1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TIỂU LUẬN môn KINH tế CHÍNH TRỊ MLN

35 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khủng Hoảng Kinh Tế Và Tác Động Của Khủng Hoảng Kinh Tế Trong Nền Kinh Tế Thị Trường
Người hướng dẫn Nguyễn Thanh Hải
Trường học Khoa Luật Thương Mại
Chuyên ngành Kinh Tế Chính Trị
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 0,9 MB

Cấu trúc

  • PHẦN I

  • CƠ SỞ LÝ LUẬN

    • 1. Thị trường

      • 1.1.Khái niệm thị trường

      • 1.2.Phân loại thị trường

      • 1.3.Vai trò của thị trường

    • 2. Cơ chế thị trường

      • 2.1.Khái niệm cơ chế thị trường

      • 2.2. Đặc trưng của cơ chế thị trường

      • 2.3.Ưu điểm và nhược điểm của cơ chế thị trường

    • 3. Nền kinh tế thị trường

      • 3.1.Khái quát về nền kinh tế thị trường

      • 3.2.Các bước phát triển của kinh tế thị trường

      • 3.3. Đặc trưng của nền kinh tế thị trường

    • 4. Khủng hoảng kinh tế

      • 4.1. Khái niệm kinh tế

      • 4.2. Khái niệm khủng hoảng kinh tế

      • 4.3. Phân loại khủng hoảng kinh tế

        • 4.3.1. Khủng hoảng thừa

        • 4.3.2. Khủng hoảng thiếu

        • 4.3.3. Khủng hoảng nợ

      • 4.4. Nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng

  • PHẦN II

  • VẤN ĐỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TRONG THỰC TIỄN

    • 1. Các cuộc khủng hoảng kinh tế trên thế giới

      • 1.1. Đại khủng hoảng (Đại suy thoái) 1929 – 1939

        • 1.1.1. Nguyên nhân:

        • 1.1.2. Diễn biễn:

        • 1.1.3. Hệ quả:

      • 1.2. Cuộc khủng hoảng giá dầu OPEC 1973

        • 1.2.1. Nguyên nhân:

        • 1.2.2. Diễn biến:

        • 1.2.3. Hệ quả:

      • 1.3. Khủng hoảng tiền tệ châu Á 1997

        • 1.3.1. Nguyên nhân:

        • 1.3.2. Diễn biến:

        • 1.3.3. Hệ quả:

      • 1.4. Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007- 2008

        • 1.4.1. Nguyên nhân:

        • 1.4.2. Diễn biến:

        • 1.4.3. Hệ quả:

    • 2. Tác động của khủng hoảng kinh tế trong nền kinh tế thị trường

    • 3. Các giải pháp ứng phó với khủng hoảng kinh tế nói chung

  • PHẦN III

  • LIÊN HỆ VẤN ĐỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ VỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG CỦA VIỆT NAM

    • 1. Khái quát về nền kinh tế ở Việt Nam.

      • 1.1. Kinh tế Việt Nam

      • 1.2. Biểu hiện của nền kinh tế Việt Nam

    • 2. Tác động của các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới tới nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.

      • 2.1. Tác động của Đại khủng hoảng (1929-1939)

      • 2.2. Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 – 2008

    • Biểu đồ 3.1.Biến động khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch của Vn-Index trong quí 4 năm 2008

    • Biểu đồ 3.2.Biến động khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch của HaSTC-Index trong quí 4 năm 2008

    • Biểu đồ 3.3. ICOR Việt Nam qua các giai đoạn

    • 3. Giải pháp của chính phủ

    • 4.Bài học kinh nghiệm

Nội dung

Tiểu luận môn Kinh tế Chính trị Mác Lênin Bài này thuộc sở hữu của nhiều cá nhân Hạn chế sao chép, chỉ nên tham khảo, xin cảm ơn VẤN ĐỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG PHẦN I CƠ SỞ LÝ LUẬNPHẦN II VẤN ĐỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TRONG THỰC TIỄNPHẦN III LIÊN HỆ VẤN ĐỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ VỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG CỦA VIỆT NAM

T HỊ TRƯỜNG

Khái niệm thị trường

Thị trường là không gian mua bán, nơi giao thoa giữa cung và cầu, giữa người mua và người bán Đây cũng là nơi tập trung các mâu thuẫn kinh tế, đánh dấu điểm khởi đầu và kết thúc của quá trình kinh doanh Theo C Mác, thị trường xuất hiện khi có sự phân công lao động xã hội và sản xuất hàng hóa, thể hiện sự phát triển không ngừng của nền kinh tế.

Trong thị trường, giá cả đóng vai trò trung tâm, là yếu tố quyết định điều tiết và kích thích nền sản xuất xã hội Thông qua giá cả, thị trường thực hiện các chức năng điều tiết và kích thích, trong đó quan hệ cung-cầu là hai phạm trù kinh tế chủ yếu Mối quan hệ giữa cung và cầu trên thị trường quyết định giá cả, ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động kinh tế.

Thị trường hoạt động theo các quy luật kinh tế khách quan như cung cầu, cạnh tranh, giá cả và giá trị, được gọi là cơ chế tự điều tiết Tuy nhiên, bên cạnh sự vận động tự nhiên của các quy luật này, thị trường còn chịu sự tác động từ các cơ quan quản lý nhà nước như chính phủ, các bộ ngành và địa phương Những tổ chức này tham gia nhằm khắc phục những mặt trái của kinh tế thị trường tự điều tiết, dẫn đến sự hình thành cơ chế thị trường hỗn hợp với sự điều tiết của nhà nước.

Với xu hướng khu vực hóa và toàn cầu hóa, thị trường ngày càng mở rộng, kết nối thị trường khu vực với thị trường thế giới và thị trường quốc gia với thị trường quốc tế Điều này thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển toàn diện hơn.

Phân loại thị trường

Nghiên cứu thị trường có nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau, tùy thuộc vào tiêu chí và mục đích nghiên cứu Do đó, việc phân loại thị trường cũng được thực hiện dựa trên nhiều lĩnh vực khác nhau.

Thị trường hàng hóa có thể được phân chia thành hai loại chính dựa trên đối tượng hàng hóa được trao đổi: thị trường tư liệu sản xuất và thị trường tư liệu tiêu dùng.

Căn cứ vào đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất, thị trường có thể được chia thành các yếu tố đầu vào và thị trường hàng hóa đầu ra.

 Căn cứ vào phạm vi hoạt động có thể chia ra thị trường trong nước và thị trường thế giới.

Thị trường có thể được phân loại dựa trên tính chuyên biệt của nó, gắn liền với các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội Các loại thị trường bao gồm thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán, thị trường nông sản, và thị trường dầu khí, mỗi loại thị trường phục vụ cho những nhu cầu và mục đích riêng biệt.

Vai trò của thị trường

Trong mối quan hệ giữa sản xuất và trao đổi hàng hóa, thị trường đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế Thị trường không chỉ tạo điều kiện cho việc trao đổi hàng hóa mà còn góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững.

 Thứ nhất, thị trường là yếu tố quyết định sự sống còn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:

Trong nền kinh tế hàng hóa, mục tiêu của các nhà sản xuất là tạo ra sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Do đó, doanh nghiệp không thể hoạt động độc lập mà phải liên kết chặt chẽ với thị trường Quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, bắt đầu từ việc mua nguyên vật liệu, thiết bị trên thị trường đầu vào, tiếp theo là sản xuất ra sản phẩm và cuối cùng là tiêu thụ chúng trên thị trường đầu ra.

Thị trường càng mở rộng và phát triển, lượng hàng hóa tiêu thụ càng tăng, dẫn đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng cao hơn Ngược lại, khi mất thị trường, sản xuất kinh doanh sẽ bị đình trệ và doanh nghiệp có nguy cơ phá sản Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, có thể khẳng định rằng thị trường đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

Thị trường điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa vào thứ Hai đóng vai trò quan trọng trong việc phân bổ nguồn lực hiệu quả trong nền kinh tế.

Thị trường đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn sản xuất và kinh doanh trong nền kinh tế thị trường Các nhà sản xuất cần dựa vào cung cầu và giá cả để quyết định sản xuất cái gì, như thế nào và cho ai Sản xuất phải xuất phát từ nhu cầu của khách hàng và tìm cách thỏa mãn nhu cầu đó, thay vì từ ý kiến chủ quan của mình Trong bối cảnh nền sản xuất hiện đại, hàng hóa và dịch vụ ngày càng phong phú, việc tiêu thụ trở nên khó khăn hơn Do đó, các thành viên trong xã hội cần nỗ lực và sáng tạo để thích ứng với sự phát triển của thị trường.

Thông qua các quy luật thị trường, nguồn lực sản xuất được phân bổ hiệu quả đến các chủ thể sử dụng, giúp tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên Thị trường tạo cơ chế lựa chọn các chủ thể có khả năng sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả nhất trong quá trình sản xuất.

 Thứ ba, thị trường gắn kết nền kinh tế thành một chỉnh thể, gắn kết nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới.

Thị trường đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối nền kinh tế thành một thể thống nhất, liên kết các chủ thể giữa các khâu và vùng miền trong quốc gia Nó không chỉ thúc đẩy sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hóa, mà còn mở rộng ra xuất khẩu trên phạm vi toàn cầu Đồng thời, thị trường phá vỡ ranh giới sản xuất tự nhiên, tự cấp, tự túc, giúp hình thành một hệ thống kinh tế nhất định trên toàn cầu.

C Ơ CHẾ THỊ TRƯỜNG

Khái niệm cơ chế thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, các quy luật kinh tế như quy luật giá trị, quy luật cung - cầu và quy luật cạnh tranh đóng vai trò quan trọng, thể hiện qua sự biến động của giá cả thị trường Sự thay đổi này dẫn đến sự thích ứng tự phát giữa tổng cung và tổng cầu, giúp điều tiết hoạt động sản xuất trong xã hội.

Cơ chế thị trường là hệ thống tự điều tiết của nền kinh tế, hoạt động theo các quy luật kinh tế vốn có Nó bao gồm sự tương tác giữa các yếu tố như giá cả, cung cầu và cạnh tranh, nhằm điều tiết nền kinh tế một cách hiệu quả Cơ chế này hoạt động như một bộ máy tinh vi, phối hợp hành động của người tiêu dùng và nhà sản xuất mà không cần sự can thiệp bên ngoài Thị trường và cơ chế thị trường phát triển song song với sự tiến bộ của sản xuất hàng hóa, nơi có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có thị trường hoạt động.

Trong một thị trường có hai nhà sản xuất nước ngọt cạnh tranh, một sản xuất nước cam và một sản xuất nước chanh, nếu nhu cầu tiêu thụ nước cam giảm, cầu về nước cam sẽ giảm trong khi cầu về nước chanh sẽ tăng Để đối phó với sự giảm cầu này, nhà sản xuất nước cam sẽ hạ giá bán Đồng thời, nhà sản xuất nước chanh sẽ tăng giá để đáp ứng với cầu tăng Tuy nhiên, khi giá nước chanh tăng, người tiêu dùng sẽ giảm mua nước chanh và chuyển sang mua nhiều hơn nước cam do giá nước cam đã rẻ hơn Nhờ đó, cầu về hai mặt hàng này sẽ trở lại mức cân bằng ổn định.

Đặc trưng của cơ chế thị trường

Cơ chế thị trường là hệ thống các quan hệ kinh tế tự điều chỉnh, giúp cân bằng nền kinh tế Một số đặc trưng chủ yếu của cơ chế thị trường bao gồm khả năng tự điều chỉnh, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, và vai trò của cung cầu trong việc xác định giá cả.

Việc phân bố sử dụng các nguồn tài nguyên và nguyên liệu đầu vào chủ yếu được điều chỉnh theo quy luật của kinh tế thị trường, trong đó quy luật cung cầu đóng vai trò cốt lõi.

Các mối quan hệ kinh tế thị trường được thể hiện thông qua việc tự do tiền tệ hóa Người bán và người mua tương tác qua thị trường để xác định giá cả hàng hóa và dịch vụ.

- Động lực chính phát triển kinh tế là lợi nhuận thu được.

- Việc sản xuất kinh doanh và tiêu dùng sản phẩm do hai phía cung và cầu quyết định.

- Môi trường, động lực, phương tiện thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển là cạnh tranh.

- Khách hàng là nhân vật trung tâm và nhà sản xuất ra đời để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

- Có sự chênh lệch giàu nghèo, phân hóa lao động trong xã hội.

- Có thể xuất hiện bất cập cần có sự điều tiết của nhà nước như môi trường, khủng khoảng và nhiều vấn đề xã hội khác.

- Có xu hướng phát triển kinh tế mang tính hội nhập khu vực và quốc tế.

N ỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Khái quát về nền kinh tế thị trường

Nền kinh tế thị trường là một hệ thống kinh tế hoạt động dựa trên cơ chế thị trường, nơi mọi quan hệ sản xuất và trao đổi diễn ra thông qua thị trường và chịu sự tác động của các quy luật thị trường Đây là sản phẩm của văn minh nhân loại, xuất hiện và phát triển khách quan trong lịch sử Nền kinh tế thị trường đánh dấu một giai đoạn phát triển quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng phải trải qua để đạt được những bước tiến cao hơn trong quá trình phát triển kinh tế.

Theo P Samuelson, một nhà kinh tế học hàng đầu, nền kinh tế thị trường là một cơ chế phức tạp giúp phối hợp hoạt động của các doanh nghiệp và cá nhân thông qua hệ thống giá cả Ông cho rằng đây là một phương tiện giao tiếp quan trọng, cho phép tập hợp tri thức và hành động của hàng triệu người khác nhau.

Các bước phát triển của kinh tế thị trường

 Từ nền kinh tế tự nhiên chuyển sang nền kinh tế hàng hoá giản đơn

Nền kinh tế tự nhiên là đặc điểm chung của tất cả các phương thức sản xuất trong chủ nghĩa tư bản, với sự ưu thế của sản xuất nhỏ Đây là một hệ thống kinh tế được hình thành từ nhiều đơn vị kinh tế độc lập, mỗi đơn vị tự đảm nhận việc sản xuất để tạo ra các sản phẩm cuối cùng.

Trong các nền kinh tế tự nhiên, ruộng đất là nguồn tài nguyên sản xuất chính, với nông nghiệp là ngành sản xuất cơ bản Sản xuất chủ yếu dựa vào lao động chân tay và hướng đến giá trị sử dụng, mang tính tự cung, tự cấp Để tiến lên sản xuất hàng hóa giản đơn, xã hội cần phát triển phân công lao động, từ đó hình thành thị trường nội địa và các khu vực chuyên môn hóa Các nhà sản xuất ở những vùng khác nhau, với điều kiện tự nhiên và ưu thế riêng, sẽ trao đổi sản phẩm của mình để lấy những sản phẩm cần thiết cho cuộc sống và sản xuất Sự phát triển của trao đổi, mua bán, thị trường và tiền tệ đã dẫn đến sự hình thành sản xuất hàng hóa.

 Từ nền kinh tế hàng hoá giản đơn chuyển sang nền kinh tế tự do cổ điển

Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế giản đơn sang nền kinh tế tự do cổ điển diễn ra qua ba giai đoạn phát triển, bao gồm sự tiến bộ về lực lượng sản xuất và sự thay đổi trong quan hệ sản xuất.

Kỹ thuật thủ công dựa trên lao động hợp tác giản đơn đã góp phần quan trọng vào sự xuất hiện của sản xuất lớn trong bối cảnh tư bản chủ nghĩa, nâng cao năng suất lao động xã hội Việc chuyển từ sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn thông qua hợp tác giản đơn đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế.

Sự phát triển của hiệp tác giản đơn trong chủ nghĩa tư bản dẫn đến việc hình thành các công trường thủ công tư bản chủ nghĩa Đây là hình thức hợp tác có phân công, trong đó các thợ thủ công cùng nghề hoặc khác nghề tập hợp lại trong một xưởng để sản xuất một loại hàng hóa nhất định Công trường thủ công được xây dựng dựa trên cơ sở kỹ thuật thủ công, tạo ra một môi trường làm việc hiệu quả và chuyên môn hóa.

Đại công nghiệp cơ khí, dựa trên nền tảng kỹ thuật thủ công, không thể phát triển vững chắc nếu không có sự chuyển mình từ chủ nghĩa tư bản Quá trình này đã tạo ra một cơ sở kỹ thuật mới với sự xuất hiện của máy móc, đưa chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn công trường thủ công lên đại công nghiệp cơ khí Nhờ đó, năng suất lao động xã hội tăng cao, thúc đẩy sự xã hội hóa lao động và sản xuất, mở rộng thị trường, và hình thành các trung tâm công nghiệp cùng những thành phố lớn Đồng thời, điều này cũng tạo ra những tiền đề vật chất kỹ thuật mang tính cách mạng.

 Từ nền kinh tế thị trường tự do chuyển sang nền kinh tế thị trường hỗn hợp.

Sau những phát triển của kinh tế hàng hóa giản đơn và kinh tế thị trường tự do, nền kinh tế thị trường hỗn hợp đã ra đời Sự xuất hiện này là kết quả của những khuyết tật trong cơ chế thị trường thuần túy, dẫn đến sự phá vỡ cân đối của nền kinh tế và gây lãng phí nhiều nguồn lực như tư liệu sản xuất và lao động, đồng thời tạo ra sự phân hóa xã hội Kinh tế thị trường hỗn hợp, với sự can thiệp của nhà nước, đã khắc phục được phần lớn tác động xấu của nền kinh tế thị trường ban đầu.

Trong lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản thời kỳ tự do cạnh tranh, kinh tế thị trường phát triển theo tư tưởng lý thuyết bàn tay vô hình, dẫn đến việc nhà nước không can thiệp vào kinh tế Tuy nhiên, điều này đã dẫn đến những khủng hoảng kinh tế sau này.

Từ năm 1929 đến 1933, lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp đã xuất hiện vào năm 1948, kết hợp giữa sự điều tiết của thị trường (Bàn tay vô hình) và sự can thiệp của chính phủ (Bàn tay hữu hình) Cả hai yếu tố này đều ảnh hưởng đến nền kinh tế, từ đó nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc khắc phục những nhược điểm tồn tại.

Đặc trưng của nền kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường yêu cầu sự đa dạng của các chủ thể kinh tế và nhiều hình thức sở hữu Tất cả các chủ thể kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, điều này tạo ra sự lựa chọn đa dạng về hình thức sở hữu Sự đa dạng này giúp khai thác tối đa thế mạnh của mọi nguồn lực kinh tế nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng.

Thị trường đóng vai trò quyết định trong việc phân bố các nguồn lực xã hội, thông qua hoạt động của các thị trường bộ phận như thị trường hàng hóa, thị trường dịch vụ, thị trường lao động, thị trường tài chính, thị trường bất động sản và thị trường khoa học công nghệ.

Thị trường đóng vai trò quan trọng trong việc huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chính để giải phóng sức sản xuất mà nhà nước phân bổ theo chiến lược và quy hoạch phù hợp Do đó, việc xây dựng nền kinh tế thị trường là cần thiết, đồng thời nâng cao vai trò của Nhà nước và phát huy vai trò của xã hội Các hoạt động này diễn ra đồng thời, tạo tiền đề cho nhau và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Giá cả được xác định theo nguyên tắc thị trường, trong đó cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường.

Các quy luật kinh tế quyết định sự vận động của thị trường, từ đó hình thành và điều chỉnh giá cả Những yếu tố thị trường như cung, cầu, sức mua của tiền tệ và giá cả các hàng hóa khác cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả.

Cạnh tranh là yếu tố thiết yếu trong hoạt động kinh tế, nhằm chiếm lĩnh thị phần và tối đa hóa lợi nhuận Nó đóng vai trò quan trọng trong sản xuất hàng hóa và nền kinh tế nói chung Tích cực, cạnh tranh nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, mang lại giá trị tối ưu cho khách hàng Tuy nhiên, cạnh tranh cũng có mặt tiêu cực, như làm gia tăng phân hóa giàu nghèo và có thể dẫn đến những hành vi không lành mạnh, vi phạm pháp luật Do đó, cạnh tranh kinh tế cần được điều chỉnh bởi các định chế xã hội và sự can thiệp của nhà nước để đảm bảo sự công bằng và bền vững.

- Thứ tư, động lực trực tiếp của các chủ thể sản xuất kinh doanh là lợi ích kinh tế - xã hội.

Theo Ph Ăngghen, các quan hệ kinh tế của một xã hội thể hiện rõ ràng qua lợi ích Lợi ích kinh tế - xã hội không chỉ đáp ứng nhu cầu vật chất cơ bản cho sự tồn tại và phát triển của con người mà còn tạo nền tảng cho việc thực hiện các lợi ích khác Khi đời sống vật chất của xã hội được cải thiện, đời sống tinh thần cũng sẽ được nâng cao.

Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý các quan hệ kinh tế, khắc phục những khuyết tật của thị trường và thúc đẩy các yếu tố tích cực Điều này không chỉ đảm bảo sự bình đẳng xã hội mà còn góp phần vào sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế.

Thị trường có những khuyết tật và cơ chế thị trường có thể thất bại trong việc giải quyết một số vấn đề phát triển Để khắc phục những khuyết điểm này và tránh thất bại thị trường, nhà nước cần tham gia quản lý và điều tiết sự vận hành của nền kinh tế Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong các quá trình kinh tế thị trường, không chỉ với tư cách là bộ máy quản lý xã hội mà còn là một yếu tố nội tại của cơ chế vận hành kinh tế.

- Thứ sáu, kinh tế thị trường là nền kinh tế mở, thị trường trong nước gắn liền với thị trường quốc tế.

Kế thừa có chọn lọc những thành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại, tuân thủ các nguyên tắc và quy ước quốc tế để thực hiện tự do hóa trong các lĩnh vực như thương mại, đầu tư, tài chính và lao động Điều này bao gồm việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, chuyển giao các thành tựu và sáng chế khoa học công nghệ hiện đại cho các quốc gia.

K HU ̉ NG HOA ̉ NG KINH TÊ ́

Khái niệm kinh tế

Kinh tế được định nghĩa là các hoạt động tạo ra sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ thông qua việc sử dụng tài nguyên sẵn có, nhằm mục đích trao đổi và thu về lợi nhuận cao hơn giá trị ban đầu Nó bao gồm toàn bộ quy trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ của một cộng đồng, quốc gia hoặc giữa các quốc gia khác nhau Khái niệm kinh tế giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cơ cấu và hoạt động của nền kinh tế mà mỗi quốc gia đang tồn tại và phát triển.

Khái niệm khủng hoảng kinh tế

Khái niệm kinh tế liên quan chặt chẽ đến vấn đề khủng hoảng kinh tế, một chủ đề đã được nhiều nhà kinh tế học và học thuyết kinh tế nghiên cứu Trong số đó, quan điểm của Karl Marx, nhà kinh tế học lý luận chính trị, được đánh giá là phù hợp nhất Marx cho rằng khủng hoảng là đặc trưng riêng của chế độ tư bản chủ nghĩa, không phải ngẫu nhiên mà bắt nguồn từ bản chất của chủ nghĩa tư bản như một hình thái xã hội Khủng hoảng thực chất là sự biến hóa của các hàng hóa, dẫn đến việc mua và bán bị tách rời khỏi nhau.

Trong học thuyết Kinh tế chính trị của Marx-Lenin, khủng hoảng kinh tế thường nhanh chóng chuyển sang giai đoạn suy thoái Suy thoái kinh tế được định nghĩa trong kinh tế học vi mô là sự giảm sút tổng sản phẩm quốc nội trong hai hoặc nhiều quý liên tiếp, tuy nhiên định nghĩa này không được chấp nhận rộng rãi Cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia (NBER) của Hoa Kỳ định nghĩa suy thoái là sự giảm hoạt động kinh tế trên toàn quốc kéo dài nhiều tháng Suy thoái kinh tế có thể liên quan đến sự suy giảm đồng thời của các chỉ số kinh tế như việc làm, đầu tư và lợi nhuận doanh nghiệp Các thời kỳ suy thoái có thể đi kèm với tình trạng giảm giá cả hoặc ngược lại, tăng nhanh giá cả trong thời kỳ đình trệ.

Khủng hoảng kinh tế là sự suy giảm kéo dài của các hoạt động kinh tế, thường đi kèm với xung đột gia tăng trong xã hội Hiện tượng này không chỉ gây ra những chấn động nghiêm trọng cho nền kinh tế mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến các lĩnh vực chính trị và xã hội Khủng hoảng kinh tế có nhiều loại khác nhau, nhưng tất cả đều có tác động xấu đến sự phát triển của một quốc gia cũng như nền kinh tế toàn cầu.

Phân loại khủng hoảng kinh tế

Có nhiều cách để phân loại các cuộc khủng hoảng kinh tế, nhưng cơ bản, chúng tồn tại dưới ba hình thức chính.

4.3.1 Khủng hoảng thừa

Khủng hoảng thừa xảy ra khi cung vượt cầu, dẫn đến sản xuất hàng hóa và dịch vụ vượt quá nhu cầu tiêu dùng Hành động đầu cơ của các "ông chủ lớn" đã làm giá cả tăng cao đến mức không hợp lý Khi bong bóng giá vỡ, giá sản phẩm sụt giảm nghiêm trọng, gây ra hậu quả như nhà đầu tư mất tiền, người lao động thất nghiệp, và nhiều doanh nghiệp bị phá sản.

- Điển hình về khủng hoảng thừa là cuộc khủng hoảng thế giới 1929- 1933

4.3.2 Khủng hoảng thiếu

Khủng hoảng thiếu xảy ra khi nguồn cung sản phẩm hàng hóa giảm mạnh trong khi nhu cầu tiêu dùng tăng cao, dẫn đến tình trạng cung không đủ cầu Nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng này, bao gồm thiên tai, lũ lụt, gia tăng dân số, cạn kiệt tài nguyên, thiếu lao động sản xuất và công nghệ chưa phát triển Người tiêu dùng là những người chịu thiệt thòi nhất trong cuộc khủng hoảng thiếu, khi giá thành sản phẩm và dịch vụ trên thị trường bị đẩy cao hơn nhiều so với giá trị thực của chúng.

- Điển hình về khủng hoảng thiếu là cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới năm 1973

4.3.3 Khủng hoảng nợ

Khủng hoảng nợ công xảy ra khi thâm hụt ngân sách vượt quá khả năng kiểm soát của chính phủ, dẫn đến suy giảm nghiêm trọng các hoạt động kinh tế Nguyên nhân của khủng hoảng này bao gồm thâm hụt ngân sách kéo dài, hệ thống giám sát tài chính không theo kịp biến động của thị trường và sự cần thiết phải kêu gọi hỗ trợ tài chính từ các quốc gia và tổ chức quốc tế Hệ quả là lòng tin của nhà đầu tư giảm sút, gây ra tình trạng thối lui đầu tư và tiềm ẩn nguy cơ đình công, biểu tình.

- Điển hình là cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu (2009-2014)

Ngoài ba dạng cơ bản, khủng hoảng kinh tế còn được phân chia thành nhiều phân khúc khác nhau dựa trên các lĩnh vực và hoạt động, bao gồm khủng hoảng trung gian và khủng hoảng cơ cấu.

Khủng hoảng trung gian là cuộc khủng hoảng nhẹ xảy ra giữa hai cuộc khủng hoảng lớn, như ví dụ tại Mỹ từ 1948-1949 đến 1957-1958, với khủng hoảng trung gian 1953-1954; hoặc từ 1957-1958 đến 1969-1970, với khủng hoảng trung gian 1960-1961 Trong khủng hoảng trung gian 1953-1954, đầu tư của Mỹ giảm nhẹ khoảng 3,2%, nguyên nhân chủ yếu do chiến tranh Triều Tiên chấm dứt.

Mỹ cắt giảm chi tiêu quân sự.

Cuộc khủng hoảng trung gian diễn ra từ năm 1960 đến 1961 khi nền kinh tế Mỹ vẫn chưa phục hồi hoàn toàn từ hậu quả của khủng hoảng 1957-1958 Trong giai đoạn này, mức đầu tư chưa thể quay trở lại mức của năm 1957, với sự giảm nhẹ chỉ khoảng 4,8%.

Khủng hoảng cơ cấu là một tình trạng khủng hoảng xảy ra trong từng ngành và lĩnh vực cụ thể, bao gồm khủng hoảng năng lượng, nguyên liệu, dầu mỏ và tiền tệ Những khủng hoảng này có thể ảnh hưởng sâu rộng đến nền kinh tế và yêu cầu các giải pháp kịp thời để khôi phục sự ổn định.

Khủng hoảng dầu mỏ diễn ra khi các nước sản xuất dầu hạn chế xuất khẩu, dẫn đến giảm cung ứng và đẩy giá dầu lên cao, gây chao đảo kinh tế ở các nước nhập khẩu Trong khủng hoảng dầu mỏ lần thứ nhất (1973-1974), giá dầu tăng 287%, từ 3,01 USD/thùng lên 11,65 USD/thùng Khủng hoảng lần thứ hai (1979-1980) chứng kiến giá dầu tăng 223%, từ 12,7 USD/thùng lên mức cao hơn.

Trong những năm gần đây, giá dầu thế giới đã trải qua nhiều biến động bất thường Vào tháng 7 năm 2008, giá dầu đạt mức kỷ lục 147 USD/thùng, nhưng sau đó đã giảm dần và chạm đáy ở mức 32 USD/thùng do ảnh hưởng của sự suy giảm nhu cầu toàn cầu do cuộc khủng hoảng kinh tế.

Khủng hoảng tiền tệ là hiện tượng giá trị đồng tiền quốc gia giảm mạnh và nhanh chóng so với ngoại tệ, khiến chính phủ gặp khó khăn trong việc kiểm soát tỷ giá hối đoái Khi ngân hàng trung ương can thiệp để bảo vệ giá trị tiền tệ, dự trữ ngoại hối quốc gia có thể bị tổn thất nghiêm trọng Một trong những mô hình khủng hoảng tiền tệ được nghiên cứu là sự tấn công của các nhà đầu cơ vào đồng tiền của một quốc gia, đặc biệt khi họ nắm giữ nhiều tiền hơn ngân hàng trung ương của quốc gia đó, dẫn đến khủng hoảng tiền tệ.

Kinh tế toàn cầu, bao gồm cả Mỹ, đang đối mặt với nguy cơ khủng hoảng tiền tệ Kể từ những năm 70 của thế kỷ XX, đồng đôla Mỹ đã trải qua hai giai đoạn suy giảm nghiêm trọng Lần đầu tiên vào cuối những năm 70, tỷ giá hối đoái của đôla Mỹ giảm xuống mức thấp nhất trong lịch sử, và lần thứ hai từ năm 1985 đến 1987, khi đồng đôla tiếp tục sụt giá trong suốt hai năm Sự mất giá của đôla Mỹ đã làm giảm dự trữ đôla trên toàn cầu.

Sự biến động của đồng đôla Mỹ đã khiến thị trường tài chính quốc tế rơi vào tình trạng hỗn loạn và không ổn định Ngoài việc giảm giá theo chu kỳ, nguyên nhân giảm giá của đồng đôla còn xuất phát từ sự cạnh tranh từ đồng Euro và một số đồng tiền mạnh khác.

 Nguyên nhân của khủng hoảng cơ cấu là do:

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã tạo ra những ngành kinh tế mới như công nghiệp năng lượng và công nghiệp vật liệu, nhưng đồng thời cũng làm suy thoái các ngành nghề truyền thống Chẳng hạn, sự ra đời của công nghiệp vật liệu mới đã khiến ngành công nghiệp sắt thép phải đối mặt với cạnh tranh gay gắt Nhiều sản phẩm trước đây sử dụng nguyên liệu sắt, thép giờ đây đã chuyển sang vật liệu nhựa với tính năng vượt trội, dẫn đến sự suy giảm trong ngành công nghiệp sắt thép.

Trước chiến tranh, các nước lạc hậu chủ yếu cung cấp nguyên vật liệu cho các nước tư bản phát triển Sau chiến tranh, những nước này giành được độc lập ở mức độ khác nhau và tìm cách thoát khỏi sự phụ thuộc vào các nước tư bản Một trong những biện pháp họ thường áp dụng là giảm quy mô khai thác và sản lượng cung ứng trên thị trường thế giới, điều này đã tạo ra cú sốc cho những quốc gia trước đây thường xuyên nhập khẩu nguyên, nhiên, vật liệu từ họ.

Nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng

Theo Karl Marx, khủng hoảng kinh tế trong chủ nghĩa tư bản xuất phát từ mâu thuẫn nội tại của hệ thống này Mâu thuẫn chính nằm giữa trình độ xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất và chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất.

Mâu thuẫn giữa tính tổ chức và tính kế hoạch trong từng xí nghiệp thể hiện sự chặt chẽ và khoa học, trong khi đó, khuynh hướng tự phát vô chính phủ của tư bản thương nghiệp lại tồn tại trong toàn xã hội.

+ Mâu thuẫn giữa tính chuyên môn hóa trong lao động với cơ cấu lao động bất hợp lý

Mâu thuẫn giữa xu hướng tích lũy và mở rộng không có giới hạn của tư bản với sức mua ngày càng hạn hẹp của quần chúng do bị bần cùng hóa đang trở nên rõ ràng Tình trạng này dẫn đến sự chênh lệch ngày càng lớn giữa các tầng lớp xã hội, gây ra những hệ lụy nghiêm trọng cho nền kinh tế Sự gia tăng bần cùng hóa không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của người lao động mà còn làm giảm sức mua, từ đó tác động tiêu cực đến sự phát triển bền vững của thị trường.

+ Mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp tư bản và giai cấp lao động làm thuê

+ Mất cân đối giữa tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng.

Lý thuyết khủng hoảng kinh tế của C Mác phân tích sự chuyển mình từ sản xuất hàng hóa giản đơn đến sản xuất lớn trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản Ông coi khủng hoảng kinh tế là hệ quả tất yếu của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, với nguyên nhân sâu xa là những mâu thuẫn trong xã hội tư bản, đặc biệt là mâu thuẫn giữa sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và tính chất hạn hẹp của chế độ sở hữu tư nhân Dựa trên lý thuyết giá trị và giá trị thặng dư, C Mác khẳng định công nhân sản xuất ra giá trị mà họ không thể mua hết, đó chính là giá trị thặng dư Nền sản xuất tư bản chủ nghĩa chỉ tồn tại khi công nhân phải liên tục sản xuất giá trị thặng dư cho nhà tư bản, dẫn đến sự bóc lột gia tăng giá trị thặng dư.

Sản xuất "thừa" là tình trạng tự nhiên trong hệ thống tư bản, nơi công nhân chỉ có thể mua một phần rất nhỏ sản phẩm họ tạo ra, không đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính mình Họ chỉ có thể tiêu dùng sản phẩm khi tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản, dẫn đến tình trạng sản xuất thừa so với sức cầu của người lao động Trong chủ nghĩa tư bản, vốn không ngừng vận động và mở rộng, cùng với quá trình tái sản xuất mở rộng, các mâu thuẫn nội tại ngày càng phát triển và trở nên gay gắt hơn Cuối cùng, những mâu thuẫn này có thể dẫn đến khủng hoảng kinh tế, là cách giải quyết tạm thời và thiết lập lại sự cân bằng mới cho nền sản xuất.

Không chỉ đúng với các cuộc khủng hoảng nửa cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ

XX, những lý luận của Karl Marx còn chính xác với các cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay.

C A ́ C CUÔ ̣ C KHU ̉ NG HOA ̉ NG KINH TÊ ́ TRÊN THÊ ́ GIƠ ́ I

Đại khủng hoảng (Đại suy thoái) 1929 – 1939

Đại khủng hoảng (tiếng Anh: The Great Depression) kéo dài 10 năm từ năm

Giai đoạn từ năm 1929 đến 1939 bắt đầu sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Phố Wall (Mỹ) được biết đến là thảm họa tài chính tồi tệ nhất của thế kỷ 20 Thảm họa này đã gây ra sự tàn phá nghiêm trọng đối với nền kinh tế của nhiều quốc gia phát triển vào thời điểm đó.

Sau Thế chiến thứ I, sự phát triển mạnh mẽ của các công ty đầu tư sản xuất đã làm tăng nguồn cung, trong khi hệ thống phân phối xã hội tại Mỹ lại rất bất công Người lao động không nhận được phần xứng đáng trong chỉ số tăng trưởng kinh tế, dẫn đến một cuộc khủng hoảng thừa Hệ quả là nhiều nhà tư bản vừa và nhỏ đã phải đối mặt với tình trạng phá sản hàng loạt.

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã góp phần vào sự hình thành của Đại khủng hoảng bằng cách áp dụng các chính sách tiền tệ sai lầm, bao gồm việc tăng lãi suất cho vay trong suốt cuộc khủng hoảng, không tăng cung tiền để chống lại tình trạng giảm phát, và bỏ mặc các ngân hàng gặp khó khăn, dẫn đến sự sụt giảm niềm tin của người tiêu dùng.

Vào ngày 24 tháng 10 năm 1929, Phố Wall rơi vào tình trạng hỗn loạn khi gần 13 triệu cổ phiếu, gấp ba lần số lượng giao dịch bình thường, bị các nhà đầu tư hoảng loạn bán tháo trên thị trường chứng khoán New York.

Cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ đã gây ra sự chao đảo nghiêm trọng trên thị trường tài chính và chứng khoán toàn cầu, dẫn đến sự phá sản của nhiều ngân hàng và công ty tài chính Hệ quả là nhiều tập đoàn kinh tế lớn ở các quốc gia như Anh, Đức, và Nhật Bản cũng bị ảnh hưởng, gây suy giảm đáng kể trong các quan hệ thương mại, tài chính và đầu tư quốc tế, ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới.

GDP của Mỹ đã giảm 25% so với thời điểm trước khủng hoảng, trong khi sản lượng công nghiệp giảm từ 45% đến 50% Hơn 11.500 doanh nghiệp vừa và nhỏ đã phá sản, và số lượng ngân hàng giảm 35%.

Đời sống của nhân dân đang chịu ảnh hưởng nghiêm trọng, với tỷ lệ công nhân thất nghiệp gia tăng đáng kể Mức lương giảm tới 56% so với trước đây, trong khi giá cả nông sản cũng giảm mạnh Tình trạng biểu tình và bãi công diễn ra liên tục, phản ánh sự bất mãn của người lao động.

- Tại các quốc gia khác:

+ Anh: sản lượng thương nghiệp giảm 60%, 3 triệu người thất nghiệp…

+ Đức: sản lượng công nghiệp giảm 77%, 15 vạn công nhân bãi công ( 1930)…

Hậu quả lớn nhất của cuộc khủng hoảng này chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên Chiến tranh thế giới thứ 2.

Cuộc khủng hoảng giá dầu OPEC 1973

Tổ chức các quốc gia Ả Rập xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) đã ban hành lệnh cấm vận dầu mỏ đối với các nước ủng hộ Israel trong cuộc chiến tranh Yom Kippur, đặc biệt là Mỹ và các đồng minh của Mỹ.

Bắt đầu từ ngày 17/10/1973, OPEC tuyên bố sẽ trừng phạt các đồng minh của Israel bằng cách cấm vận dầu mỏ cho đến khi Israel rút khỏi những vùng chiếm đóng và trả lại quyền cho người dân Palestine.

Trước đây, giá dầu được các công ty tự định, nhưng từ tháng 12/1973, OPEC đã tuyên bố các thành viên sẽ tự quyết định mức giá dầu xuất khẩu Kết quả là giá dầu đã tăng lên 11,65 USD một thùng, cao hơn 130% so với tháng 10 và tăng 387% so với cùng kỳ năm trước Đến tháng 12 năm 1974, thị trường dầu mỏ mới bắt đầu có dấu hiệu suy thoái.

Lượng dầu bị cắt giảm tương đương 7% sản lượng toàn cầu đã dẫn đến sự gia tăng đột ngột giá dầu, gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu từ năm 1973 đến 1975.

- Đây được xem là cơn khủng hoảng đáng nhớ nhất trong thời kỳ những năm

Vào năm 1970, các cây xăng ở Mỹ đối mặt với tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng nguồn cung và giá cả tăng cao Trong thời gian khủng hoảng, nhiều bang quy định mỗi người dân chỉ được phép mua một lượng nhiên liệu nhất định Giá xăng đã tăng trung bình 86% chỉ trong vòng một năm, từ 1973 đến 1974.

Khủng hoảng tiền tệ châu Á 1997

Khủng hoảng tài chính châu Á là cuộc khủng hoảng bắt đầu từ tháng 7 năm

Năm 1997, khủng hoảng tài chính tại Thái Lan đã tác động mạnh mẽ đến các thị trường chứng khoán, làm biến động các trung tâm tiền tệ lớn và ảnh hưởng đến giá cả của nhiều loại tài sản ở một số quốc gia châu Á.

- Thứ nhất, nền kinh tế một số nước châu Á phát triển thiên lệch, mất cân đối, với những biểu hiện như:

Việc tập trung quá mạnh vào đầu tư cho xuất khẩu và chính sách xuất khẩu độc canh vào một vài mặt hàng đã dẫn đến tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai gia tăng Cụ thể, vào năm 1996, thâm hụt tài khoản vãng lai của Thái Lan lên tới 8,5% GDP, trong khi Philippines ghi nhận mức thâm hụt 13%, vượt xa mức thâm hụt cho phép chỉ 5% GDP.

Nợ nước ngoài đang gia tăng đáng kể, trong khi nguồn dự trữ ngoại tệ không đủ mạnh để can thiệp vào tình hình tài chính tiền tệ quốc gia Chẳng hạn, tại Thái Lan, nợ ngắn hạn chiếm tới 45% tổng nợ, trong khi ở Hàn Quốc, tình trạng nợ còn nghiêm trọng hơn với tổng nợ nước ngoài năm 1998 lên đến 110 tỷ USD, trong đó nợ ngắn hạn chiếm 80 tỷ USD.

Hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác đang phát triển nhanh chóng nhưng lại hoạt động kém hiệu quả Tỷ lệ nợ khó đòi so với GDP ở Thái Lan là 20%, Malaysia 23%, Indonesia 11% và Philippines 8%.

Chính sách tài chính - tiền tệ hiện nay đang gặp vấn đề khi tỷ giá hối đoái gần như cố định và phụ thuộc quá nhiều vào đồng USD, điều này gây ra sự không hợp lý trong quản lý kinh tế.

Vào thứ Ba, những bất ổn về chính trị và xã hội đã trở thành nguyên nhân chính dẫn đến khủng hoảng tài chính tại nhiều quốc gia như Thái Lan, Indonesia và Hàn Quốc.

Năm 1997, thị trường tài chính toàn cầu trải qua nhiều biến động lớn, bắt đầu từ Thái Lan và lan rộng ra các quốc gia Đông Nam Á và Đông Bắc Á Các quốc gia như Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan là những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ cuộc khủng hoảng này, trong khi nền kinh tế của Hồng Kông, Malaysia, Lào và Philippines cũng bị tác động nghiêm trọng.

Khủng hoảng đã gây ra những tác động vĩ mô nghiêm trọng, bao gồm mất giá tiền tệ, sụp đổ thị trường chứng khoán và giảm giá tài sản ở một số nước châu Á Nhiều doanh nghiệp phá sản, dẫn đến hàng triệu người bị đẩy xuống dưới ngưỡng nghèo trong các năm 1997-1998.

Khủng hoảng kinh tế đã dẫn đến sự mất ổn định chính trị tại Indonesia, nơi các phong trào Hồi giáo và ly khai phát triển mạnh mẽ do sự suy yếu của chính quyền trung ương.

Cuộc khủng hoảng không chỉ lan rộng ở khu vực Đông Á mà còn góp phần dẫn đến khủng hoảng tài chính tại Nga và Brasil Mặc dù một số quốc gia không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi khủng hoảng, nhưng nền kinh tế của họ cũng gặp khó khăn do sự giảm sút trong xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007- 2008

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra vào năm 2007-2008 đã gây ra sự sụp đổ hàng loạt của các hệ thống ngân hàng, dẫn đến tình trạng thiếu tín dụng nghiêm trọng, sụt giảm giá trị chứng khoán và mất giá tiền tệ quy mô lớn tại Mỹ và nhiều quốc gia khác trên thế giới.

Cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ năm 2007 tại Hoa Kỳ, do bong bóng nhà ở và sự giám sát tài chính thiếu hoàn thiện, đã bùng phát mạnh mẽ từ cuối năm 2008 Sự liên kết chặt chẽ giữa nền kinh tế Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác đã khiến khủng hoảng này lan rộng ra toàn cầu, gây ra các đổ vỡ tài chính, suy thoái kinh tế và giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế trên quy mô toàn cầu.

Cơn địa chấn tài chính bắt đầu vào ngày 7/9/2007 khi hai nhà cho vay lớn của Mỹ, Freddie Mac và Fannie Mae, buộc phải được Chính phủ can thiệp để tránh nguy cơ phá sản Sự kiện này đã dẫn đến một chuỗi sụp đổ lớn trong ngành ngân hàng, bao gồm cả Lehman Brothers, ngân hàng lớn thứ tư thế giới, và Washington Mutual.

Tình trạng thị trường tài chính ngày càng xấu đi đã buộc Ngân hàng Trung ương của Mỹ, Anh, Nhật, EU và nhiều quốc gia khác phải cắt giảm lãi suất để thúc đẩy dòng vốn Tại châu Á, kinh tế Hàn Quốc đang trong tình trạng báo động khi đồng Won đã mất giá hơn 40% từ đầu năm và hiện ở mức thấp nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997.

Nhiều nền kinh tế lớn, bao gồm Nhật Bản và EU, đã tuyên bố rơi vào suy thoái Mỹ, lần đầu tiên sau 8 năm, chính thức thừa nhận đã lâm vào tình trạng này từ tháng 12/2007 Tình trạng tương tự cũng đang xảy ra với Nga, quốc gia có nền kinh tế lớn thứ tư thế giới.

- Hậu quả lớn và nặng nề nhất là phá huỷ lực lượng sản xuất, đẩy lùi sự phát triển của kinh tế thế giới.

Cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ đã dẫn đến sự phá sản hàng loạt của các ngân hàng và công ty tài chính, khiến thị trường chứng khoán chao đảo với nhiều cổ phiếu giảm giá thê thảm Sản xuất và tiêu dùng cũng rơi vào tình trạng khó khăn, khi số người thất nghiệp tăng từ 2,59 triệu người vào năm 2007 lên 3,84 triệu người vào năm 2008, và đạt mức 4,61 triệu người vào tháng 2 năm 2009.

Cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ đã làm chao đảo thị trường tài chính và chứng khoán toàn cầu, dẫn đến sự phá sản của nhiều ngân hàng, công ty tài chính và các tập đoàn kinh tế lớn Hệ quả là sự suy giảm nghiêm trọng trong các quan hệ thương mại và tài chính trên thế giới.

Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay đã dẫn đến sự phá sản của chính sách kinh tế tự do hóa mà Mỹ thực hiện trong nhiều năm qua, đồng thời muốn áp đặt cho toàn thế giới.

2 Tác động của khủng hoảng kinh tế trong nền kinh tế thị trường

Khủng hoảng kinh tế đã và đang trở thành nỗi ám ảnh của mọi quốc gia, với những hậu quả nặng nề mà nó gây ra Trong lịch sử, Đại Suy Thoái (1929-1939) được xem là cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng nhất Những cuộc khủng hoảng này như một hồi chuông cảnh báo tới các quốc gia và các nhà lãnh đạo về tầm quan trọng của việc quản lý kinh tế hiệu quả.

Khủng hoảng tài chính và tín dụng đã tác động nghiêm trọng đến sản xuất, việc làm và tiêu dùng, dẫn đến gia tăng thất nghiệp và khó khăn trong tiêu thụ hàng hóa Các doanh nghiệp buộc phải cắt giảm sản xuất và sa thải lao động do tình hình tín dụng khó khăn Theo nhà kinh tế Joseph Stiglitz, cuộc khủng hoảng không chỉ giới hạn trong nước Mỹ mà còn ảnh hưởng đến toàn cầu, từ các nước phát triển đến các nước đang phát triển, gây ra tổn thất lớn cho nền kinh tế Ở các nước công nghiệp, khủng hoảng thể hiện qua tăng trưởng âm hoặc không có tăng trưởng và tỷ lệ thất nghiệp cao, trong khi tình hình ở các nước đang phát triển còn nghiêm trọng hơn.

3 Các giải pháp ứng phó với khủng hoảng kinh tế nói chung Để ứng phó với khủng hoảng kinh tế, tùy theo nền kinh tế của mỗi quốc gia mà đề ra những biện pháp thích hợp Tuy nhiên các quốc gia và các nền kinh tế khác nhau đều có thể áp dụng những giải pháp cơ bản sau để ngăn chặn và giải quyết khủng hoảng kinh tế:

Chủ trương thực hiện các giải pháp chống lạm phát bao gồm việc duy trì chính sách tiền tệ chặt chẽ nhưng linh hoạt, điều chỉnh theo cơ chế thị trường Cần sử dụng hiệu quả các công cụ tiền tệ như tỷ giá, lãi suất và hạn mức tín dụng, hạ lãi suất phù hợp với tín hiệu thị trường Đồng thời, xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại và đảm bảo các khoản nợ ở mức an toàn Rà soát và kiểm soát chặt chẽ các khoản vay kinh doanh bất động sản và chứng khoán là cần thiết Ngoài ra, việc đổi mới và cơ cấu lại hệ thống ngân hàng cũng như quản trị nội bộ là quan trọng để lành mạnh hóa hệ thống, tránh tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới.

Chính phủ cần tăng cường giám sát hệ thống tài chính, ngân hàng và thị trường chứng khoán, nhằm rà soát và lành mạnh hóa hệ thống tài chính, kiểm tra chất lượng tín dụng, đặc biệt là tín dụng cho các lĩnh vực rủi ro cao như bất động sản và chứng khoán Đồng thời, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm với các tiêu chí cụ thể để có phương án ứng phó với biến động xấu từ hệ thống ngân hàng Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, cân bằng cung cầu trên thị trường, triển khai chính sách hỗ trợ nông nghiệp khắc phục hậu quả thiên tai và hỗ trợ người lao động Việc kết hợp đào tạo lực lượng sản xuất và khoa học kỹ thuật cũng là cần thiết, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả Chính phủ nên xem xét miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, đặc biệt cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng như giảm thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu trong bối cảnh lạm phát và suy thoái kinh tế Cuối cùng, cần tập trung tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh trong các tháng cuối năm.

Vào thứ Tư, Chính phủ tiếp tục thực hiện các chính sách thắt chặt chi tiêu và đầu tư công nhằm tránh nguy cơ thâm hụt ngân sách Việc này không chỉ giúp giảm bớt gánh nặng tài chính mà còn chuyển giao các khoản đầu tư công cho khu vực tư nhân, từ đó tạo điều kiện giảm thuế cho doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân Nhờ đó, các doanh nghiệp sẽ có thêm nguồn vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh và phát triển thị trường.

LIÊN HỆ VẤN ĐỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ VỚI NỀN KINH

TẾ THỊ TRƯỜNG CỦA VIỆT NAM

1 Khái quát về nền kinh tế ở Việt Nam

Kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu hàng hóa thô và đầu tư trực tiếp từ nước ngoài.

- Lớn thứ 44 trên thế giới xét theo quy mô GDP danh nghĩa hoặc lớn thứ 34 nếu xét GDP theo sức mua tương đương (năm 2016).

K HÁI QUÁT VỀ NỀN KINH TẾ Ở V IỆT N AM

Ngày đăng: 01/09/2021, 12:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w