ kinh tế, buộc chính quyền này phải thực hiện các chính sách mới.

“Thắt lưng buộc bụng”, giảm 30% lương công chức và binh lính Ngoài ra, Mỹ tung

Cơ quan tình báo trung ương (CIA) đã can thiệp vào tình hình chính trị tại Việt Nam, kích động các phe phái và nhóm đối lập nhằm chống lại anh em Ngô Đình Diệm Vào ngày 5-10-1963, đặc vụ CIA Conein đã gặp Trần Văn Đôn và sau đó là Dương Văn Minh để nắm bắt tình hình Đến ngày 28-10-1963, Trần Văn Đôn đã xác nhận với đặc vụ Conein về việc hoàn tất kế hoạch đảo chính tại Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn.

Ngô Đình Nhu đã lập kế hoạch "Đảo chính giả" nhằm nhận diện và tiêu diệt lực lượng đảo chính thật bằng cách tấn công các mục tiêu định sẵn Tuy nhiên, kế hoạch này đã thất bại khi lực lượng đảo chính giả chưa kịp hoạt động thì bị khống chế Vào chiều 1/11/1963, lực lượng đảo chính nổ súng, trong khi Nhu và Diệm vẫn lầm tưởng rằng kế hoạch đảo chính giả đang diễn ra Đêm 1/11/1963, họ trốn khỏi dinh Gia Long, nhưng vào ngày 2/11/1963, cả hai bị sát hại khi đang trên đường bị áp giải Cái chết của Ngô Đình Diệm đã khiến chính quyền tay sai của Mỹ ở miền Nam Việt Nam rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng, dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Ngô Đình Diệm.

Chính sách đối với Công giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm (1955 - 1963)

Mối quan hệ của chính quyền Ngô Đình Diệm và Công giáo

2.1.1 Quyền lực của họ Ngô Đình trong Công giáo ở Việt Nam

Dòng họ Ngô Đình, có nguồn gốc từ làng Xuân Dục, tỉnh Quảng Bình, nổi bật với truyền thống theo đạo Công giáo lâu đời tại Việt Nam Vào khoảng năm 1870, trong bối cảnh thực dân Pháp xâm chiếm Trung Kỳ và Bắc Kỳ, dòng họ này đã di cư đến làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, nhằm tìm kiếm sự an toàn giữa phong trào chống Pháp và chiến dịch cấm đạo đang diễn ra.

Ngô Đình Diệm, con trai thứ ba của Ngô Đình Khả, một quan chức cao cấp triều đình nhà Nguyễn, đã có một quá trình học tập và phát triển đáng chú ý Ngô Đình Khả từng giữ chức Thượng thư và là cố vấn cho vua Thành Thái, ông được đào tạo trong môi trường Nho học trước khi chuyển sang học tại một chủng viện theo chương trình của Pháp Sau khi trở về Việt Nam, ông đã làm quan trong triều Nguyễn trước năm 1905 Ngô Đình Diệm lớn lên trong gia đình có 8 anh em, trong đó có hai người anh là Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Thục Từ nhỏ, ông đã theo học tại trường Công giáo Pháp, nhưng sau khi cảm thấy cuộc sống tại trường dòng quá khắt khe, ông đã quyết định chuyển sang trường Quốc học Huế khi mới 15 tuổi.

1919, Ngô Đình Diệm ra Hà Nội học trường Hậu Bổ (trường hành chính) và đến năm

Ngô Đình Diệm tốt nghiệp năm 1921 và từ đó đến năm 1933 giữ nhiều chức vụ trong triều đình Nguyễn Năm 1933, ông làm Thượng thư Bộ lại và Sùng Cơ mật Viện đại thần, nhưng từ chức do mâu thuẫn với Thượng thư Phạm Quỳnh Khi quân Nhật xâm lược Việt Nam năm 1940, ông chuyển sang ủng hộ Nhật và được Nhật bảo vệ khi Pháp muốn bắt ông Sau đó, Ngô Đình Diệm được Nhật đưa đến Sài Gòn và sau đó lánh nạn ở Singapore và Bangkok Sau khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, Mỹ hỗ trợ Pháp tái chiếm Đông Dương và tìm kiếm một người đồng minh đáng tin cậy thông qua Hồng y Francis Joseph Spellman.

Mỹ đã chọn Ngô Đình Diệm, anh trai của Giám mục Ngô Đình Thục, làm tay sai vào năm 1950 Lợi dụng lý do sang Roma dự Năm Thánh, Ngô Đình Diệm đã đến Mỹ, nơi mà Spellman đã hỗ trợ cho ông về chỗ ở và Fishel đã đào tạo ông thành một tay sai đắc lực cho Mỹ.

Vào tháng 5 năm 1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, đánh dấu sự công nhận độc lập của Việt Nam, Lào và Campuchia, chấm dứt chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương Ngay sau khi Pháp rút lui, Mỹ can thiệp vào Việt Nam, đưa Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Diệm nắm quyền và bổ nhiệm nhiều thành viên trong gia đình vào các vị trí quan trọng Ngô Đình Thục, em trai của Diệm, trở thành Tổng giám mục Giáo hội Công giáo Việt Nam vào năm 1960, nắm quyền lực tối cao trong Công giáo tại đất nước Mặc dù không giữ chức vụ chính thức trong chính quyền, Thục vẫn được xem là “Cố vấn tối cao” của chế độ Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam nhờ vào mối quan hệ thân thiết với Tổng thống Diệm Các tòa giám mục do ông cai quản trở thành những trung tâm quyền lực lớn, thu hút sự chú ý của các quan chức cao cấp trong chính quyền.

Ngô Đình Nhu, em trai của Tổng thống Ngô Đình Diệm, nổi bật với vai trò cố vấn chính trị và thực hiện quyền lực tại Dinh Độc Lập Mặc dù thể hiện sự phục tùng anh trai, Nhu thực chất nắm giữ quyền lực lớn, chỉ đạo Quốc hội ban hành luật theo ý muốn của gia đình Ông thành lập Đảng Cần lao Nhân vị, với sự lãnh đạo của các nhân vật Công giáo như Trần Văn Đỗ và Huỳnh Kim Hữu Ngoài ra, Ngô Đình Nhu còn sáng lập tổ chức "Thanh niên Cộng hoà" và tổ chức "Phụ nữ Liên đới", do vợ ông, bà Trần Lệ Xuân, đứng đầu.

Trong thời Đệ nhất Cộng hoà Việt Nam, gia đình Ngô Đình Diệm, bao gồm Ngô Đình Thục, Ngô Đình Nhu, Trần Lệ Xuân, Ngô Đình Cẩn, và Ngô Đình Luyện, nắm giữ quyền lực chính trị lớn lao Ngô Đình Thục giữ vị trí Tổng giám mục Công giáo tại Việt Nam, trong khi Ngô Đình Cẩn kiểm soát Cần lao miền Trung với sự hỗ trợ từ các nhân vật quan trọng như Lê Quang Tung và Giám mục Phạm Ngọc Chi Ngô Đình Nhu lãnh đạo Cần lao miền Nam với sự giúp đỡ từ vợ Trần Lệ Xuân và các linh mục di cư từ miền Bắc.

2.1.2 Quyền lực và vai trò của Công giáo trong chính quyền Ngô Đình Diệm

Trong suốt thời kỳ Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam, gia đình Ngô Đình Diệm đã thực hiện các chính sách nhằm củng cố vị thế của Giáo hội Công giáo trong chính quyền Các thành viên trong gia đình Ngô Đình, đều theo đạo Công giáo, đã lần lượt đảm nhận những vị trí quan trọng ở cấp trung ương.

Ngô Đình Diệm, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, nắm quyền lực tối cao nhờ sự ủng hộ từ Mỹ, Đảng Cần lao Nhân vị, phong trào cách mạng quốc gia và lực lượng Công giáo Ngô Đình Nhu, với vai trò Cố vấn chính trị, là người đứng sau những chiến lược của chính quyền Diệm, nắm giữ quyền lực lớn mà không có chức danh chính thức Ông được mọi người trong dinh Tổng thống và cả dư luận quốc tế biết đến với danh xưng “Cố vấn”, thể hiện sự ảnh hưởng mạnh mẽ của mình trong chính quyền.

Trần Lệ Xuân, hay còn gọi là Bà Nhu, là Đệ nhất phu nhân của chế độ Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam và là vợ của Ngô Đình Nhu Sau khi kết hôn, bà đã cải đạo sang Công giáo, trở thành một trong những người Công giáo có ảnh hưởng lớn trong chính quyền Ngô Đình Diệm Bà cũng là một Dân biểu Quốc hội, thường xuyên đề xuất và thúc đẩy những đạo luật riêng, đặc biệt là các luật liên quan đến hôn nhân gia đình, ngoại tình và thi hoa hậu, ép Quốc hội phải thông qua.

Ngô Đình Cẩn tự nhận mình là “Cố vấn Lãnh đạo các Đoàn thể Chính trị miền Trung và miền Cao Nguyên”, thực chất ông là lãnh chúa tại hai vùng này, nắm giữ quyền lực lớn, đặc biệt là quyền bổ nhiệm nhân sự cho chính quyền Nhờ vào quyền lực đó, hầu hết các đại biểu chính phủ và tỉnh trưởng đều tuân theo mệnh lệnh của Ngô Đình Cẩn.

Ngô Đình Luyện, Đại sứ Việt Nam tại Anh Quốc, đóng vai trò quan trọng trong các chính sách ngoại giao của Ngô Đình Diệm ở châu Âu và Bắc Phi Ông thường xuyên được tham khảo ý kiến trước khi đưa ra quyết định quan trọng Nhờ đó, Ngô Đình Luyện đã trở thành một nhân vật quyền lực, được các đại sứ Việt Nam tại châu Âu và Bắc Phi kính nể và tuân theo.

Trong gia đình Ngô Đình Diệm, ngoài những nhân vật giữ chức vụ quan trọng, các anh em khác cũng có quyền lực nhất định trong xã hội và chính quyền Tổng giám mục Ngô Đình Thục, được xem là “Lãnh tụ phần hồn” của chế độ, dù không nắm giữ chức vụ chính thức, nhưng lại có ảnh hưởng lớn đến Tổng thống Diệm và các Bộ trưởng Với vai trò Tổng giám mục của Giáo hội Công giáo, Ngô Đình Thục trở thành một cố vấn tối cao cho chế độ Chính quyền Ngô Đình Diệm đã thực hiện nhiều chính sách nhằm đưa người Công giáo vào bộ máy chính quyền, với Chủ tịch Quốc hội luôn là một dân biểu Cần lao Công giáo Mặc dù để tạo ấn tượng với quốc tế, chính quyền vẫn giữ lại một số vị trí cho những người không thuộc Công giáo, nhưng hầu hết các chức vụ chủ chốt vẫn nằm trong tay những người Công giáo.

Sài Gòn - Chợ Lớn không cần một đô trưởng người Thiên Chúa giáo do đã có bộ máy chính quyền trung ương, nhưng Phó đô trưởng và hầu hết các quận trưởng đều là người Thiên Chúa giáo Tại các tỉnh, người Công giáo nắm giữ hầu hết các chức vụ Tỉnh trưởng và Thị trưởng, trong khi ở các thôn xã, tín đồ Công giáo cũng được bổ nhiệm vào các vị trí Thôn trưởng và Xã trưởng.

Ngoài ra, trong chế độ Ngô Đình Diệm hiện tượng “Linh mục chế”, một hình thức

“Siêu chính phủ” đã tạo ra một hệ thống quyền lực mạnh mẽ, trong đó các linh mục nắm giữ quyền hành lớn và không ngần ngại thay thế các quan chức không phải Công giáo bằng những người thân tín của họ Nguyễn Chánh Thi, người lãnh đạo cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm vào ngày 11 tháng 11 năm 1960, đã chỉ ra rằng ở miền Nam, đặc biệt là miền Trung, mỗi tỉnh đều có một linh mục có quyền quyết định và tác động đến chính quyền Họ thậm chí còn nhận đơn kiện từ giáo dân và yêu cầu các quan chức phải xử lý theo ý kiến của mình, nếu không sẽ bị mất chức.

Chính sách của chính quyền Ngô Đình Diệm đối với Công giáo

2.2.1 Chính sách chính trị - quân sự

2.2.1.1 Chủ trương “Công giáo hoá” bộ máy chính trị

Ngay khi mới về miền Nam Việt Nam vào tháng 6 năm 1954, Ngô Đình Diệm đã thực hiện kế hoạch thành lập Đảng Cần lao Nhân vị nhằm đối phó với Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng của giai cấp công nhân được thành lập từ năm 1930 Đảng Cần lao Nhân vị, do Ngô Đình Nhu khởi xướng, được Ngô Đình Diệm công nhận là đảng duy nhất ở miền Nam Tổ chức này được chia thành ba vùng hoạt động: Ngô Đình Nhu lãnh đạo tại Sài Gòn và các khu vực có giáo dân Công giáo di cư, Ngô Đình Cẩn nắm quyền tại miền Trung với danh hiệu “Lãnh chúa miền Trung”, và Ngô Đình Thục lãnh đạo tại Vĩnh Long.

Chính quyền Ngô Đình Diệm đã xây dựng Đảng Cần lao làm nòng cốt cho Phong trào Cách mạng Quốc gia, tổ chức theo cơ cấu chính thể quốc gia, yêu cầu mọi người giữ chức vụ cao phải là đảng viên Đảng Cần lao Hệ tư tưởng của Đảng và phong trào này là "thuyết nhân vị", mà Ngô Đình Diệm đã lấy làm nền tảng cho chế độ của mình Chủ nghĩa nhân vị nhấn mạnh rằng nhân vị phải được đặt lên trên gia đình, đoàn thể, quốc gia và chủ quyền quốc gia, với mục tiêu chính là phát triển nhân vị thay vì đàn áp Tổng thống Ngô Đình Diệm khẳng định rằng "Chủ nghĩa nhân vị là linh hồn của chính thể Cộng hoà", và chỉ có một trường đào tạo duy nhất về tư tưởng này.

"Thuyết nhân vị" được thể hiện qua "Trung tâm Huấn luyện nhân vị Vĩnh Long", do Ngô Đình Thục sáng lập, yêu cầu tất cả cán bộ công chức thuộc chính quyền Ngô Đình Diệm, dù là Công giáo hay không, phải tham gia khóa học ít nhất một tháng Các lớp học do linh mục và tín đồ Công giáo giảng dạy, truyền đạt những khái niệm về Công giáo, đồng thời chỉ trích Phật giáo, Khổng giáo và những sai lầm của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Do đó, để thăng tiến trong chính quyền Ngô Đình Diệm, việc học hỏi và tuân theo giáo lý Công giáo là điều bắt buộc.

Dưới thời Ngô Đình Diệm, mặc dù không tuyên bố chính thức, nhưng Công giáo đã trở thành nền tảng cho chính quyền, ảnh hưởng đến cả tư tưởng lẫn lực lượng vật chất Chính quyền này đã thể hiện sự ưu ái đối với Công giáo trong khi kỳ thị các tôn giáo khác, đặc biệt là Phật giáo Chỉ thị số 10 của Tổng thống Diệm, dựa trên đạo dụ thời thuộc địa, cấm tất cả các hiệp hội tôn giáo, văn hóa, thể dục, ngoại trừ Công giáo, không được phép mua bất động sản mà không có sự chấp thuận của Phủ Tổng thống, qua đó đặt Công giáo ở vị thế cao hơn các tôn giáo khác.

Trong bối cảnh chính trị của Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam, Công giáo đã được đặt lên hàng đầu, với Đảng Cần lao trở thành "Đảng Cần lao Công giáo", ưu tiên người Công giáo cho mọi chính sách, đặc biệt là chính sách nhân sự Điều này dẫn đến việc nhiều đảng viên không theo Công giáo rời bỏ đảng, khiến đa số thành viên còn lại đều là người Công giáo Sự "Công giáo hoá" không chỉ diễn ra trong đảng mà còn lan rộng đến các cấp chính quyền từ tỉnh đến thôn xã, với các chức vụ như tỉnh trưởng, thị trưởng, xã trưởng đều do người Công giáo nắm giữ Lê cung đã chỉ ra rằng “Cần lao là con đường duy nhất để đưa người Công giáo vào chính quyền” Thời kỳ 1955-1963 được đánh giá là thời kỳ vàng son của chủ nghĩa cha chú, nơi mà quyền lực Công giáo chiếm ưu thế, trong khi 90% dân số không theo Công giáo phải sống dưới một chính phủ thiên lệch, với chiếc áo chùng thâm trở thành biểu tượng của quyền lực.

Tại miền Nam, sự đa dạng tôn giáo như Cao Đài, Hòa Hảo, và Phật giáo đã khiến Ngô Đình Diệm cẩn trọng trong việc “Công giáo hoá bộ máy chính trị” khi mới nắm quyền Tuy nhiên, chính quyền của ông lại thể hiện rõ tính chất “Giáo trị” khi bổ nhiệm nhiều tín đồ Công giáo vào các vị trí lãnh đạo như tỉnh trưởng và quận trưởng tại các địa phương như Gia Định, Định Tường, và Vĩnh Long Tại Sài Gòn - Chợ Lớn, dù không có Đô trưởng Công giáo, nhưng các vị trí lãnh đạo chủ chốt vẫn chủ yếu là người Công giáo Đến đầu năm 1963, hầu hết các chức vụ từ tỉnh trưởng đến xã trưởng đều do người Công giáo đảm nhiệm Chính quyền Ngô Đình Diệm đã thực hiện nhiều hành động bạo lực và đàn áp đối với những người không theo đạo Công giáo, dẫn đến nhiều khổ đau cho người dân miền Nam Hoàng Linh Đỗ Mậu trong hồi ký đã chỉ ra rằng, những năm đầu của chế độ Diệm, sự tàn bạo do Đảng Cần Lao Nhân Vị gây ra chưa rõ ràng như khi đảng này chuyển thành Đảng Cần Lao Công giáo.

Trong quân đội, tướng Trần Văn Minh là người Công giáo duy nhất ban đầu, nhưng chính quyền Diệm nhanh chóng bổ nhiệm nhiều người Công giáo vào các vị trí quan trọng và thăng cấp nhanh chóng Những nhân vật như Tướng Huỳnh Văn Cao cùng các sĩ quan cấp tá như Nguyễn Bảo Trị, Lâm Văn Phát, Trần Thanh Chiêu, và nhiều người khác đã được đưa vào các chức vụ then chốt trong quân đội.

Chính quyền Ngô Đình Diệm đã có những quyết định gây tranh cãi khi bổ nhiệm những người Công giáo chưa từng chỉ huy đơn vị vào các vị trí quan trọng như sư đoàn trưởng, điển hình là Trần Thanh Chiêu và Bùi Đình Đạm Những hành động này thể hiện rõ ràng chính sách “Công giáo hoá bộ máy trong quân đội” của chính quyền Diệm.

Chính sách của chính quyền Ngô Đình Diệm thể hiện sự ưu ái đối với Công giáo, cho phép tôn giáo này nắm giữ nhiều vị trí quan trọng trong bộ máy chính quyền Mục tiêu chính là "Công giáo hoá bộ máy chính trị", qua đó biến Công giáo thành "Quốc giáo" tại miền Nam Việt Nam.

2.2.1.2 Những chính sách đối với Công giáo về quân sự

Chính quyền Ngô Đình Diệm đã thực hiện nhiều chính sách ưu đãi đối với Công giáo trong quân đội, đặc biệt là việc bổ nhiệm tín đồ Công giáo vào các vị trí chủ chốt.

Vào ngày 23 tháng 6 năm 1956, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã ban hành Sắc lệnh số 85-QP nhằm tổ chức và điều hành Đoàn Tuyên úy công giáo trong quân đội Sắc lệnh này quy định rõ ràng về việc tuyển mộ, kỷ luật, trang phục và mức lương của nhân viên trong đoàn Tuyên úy công giáo, được điều chỉnh bởi các điều khoản đặc biệt.

Năm 1957, chính quyền Ngô Đình Diệm đã thành lập “Liên đoàn sĩ quan Công giáo” tại Sài Gòn để tập hợp lực lượng Công giáo trong quân đội, nhằm kiểm soát các lãnh đạo quân đội không cùng tín ngưỡng Hệ quả là, lãnh đạo quân đội chủ yếu là người Công giáo, trong khi số lượng binh sĩ Công giáo cũng chiếm ưu thế so với những người không tôn giáo Dưới đây là hai bảng thống kê so sánh quân nhân Công giáo và quân nhân nguyên giáo trong quân đội Việt Nam Cộng hòa năm 1957.

Bảng thống kê quân nhân Công giáo trong quân đội VNCH tháng 9/1957

Nha số trung ương và các quân khu

Sĩ quan Hạ sĩ quan Binh sĩ Cộn g

Nguồn: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Hồ sơ số 1256

Bảng thống kê quân nhân nguyên giáo trong quân đội VNCH tháng 9/1957 Nha số trung ương và các quân khu

Sĩ quan Hạ sĩ quan Binh sĩ Cộn g

Nguồn: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Hồ sơ số 1256

Theo thống kê năm 1957, số lượng sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ Công giáo lên tới 30.529 người, trong khi đó số lượng không Công giáo chỉ có 5.445 người, tức là chỉ bằng khoảng 1/6 so với người Công giáo Sau năm 1957, chính quyền Ngô Đình Diệm tiếp tục tuyển mộ thanh niên Công giáo, đặc biệt là những người di cư từ miền Bắc, dẫn đến sự gia tăng số lượng Công giáo trong quân đội Vào ngày 22/1/1962, Bộ trưởng Công dân vụ Ngô Trọng Hiếu đã báo cáo Tổng thống Ngô Đình Diệm về danh sách 243 thanh niên Công giáo Bắc Việt di cư tình nguyện gia nhập quân đội, và Tổng thống đã đồng ý yêu cầu này.

Vào ngày 19/2/1962, Đổng lý Văn phòng Phó Thủ tướng Trần Hữu Đức đã gửi thông báo đến Bộ Tổng tham mưu Quân đội Việt Nam Cộng hòa về việc tuyển mộ 243 thanh niên công giáo tình nguyện Theo đề nghị của Bộ Công dân vụ, Tổng thống đã chấp thuận cho việc thu nhận 243 thanh niên công giáo Bắc Việt di cư tình nguyện tham gia quân đội, yêu cầu Bộ Tổng tham mưu liên hệ với Bộ Công dân vụ để thực hiện công tác tuyển mộ này.

Chính quyền Ngô Đình Diệm không chỉ tiếp tục tuyển dụng thanh niên Công giáo vào quân đội mà còn nhanh chóng bổ nhiệm tín đồ Công giáo vào những vị trí quan trọng Chính sách này được thể hiện rõ qua việc ban hành nhiều nghị định, trong đó có Nghị định số 286/QP ngày 9/3/1962, cho phép các linh mục tham gia vào các công việc nhà nước.

Nhận định, đánh giá chính sách Công giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm (1955 - 1963)

Ngày đăng: 02/09/2021, 16:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê quân nhân nguyên giáo trong quân đội VNCH tháng 9/1957 Nha số trung ương - Chính sách đối với công giáo của chính quyền ngô đình diệm (1955 1963)
Bảng th ống kê quân nhân nguyên giáo trong quân đội VNCH tháng 9/1957 Nha số trung ương (Trang 40)
Bảng thống kê quân nhân Công giáo trong quân đội VNCH tháng 9/1957 Nha số trung ương - Chính sách đối với công giáo của chính quyền ngô đình diệm (1955 1963)
Bảng th ống kê quân nhân Công giáo trong quân đội VNCH tháng 9/1957 Nha số trung ương (Trang 40)
Dựa vào hai bảng thống kê trên, cho thấy số sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ là người Công giáo rất đông đảo với 30.529 người, trong khi đó sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ là người không Công giáo chiếm số lượng rất ít với 5.445 người, mới chỉ bằng khoảng 1/ - Chính sách đối với công giáo của chính quyền ngô đình diệm (1955 1963)
a vào hai bảng thống kê trên, cho thấy số sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ là người Công giáo rất đông đảo với 30.529 người, trong khi đó sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ là người không Công giáo chiếm số lượng rất ít với 5.445 người, mới chỉ bằng khoảng 1/ (Trang 41)
Bảng thống kê thanh niên Công giáo được thụ huấn tại sư đoàn 7 năm 1960 - Chính sách đối với công giáo của chính quyền ngô đình diệm (1955 1963)
Bảng th ống kê thanh niên Công giáo được thụ huấn tại sư đoàn 7 năm 1960 (Trang 44)
Bảng thống kê thanh niên Công giáo sử dụng vũ khí ở Vĩnh Bình và Kiến Hoà - Chính sách đối với công giáo của chính quyền ngô đình diệm (1955 1963)
Bảng th ống kê thanh niên Công giáo sử dụng vũ khí ở Vĩnh Bình và Kiến Hoà (Trang 45)
Trong “Thập giá và lưỡi gươm” Trần Tam Tĩnh cũng đưa ra bảng số liệu tương tự về tình hình Công giáo ở miền Bắc trước và sau khi di cư: - Chính sách đối với công giáo của chính quyền ngô đình diệm (1955 1963)
rong “Thập giá và lưỡi gươm” Trần Tam Tĩnh cũng đưa ra bảng số liệu tương tự về tình hình Công giáo ở miền Bắc trước và sau khi di cư: (Trang 47)
Bảng thống kê số lượng tín đồ Công giáo miền Bắc trước và sau khi di cư - Chính sách đối với công giáo của chính quyền ngô đình diệm (1955 1963)
Bảng th ống kê số lượng tín đồ Công giáo miền Bắc trước và sau khi di cư (Trang 47)
Phụ lục 2: Một số hình ảnh tư liệu về chính quyền Ngô Đình Diệm • • • • 1 */ “ • - Chính sách đối với công giáo của chính quyền ngô đình diệm (1955 1963)
h ụ lục 2: Một số hình ảnh tư liệu về chính quyền Ngô Đình Diệm • • • • 1 */ “ • (Trang 82)
Hình 3: Quốc huy Đệ nhất Cộng hoà từ 195 5- 1957 - Chính sách đối với công giáo của chính quyền ngô đình diệm (1955 1963)
Hình 3 Quốc huy Đệ nhất Cộng hoà từ 195 5- 1957 (Trang 83)
Hình 4: Quốc huy Đệ nhất Cộng hoà từ 1957 -1963 - Chính sách đối với công giáo của chính quyền ngô đình diệm (1955 1963)
Hình 4 Quốc huy Đệ nhất Cộng hoà từ 1957 -1963 (Trang 83)
Hình 5: Hình ảnh thể hiện số phiếu của cuộc “Trưng cầu Dân ý” - Chính sách đối với công giáo của chính quyền ngô đình diệm (1955 1963)
Hình 5 Hình ảnh thể hiện số phiếu của cuộc “Trưng cầu Dân ý” (Trang 84)
Hình 7: Hình ảnh Ngô Đình Diệm (Nguồn: vi.wikipedia.org) - Chính sách đối với công giáo của chính quyền ngô đình diệm (1955 1963)
Hình 7 Hình ảnh Ngô Đình Diệm (Nguồn: vi.wikipedia.org) (Trang 85)
Hình 9: Hình ảnh Ngô Đình Nhu (Nguồn: vi.wikipedia.org) - Chính sách đối với công giáo của chính quyền ngô đình diệm (1955 1963)
Hình 9 Hình ảnh Ngô Đình Nhu (Nguồn: vi.wikipedia.org) (Trang 87)
Hình 11: Ông Ngô Đình Luyện (Nguồn: vi.wikipedia.org) - Chính sách đối với công giáo của chính quyền ngô đình diệm (1955 1963)
Hình 11 Ông Ngô Đình Luyện (Nguồn: vi.wikipedia.org) (Trang 88)
Hình 13: Nhà thờ Đức Mẹ La Vang (Vương cung Thánh đường) - Chính sách đối với công giáo của chính quyền ngô đình diệm (1955 1963)
Hình 13 Nhà thờ Đức Mẹ La Vang (Vương cung Thánh đường) (Trang 90)
Hình 14: Tượng Đức mẹ Hoà Bình - Chính sách đối với công giáo của chính quyền ngô đình diệm (1955 1963)
Hình 14 Tượng Đức mẹ Hoà Bình (Trang 91)
Phụ lục 3: Một số hình ảnh thể hiện hoạt động của Công giáo thời Ngô Đình Diệm - Chính sách đối với công giáo của chính quyền ngô đình diệm (1955 1963)
h ụ lục 3: Một số hình ảnh thể hiện hoạt động của Công giáo thời Ngô Đình Diệm (Trang 92)
Hình 1: Đức Cha Ngô Đình Thục phát biểu tại một buổi lễ của Công giáo - Chính sách đối với công giáo của chính quyền ngô đình diệm (1955 1963)
Hình 1 Đức Cha Ngô Đình Thục phát biểu tại một buổi lễ của Công giáo (Trang 92)
Hình 4: Lễ mừng Đức Cha Ngô Đình Thục thăng chức - Chính sách đối với công giáo của chính quyền ngô đình diệm (1955 1963)
Hình 4 Lễ mừng Đức Cha Ngô Đình Thục thăng chức (Trang 93)
Hình 3: Hình ảnh Ngô Đình Thục hành hương - Chính sách đối với công giáo của chính quyền ngô đình diệm (1955 1963)
Hình 3 Hình ảnh Ngô Đình Thục hành hương (Trang 93)
Hình 5: Một ngày lễ của Công giáo thu hút rất đông tín đồ - Chính sách đối với công giáo của chính quyền ngô đình diệm (1955 1963)
Hình 5 Một ngày lễ của Công giáo thu hút rất đông tín đồ (Trang 94)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w