1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam

83 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rủi Ro Tín Dụng Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thành Duyên
Người hướng dẫn TS. Thân Thị Thu Thủy
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài Chính – Ngân Hàng
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,9 MB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU (13)
    • 1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu (13)
    • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu (15)
    • 1.3 Câu hỏi nghiên cứu (15)
    • 1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (15)
    • 1.5 Phương pháp nghiên cứu (16)
    • 1.6 Ý nghĩa của đề tài (16)
    • 1.7 Kết cấu đề tài nghiên cứu (17)
  • CHƯƠNG 2 BIỂU HIỆN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM (18)
    • 2.1 Giới thiệu các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam (18)
      • 2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển (18)
      • 2.1.2 Các hoạt động kinh doanh chủ yếu (18)
      • 2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh (20)
    • 2.2 Biểu hiện của rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt (22)
      • 2.2.1 Tỷ lệ nợ xấu có xu hướng tăng cao trong giai đoạn 2008 – 2019 (22)
      • 2.2.2 Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tăng một cách đáng kể trong giai đoạn 2008 – 2019 (24)
    • 3.1 Tổng quan về rủi ro tín dụng (27)
      • 3.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng (27)
      • 3.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng (0)
        • 3.1.2.1 Căn cứ vào nguyên nhân (28)
        • 3.1.2.2 Căn cứ vào tổn thất (28)
        • 3.1.2.3 Căn cứ nguyên nhân khách quan hay chủ quan (28)
        • 3.1.2.4 Căn cứ vào giai đoạn phát sinh (0)
        • 3.1.2.5 Căn cứ vào phạm vi (29)
      • 3.1.3 Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng (29)
        • 3.1.3.1 Tỷ lệ nợ xấu (Non-Performing Loan - NPL) (29)
        • 3.1.3.2 Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (Lost Loan Provision - LLP) (30)
      • 3.1.4 Hậu quả của rủi ro tín dụng (31)
        • 3.1.4.1 Đối với ngân hàng (31)
        • 3.1.4.2 Đối với nền kinh tế (31)
      • 3.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng (32)
        • 3.1.5.1 Các yếu tố bên trong (32)
        • 3.1.5.2 Các yếu tố bên ngoài (0)
    • 3.2 Các nghiên cứu trước đây về rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại (35)
    • 3.3 Phương pháp nghiên cứu (38)
  • CHƯƠNG 4 THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM (0)
    • 4.1. Thực trạng hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam (41)
      • 4.2.1. Tỷ lệ nợ xấu (44)
      • 4.2.2. Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (45)
    • 4.3. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam (46)
      • 4.3.1. Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu (0)
        • 4.3.1.1. Mô hình nghiên cứu (46)
        • 4.3.1.2. Giả thuyết nghiên cứu (0)
      • 4.3.2. Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu (0)
      • 4.3.3. Dữ liệu nghiên cứu (0)
      • 4.3.4. Kết quả nghiên cứu (51)
        • 4.3.4.1. Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu (51)
        • 4.3.4.2. Phân tích ma trận tương quan (53)
        • 4.3.4.3. Kết quả hồi quy (53)
      • 4.3.5. Thảo luận kết quả nghiên cứu (61)
  • CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM (0)
    • 5.1. Kết luận (64)
    • 5.2. Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng (65)
      • 5.2.1. Giải pháp đối với ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam (65)
        • 5.2.1.1. Gia tăng tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (65)
        • 5.2.1.2. Quản trị quá trình thay đổi vốn chủ sở hữu (66)
        • 5.2.1.3. Nâng cao thu nhập lãi cận biên (67)
        • 5.2.1.4. Nâng cao khả năng sinh lợi (67)
      • 5.2.2. Giải pháp đối với kinh tế vĩ mô (68)

Nội dung

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc cung cấp vốn cho sản xuất và kinh doanh Sự gia nhập quốc tế và hợp tác đa phương đã giúp ngành ngân hàng Việt Nam phát triển mạnh mẽ, với ổn định và an ninh tài chính là yếu tố cốt lõi Tuy nhiên, lĩnh vực tài chính ngân hàng luôn đối mặt với nhiều rủi ro, cả trực tiếp lẫn gián tiếp, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển bền vững Rủi ro tín dụng, đặc biệt, là vấn đề quan trọng nhất, vì các khoản cho vay không hiệu quả sẽ làm giảm lợi nhuận và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần trong cả ngắn hạn và dài hạn.

Rủi ro tín dụng (RRTD) xảy ra khi bên vay không trả được nợ hoặc trả không đúng hạn, do đó, các ngân hàng thương mại (NHTM) cần tập trung vào quản lý rủi ro để tránh những hậu quả tài chính nghiêm trọng cho hệ thống tài chính Quản lý RRTD trong tổ chức tín dụng (TCTD) bắt đầu bằng việc thiết lập nguyên tắc cho vay hợp lý và khung kiểm soát hiệu quả Các chính sách, tiêu chuẩn và hướng dẫn cụ thể của ngành, cùng với giới hạn tập trung rủi ro, được thiết kế dưới sự giám sát của Ủy ban quản lý rủi ro theo tiêu chuẩn Basel về giám sát ngân hàng.

Nghiên cứu về RRTD trong lĩnh vực tài chính ngân hàng đã thu hút sự chú ý của nhiều học giả, đặc biệt là trong việc phân tích các yếu tố phản ánh hiện tượng này RRTD thường được đánh giá thông qua nợ xấu và tổn thất cho vay, do mối liên hệ chặt chẽ giữa chúng với khó khăn tài chính và rủi ro phá sản trong ngành ngân hàng Sorge (2004) khẳng định rằng nợ xấu và tổn thất cho vay là những chỉ số quan trọng để đo lường mức độ tổn thương của hệ thống tài chính Nghiên cứu của Kolapo và cộng sự (2012) chỉ ra rằng nợ xấu ảnh hưởng tiêu cực đến sự tồn tại của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Nigeria Tương tự, Moti và cộng sự (2012) đã phát hiện rằng RRTD làm giảm chất lượng cho vay ở Kenya Sức khỏe của hệ thống tài chính, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển, có mối quan hệ trực tiếp với tình hình kinh tế (Aghion và cộng sự, 2005; Atikoǧullari, 2009) Vì vậy, việc tìm hiểu nguyên nhân gây ra RRTD cần được tiếp tục nghiên cứu, đặc biệt tại các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam.

Nền kinh tế Việt Nam, giống như các nền kinh tế khác, phụ thuộc vào hệ thống tài chính ngân hàng (TCNH) để duy trì hoạt động kinh tế Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm lộ rõ những yếu kém của các ngân hàng thương mại cổ phần, như nợ xấu, thua lỗ và phá sản Chính sách tiền tệ nới lỏng trước đây, mặc dù hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, đã dẫn đến tình trạng gia tăng tín dụng và đầu tư không kiểm soát, gây ra bong bóng giá tài sản và nợ xấu Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước và Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, từ 2006 đến 2009, tỷ lệ nợ xấu tăng cao trong khi khả năng quản lý rủi ro của các ngân hàng thương mại cổ phần vẫn còn yếu kém.

Nghiên cứu về rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Việt Nam cho thấy RRTD phát sinh từ cả yếu tố bên trong và bên ngoài, nhưng các kết quả chưa đồng nhất Sự thay đổi của các yếu tố vĩ mô yêu cầu tiếp tục nghiên cứu để cung cấp bằng chứng khoa học cho các nguyên nhân gây ra rủi ro Các nghiên cứu trước đó cũng mâu thuẫn về phương pháp tiếp cận và kết luận, trong khi môi trường kinh tế và thể chế thay đổi nhanh chóng ảnh hưởng đến hoạt động của NHTMCP và quản lý RRTD Do đó, việc tìm hiểu sâu hơn về RRTD tại NHTMCP là rất cần thiết.

Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu tổng quát: Phân tích rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

+ Phân tích thực trạng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

+ Đo lường ảnh hưởng của các yếu tố đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

+ Đề xuất các giải pháp để hạn chế rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài cần trả lời các câu hỏi sau

- Thực trạng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam như thế nào ?

- Sự ảnh hưởng của các yếu tố đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam như thế nào ?

- Các giải pháp nào có thể hạn chế RRTD tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã thu thập dữ liệu từ 22 ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) hoạt động tại Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2019, sau khi loại trừ các ngân hàng không có đủ số liệu Tổng số ngân hàng cổ phần hiện có là 31, cho thấy phạm vi nghiên cứu tập trung vào một phần lớn của ngành ngân hàng Việt Nam.

Giai đoạn 2008 – 2019 chứng kiến sự gia tăng nợ xấu do nới lỏng kiểm soát tín dụng trước đó và khả năng quản lý rủi ro yếu kém của các ngân hàng, với tỷ lệ nợ xấu đạt 10% vào năm 2011, tăng hơn 51% từ 2008 đến 2011, gấp đôi tốc độ tăng trưởng tín dụng Tuy nhiên, từ 2013 đến 2018, hoạt động tái cơ cấu và kiểm soát tài chính đã cải thiện, giúp tỷ lệ cho vay kém hiệu quả giảm xuống còn 2,4% vào năm 2018, trong khi tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng tăng khoảng 30,1% so với năm 2017 Sự biến động của nợ xấu và dự phòng rủi ro tín dụng trong giai đoạn này tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu và đánh giá rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu định lượng được thực hiện với sự hỗ trợ của chương trình Stata 15, bao gồm các phân tích thống kê và ước lượng cho mẫu dữ liệu Các phương pháp ước lượng được sử dụng bao gồm hồi quy OLS gộp, hồi quy theo tác động cố định và hồi quy theo tác động ngẫu nhiên Để đảm bảo độ tin cậy của kết quả, các kiểm định được thực hiện sau mỗi phương pháp ước lượng, và nếu có lỗi ước lượng, chúng sẽ được xử lý bằng ước lượng hồi quy tổng quát khả thi.

Ý nghĩa của đề tài

Kết quả nghiên cứu sẽ giúp các nhà quản trị ngân hàng hiểu rõ thực trạng rủi ro tín dụng và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro này, từ đó đề xuất giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Mặc dù còn nhiều hạn chế, nhưng nghiên cứu đã cung cấp cái nhìn đa dạng và rõ ràng về các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng, khuyến khích việc áp dụng kết quả vào thực tiễn.

Sau 07 năm công tác trong ngành ngân hàng và trải qua nhiều vị trí, tôi đã nghiên cứu sâu về rủi ro tín dụng, từ đó củng cố kiến thức nền tảng và hiểu rõ các vấn đề liên quan Qua quá trình này, tôi nhận thức được thực trạng rủi ro tín dụng cũng như xu hướng nợ xấu tại các ngân hàng hiện nay Những kiến thức và kinh nghiệm thu được sẽ được áp dụng vào công việc thực tế, đồng thời giúp tôi tự tin hơn trong việc đề xuất các giải pháp với ban lãnh đạo ngân hàng nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng.

Kết cấu đề tài nghiên cứu

Kết cấu của đề tài bao gồm 05 chương:

Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu

Chương 2: Biểu hiện rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Chương 3: Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại

Chương 4: Thực trạng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Chương 5: Kết luận và giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Chương 1 đã trình bày những nội dung tổng quan của luận văn bao gồm: sự cần thiết của đề tài, mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể của đề tài, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài, trình bày kết cấu của đề tài nghiên cứu để làm cơ sở triển khai trong các chương tiếp theo.

BIỂU HIỆN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM

Giới thiệu các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Trước yêu cầu đổi mới hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam, vào tháng 5/1990, Hội đồng nhà nước đã thông qua Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính, chính thức chuyển đổi cơ chế hoạt động từ một cấp sang hai cấp Ngân hàng Nhà nước đảm nhận chức năng quản lý nhà nước về hoạt động ngân hàng, trong khi các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng hoạt động trong khuôn khổ pháp luật Sự chuyển mình này đã dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng của hệ thống ngân hàng, với sự ra đời của nhiều ngân hàng tư nhân, đánh dấu sự hình thành của các NHTM cổ phần Việt Nam.

Hơn 30 năm hình thành và phát triển, các NHTM cổ phần ngày càng gia tăng về số lượng, tính đến 31/12/2019 là 31 ngân hàng Ngày càng nhiều có nhiều dịch vụ phong phú, đa dạng được các NHTM cổ phần cung ứng ra thị trường, quy mô càng ngày càng được mở rộng Bên cạnh đó, chất lượng của các dịch vụ luôn được các NHTM cổ phần quan tâm và cải tiến để đáp ứng nhu cầu sử dụng sản phẩm ngân hàng ngày càng cao của khách hàng và tăng tính cạnh tranh giữa các ngân hàng với nhau Sự phát triển của các ngân hàng lớn như: BIDV, VietcomBank, VietinBank… đã tạo ra những ảnh hưởng quan trọng đối với nền kinh tế của khu vực và trên toàn cầu Ngoài ra, sự phát triển này cũng đã góp phần làm đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng, tăng tính cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam

2.1.2 Các hoạt động kinh doanh chủ yếu

Sự phát triển của nền kinh tế đã làm gia tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng, dẫn đến sự đa dạng và phức tạp trong các giao dịch tiền tệ Để đáp ứng nhu cầu này từ cả cá nhân và doanh nghiệp trong và ngoài nước, các ngân hàng thương mại cổ phần không ngừng nghiên cứu và phát triển nhiều loại hình sản phẩm dịch vụ đa dạng nhằm phục vụ tốt hơn cho khách hàng.

Nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại cổ phần đóng vai trò chủ yếu trong tổng nguồn vốn, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Các nguồn vốn huy động này bao gồm nhiều hình thức khác nhau.

Tiền gửi thanh toán là nguồn tiền có tính ổn định không cao, thường được khách hàng sử dụng để thực hiện các giao dịch như thanh toán hóa đơn, chuyển và rút tiền qua tài khoản ngân hàng Ngân hàng chỉ trả một phần lãi suất rất thấp hoặc không trả lãi cho khoản tiền này, vì cần dự trữ một lượng tiền mặt lớn để đáp ứng yêu cầu giao dịch của khách hàng.

Ngân hàng có thể tận dụng sự chênh lệch về thời gian gửi và sử dụng của từng khách hàng để tạo ra một lượng tiền gửi thanh toán ổn định Điều này giúp ngân hàng coi tiền gửi thanh toán như một nguồn vốn huy động, phục vụ cho mục đích cho vay và giảm chi phí huy động vốn bình quân.

Tiền gửi tiết kiệm là sản phẩm huy động vốn chủ yếu của các ngân hàng, giúp khai thác nguồn tiền nhàn rỗi từ cá nhân và doanh nghiệp Tham gia gửi tiết kiệm, khách hàng sẽ nhận lãi suất và có cơ hội tích lũy tài chính, đặc biệt là cho những ai chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc đầu tư để gia tăng tài sản.

Ngân hàng có quyền phát hành giấy tờ có giá để huy động vốn bổ sung khi nguồn tiền không đủ, nhưng có các nguồn đầu tư hiệu quả và đáng tin cậy Các loại giấy tờ có giá mà ngân hàng thương mại cổ phần có thể phát hành bao gồm kỳ phiếu, trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi Khách hàng có thể bán các giấy tờ này cho người khác nếu cần tiền trước hạn Nội dung trên các giấy tờ này sẽ xác nhận việc khách hàng đã vay và hoàn trả gốc lẫn lãi cho người giữ phiếu khi đến ngày đáo hạn.

Hoạt động tín dụng là một trong những yếu tố quan trọng của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần, giúp huy động vốn và tạo ra phần lớn lợi nhuận Các sản phẩm tín dụng chủ yếu bao gồm cho vay phục vụ đời sống và cho vay cho sản xuất kinh doanh, phục vụ cho cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp vừa và nhỏ Khác với tín dụng bán buôn, nguồn khách hàng trong lĩnh vực này có nhu cầu vay nhỏ hơn, giúp phân tán rủi ro và giảm thiểu nguy cơ trong hoạt động cho vay.

Ngoài việc huy động vốn và hoạt động tín dụng, các ngân hàng thương mại cổ phần còn cung cấp nhiều dịch vụ khác mang lại lợi nhuận cao như dịch vụ thẻ, dịch vụ ngân hàng điện tử (ebanking), dịch vụ kiều hối, dịch vụ thanh toán, dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ bảo lãnh và dịch vụ ủy thác đầu tư.

2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh

Sự tăng trưởng nóng về tín dụng và cuộc khủng hoảng những năm 2008 đến

Năm 2019, hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần đối mặt với nhiều rủi ro nghiêm trọng, bao gồm sự sụt giảm tính thanh khoản và gia tăng nợ xấu Để cải thiện tình hình tài chính, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành các biện pháp và chính sách yêu cầu các ngân hàng yếu kém phải tái cấu trúc qua sáp nhập hoặc giải thể nhằm ngăn chặn đổ vỡ hệ thống Những biện pháp này đã tác động đáng kể đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần trong giai đoạn này.

Trong giai đoạn 2008 - 2019, quy mô tổng tài sản của 22 NHTM cổ phần đã có sự tăng trưởng đáng kể, với mức tăng trung bình khoảng 19,36% Cụ thể, tổng tài sản của các NHTM cổ phần đã tăng từ 1.187 nghìn tỷ đồng năm 2008 lên 2.336 nghìn tỷ đồng vào năm 2010, với tốc độ tăng trưởng bình quân trên 38% mỗi năm Tuy nhiên, từ năm 2010 đến 2019, tốc độ tăng trưởng đã giảm xuống dưới 20% mỗi năm Đặc biệt, trong giai đoạn tái cấu trúc hệ thống NHTM (2011 - 2012), tổng tài sản không tăng đáng kể, nhưng sau đó đã phục hồi với mức tăng cao nhất 20,2% vào năm 2017 Đến năm 2019, tổng giá trị tài sản của các NHTM cổ phần đạt 7.930 nghìn tỷ đồng, chiếm 63,04% tổng tài sản toàn hệ thống NHTMCP, và tài sản bình quân đạt 360,45 nghìn tỷ đồng.

Bảng 2.1: Tổng tài sản của các NHTM cổ phần Việt Nam giai đoạn 2008 – 2019

Năm Quy mô tổng tài sản Quy mô tổng tài sản bình quân

(Nguồn: Báo cáo thường niên của 22 NHTM cổ phần giai đoạn 2008-2019)

Trong giai đoạn 2008 – 2019, lợi nhuận sau thuế của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) đã có sự phân hóa rõ rệt, đi kèm với sự gia tăng quy mô tổng tài sản Từ năm 2008 đến 2010, lợi nhuận bình quân của các NHTMCP tăng trưởng vượt trội, đạt hơn 65% mỗi năm, với lợi nhuận lần lượt là 755 tỷ đồng (năm 2008) và 2.180 tỷ đồng (năm 2010), đạt đỉnh 2.952 tỷ đồng vào năm 2011 Tuy nhiên, lợi nhuận đã giảm mạnh trong những năm tiếp theo do quá trình tái cấu trúc và xử lý nợ xấu.

Từ năm 2014, các ngân hàng thương mại cổ phần đã bắt đầu quá trình phục hồi lợi nhuận, với mức tăng trung bình khoảng 28% mỗi năm Đến năm 2019, tổng lợi nhuận bình quân của các ngân hàng này đạt khoảng 4.443 tỷ đồng, cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ sau quá trình tái cấu trúc.

Bảng 2.2: Lợi nhuận sau thuế của các NHTM cổ phần Việt Nam giai đoạn 2008

Năm Tổng lợi nhuận Lợi nhuận bình quân Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận bình quân

(Nguồn: Báo cáo thường niên của 22 NHTM cổ phần giai đoạn 2008-2019)

Biểu hiện của rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt

Từ cuối năm 2009, tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam đã tăng nhanh, đạt đỉnh 4.9% vào năm 2012, với tổng nợ xấu lên tới 117.723 tỷ đồng Sự gia tăng này là hệ quả của khó khăn thanh khoản do tăng trưởng tín dụng nóng trước đó và khủng hoảng kinh tế khiến doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn Tỷ lệ nợ xấu đã tăng từ 1.3% – 2% (2009 – 2011) lên 3.5% vào năm 2012 và 4.3% vào năm 2016 Mặc dù hoạt động tín dụng phát triển về quy mô và tốc độ, nhưng chất lượng tín dụng chưa được chú trọng, dẫn đến việc quản lý sau giải ngân và xử lý nợ xấu chưa hiệu quả Hệ quả là tỷ lệ nợ xấu cao kéo theo giảm lợi nhuận, tăng trích lập dự phòng và nguy cơ đổ vỡ hệ thống ngân hàng.

Tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) có sự khác biệt rõ rệt, với những ngân hàng lớn như BIDV, Vietcombank, MBB và Vietinbank duy trì tỷ lệ nợ xấu dưới 2% ngay cả trong thời kỳ kinh tế khó khăn Điều này nhờ vào chính sách tín dụng phù hợp và quản lý rủi ro chặt chẽ Trong khi các ngân hàng có nợ xấu thấp đang mở rộng tín dụng, những ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao hơn trung bình ngành lại tập trung vào việc xử lý nợ xấu để cải thiện tình hình tài chính Mặc dù tỷ lệ nợ xấu đã giảm từ đỉnh điểm năm 2014, việc xử lý nợ tồn đọng vẫn là thách thức lớn, với các biện pháp như phát mại tài sản và bán nợ cho Công ty Quản lý tài sản (VAMC) Tuy nhiên, tốc độ xử lý nợ xấu vẫn phụ thuộc vào tình hình kinh tế và các vướng mắc pháp lý, gây khó khăn cho ngân hàng Nếu không có giải pháp kiểm soát hiệu quả, rủi ro tín dụng có thể gia tăng, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh và an ninh tài chính của toàn hệ thống.

2.2.2 Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tăng một cách đáng kể trong giai đoạn 2008 – 2019

Trong giai đoạn 2008 – 2010, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng (RRTD) của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) giảm từ 2% xuống còn 1% do nợ xấu phát sinh không đáng kể Tuy nhiên, từ 2010 đến 2013, tỷ lệ này tăng lên gần 3% do nợ xấu tăng cao, dẫn đến chi phí của các NHTMCP tăng và tỷ suất lợi nhuận giảm đáng kể Cụ thể, tại Sacombank, lợi nhuận trước trích lập năm 2012 đạt 2.800 tỷ đồng, nhưng sau thuế chỉ còn 714,4 tỷ đồng do phải trích lập dự phòng theo chỉ thị của Ngân hàng Nhà nước Tương tự, Vietinbank ghi nhận tỷ lệ trích lập dự phòng vượt 2%, với chi phí dự phòng rủi ro năm 2012 lên tới 4.352 tỷ đồng, khiến lợi nhuận giảm gần 1,3% so với mức lợi nhuận trước trích lập.

Giai đoạn 2012 – 2019, các ngân hàng đã kiểm soát tỷ lệ nợ xấu và đạt mức tăng trưởng tốt hơn so với trước đó, với tỷ lệ trích lập dự phòng giảm từ 3% xuống 1,5% Tuy nhiên, quản lý rủi ro và trích lập dự phòng vẫn là áp lực lớn do ảnh hưởng từ nợ xấu trước đó Năm 2018, VPBank ghi nhận chi phí dự phòng tăng 40,6% so với năm 2017, chiếm 55% lợi nhuận thuần, trong khi OCB và Sacombank cũng phải đối mặt với chi phí dự phòng cao, lần lượt chiếm 30% và tăng 95% so với năm trước Các ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu như BIDV, VPBank và VietinBank có tỷ lệ trích lập dự phòng/lợi nhuận thuần cao, cho thấy áp lực tài chính từ các hoạt động tăng trưởng tín dụng nóng trong quá khứ.

2.2.3 Nợ xấu gây bất ổn với sự an toàn của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế

Sự gia tăng nợ xấu đang gây ra bất ổn cho an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) và sự phát triển của nền kinh tế Nợ xấu ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính thanh khoản và lợi nhuận của ngân hàng do các khoản vay không thu hồi và tỷ lệ trích lập dự phòng cao Điều này cản trở tăng trưởng tín dụng, làm giảm uy tín và khả năng cạnh tranh của ngân hàng, thậm chí có thể đưa ngân hàng vào diện giám sát đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước Các khoản nợ không thu hồi còn làm giảm giá trị tài sản và vốn chủ sở hữu của ngân hàng, có nguy cơ gây ra đổ vỡ trong hệ thống các tổ chức tín dụng Với vai trò là trung gian tài chính, ngân hàng huy động vốn và cung cấp tín dụng cho sản xuất kinh doanh; do đó, bất kỳ sự cố nào trong hệ thống NHTM đều ảnh hưởng đến quá trình huy động và giải ngân vốn, dẫn đến tình trạng thiếu vốn nghiêm trọng trong nền kinh tế và tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh Hơn nữa, sự bất ổn của hệ thống NHTM còn tác động lên thị trường tài chính, làm biến dạng lãi suất cho vay, góp phần gây ra lạm phát và ảnh hưởng đến các mục tiêu vĩ mô của chính phủ.

Phân tích các vấn đề hiện tại của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam cho thấy rủi ro tín dụng (RRTD) là một thách thức chung mà tất cả các ngân hàng, từ quy mô lớn đến nhỏ, đều phải đối mặt RRTD không chỉ là một vấn đề tạm thời mà luôn hiện hữu song hành với hoạt động kinh doanh của các NHTM qua từng giai đoạn Nếu không được kiểm soát chặt chẽ, RRTD có thể gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của toàn bộ hệ thống NHTM, dẫn đến việc phải tốn nhiều thời gian và chi phí để khắc phục hậu quả.

Chương 2 đã giới thiệu về lịch sử hình thành và phát triển, các hoạt động kinh doanh chủ yếu, kết quả hoạt động kinh doanh của các NHTM cổ phần Việt Nam Đồng thời nêu lên những biểu hiện về RRTD tại các NHTM cổ phần Việt Nam Đây là cơ sở cho việc phân tích RRTD tại chương 4.

Tổng quan về rủi ro tín dụng

3.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng

Các ngân hàng thương mại cổ phần đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối những người có vốn thừa với những người cần vốn, từ đó đảm bảo khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế Hoạt động cung cấp tín dụng cho bên vay là một trong những yếu tố then chốt giúp thúc đẩy sự tăng trưởng và ổn định kinh tế Sự tham gia của các ngân hàng trong việc huy động tiền gửi và phân bổ nguồn lực hiệu quả cho các mục đích đầu tư là rất cần thiết Do đó, phân tích khả năng tài chính và năng lực hoàn trả của bên vay là cốt lõi trong hoạt động của ngân hàng thương mại, nhằm đảm bảo quá trình tài trợ diễn ra một cách suôn sẻ và bền vững.

Rủi ro tín dụng (RRTD) đối với các ngân hàng thương mại (NHTM) xảy ra khi bên vay không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng vay hoặc khả năng thanh toán của họ giảm sút, dẫn đến thiệt hại kinh tế cho NHTM RRTD còn phản ánh sự biến động giá trị của các công cụ nợ và phái sinh do thay đổi chất lượng tín dụng của bên vay Đây là một trong những dạng rủi ro lâu đời và quan trọng mà các NHTM phải đối mặt Theo Ủy ban Basel, RRTD được định nghĩa là tình trạng khách hàng vay mất khả năng thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng đã thỏa thuận Tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước đã định nghĩa RRTD trong Thông tư 08/2017/TT-NHNN, xác định đây là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ Định nghĩa này được áp dụng rộng rãi trong các hoạt động của NHTM tại Việt Nam do tính pháp lý và bắt buộc trong hợp đồng tín dụng.

3.1.2.1 Căn cứ vào nguyên nhân

Rủi ro giao dịch là khoản rủi ro liên quan đến từng khách hàng hoặc khoản vay cụ thể, phát sinh từ sai sót và hạn chế trong quá trình tác nghiệp Những sai sót này có thể xảy ra trong các bước thẩm định, xét duyệt tín dụng, giải ngân hoặc kiểm soát sau cho vay, cũng như trong việc thực hiện các cam kết trong hợp đồng tín dụng Các loại rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro nghiệp vụ, rủi ro đảm bảo và rủi ro lựa chọn đối nghịch.

Rủi ro nội tại là những rủi ro phát sinh từ các đặc điểm và yếu tố riêng biệt của từng ngành hoặc lĩnh vực kinh tế Loại rủi ro này chủ yếu phụ thuộc vào cách thức hoạt động và phương pháp sử dụng vốn vay của khách hàng.

Rủi ro danh mục tín dụng là những rủi ro phát sinh từ hạn chế trong quản lý các hạng mục tín dụng của ngân hàng, bao gồm rủi ro tập trung và rủi ro nội tại.

Rủi ro tập trung là tình trạng xảy ra khi ngân hàng dồn quá nhiều tín dụng vào một số khách hàng, ngành nghề, hoặc khu vực địa lý cụ thể, dẫn đến việc gia tăng nguy cơ mất mát tài chính nếu những đối tượng này gặp khó khăn.

3.1.2.2 Căn cứ vào tổn thất

Rủi ro mất vốn xảy ra khi khách hàng không còn khả năng thanh toán gốc hoặc lãi, dẫn đến việc ngân hàng phải thanh lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.

Rủi ro đọng vốn xảy ra khi ngân hàng chưa thu hồi được vốn đúng hạn theo hợp đồng, dẫn đến tình trạng vốn bị đóng băng Điều này không chỉ ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn mà còn gây khó khăn trong việc quản lý tính thanh khoản.

3.1.2.3 Căn cứ nguyên nhân khách quan hay chủ quan

Rủi ro chủ quan là những rủi ro phát sinh từ nguyên nhân thuộc về khách hàng và ngân hàng, có thể là do sự vô tình hoặc cố ý dẫn đến việc thất thoát vốn vay Các lý do chủ quan khác cũng có thể góp phần vào tình trạng này.

Rủi ro khách quan xảy ra khi khách hàng và ngân hàng tuân thủ đúng quy trình và chính sách trong hợp đồng, nhưng lại phải đối mặt với các yếu tố không thể kiểm soát như thiên tai, thảm họa hoặc các biến cố bất khả kháng, dẫn đến việc thất thoát tín dụng.

Rủi ro trước khi cho vay xuất hiện khi việc lập hồ sơ và phân tích tín dụng không chính xác, dẫn đến quyết định cho vay sai lầm cho những khách hàng không đủ điều kiện hoặc không có khả năng thanh toán nợ trong tương lai.

Rủi ro trong cho vay có thể phát sinh do nhiều yếu tố, bao gồm sai sót trong quá trình giải ngân như không tuân thủ tiến độ giải ngân, thiếu cập nhật thông tin khách hàng, và không dự đoán được các rủi ro tiềm ẩn.

Rủi ro sau khi cho vay là mối lo ngại lớn đối với ngân hàng, xảy ra khi họ không nắm bắt được tình hình tài chính và mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng Sự thay đổi trong khả năng tài chính và thiện chí trả nợ của người vay có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng cho ngân hàng.

3.1.2.5 Căn cứ vào phạm vi

RRTD cá biệt là rủi ro liên quan đến một khoản tín dụng, khách hàng, danh mục hoặc ngành cụ thể Nguyên nhân gây ra rủi ro này thường xuất phát từ đặc điểm của ngành nghề, sự thay đổi bất thường trong khả năng tài chính hoặc năng lực quản lý, cùng với thiện chí thanh toán của khách hàng.

RRTD hệ thống là loại rủi ro có tính chất lan truyền trong toàn bộ khu vực ngân hàng, không chỉ ảnh hưởng đến một khoản tín dụng hay một khách hàng cụ thể Nguyên nhân dẫn đến rủi ro này bao gồm sự thay đổi trong cơ chế chính sách của chính phủ, bất ổn chính trị xã hội, tác động tiêu cực từ kinh tế vĩ mô, cùng với các yếu tố bất khả kháng khác từ môi trường bên ngoài.

3.1.3 Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng

3.1.3.1 Tỷ lệ nợ xấu (Non-Performing Loan - NPL)

Các nghiên cứu trước đây về rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại

Ranjan và Dhal (2003) đã phân tích các khoản nợ xấu của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Ấn Độ từ năm 1996 đến 2003, sử dụng tỷ lệ nợ xấu (NPL) làm đại diện cho rủi ro tín dụng Nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố như tín dụng, tài chính, quy mô ngân hàng và cú sốc kinh tế có ảnh hưởng đến tỷ lệ NPL Cụ thể, các biến liên quan đến hoạt động tín dụng và cú sốc kinh tế vĩ mô có tác động ngược chiều đáng kể đến tỷ lệ NPL Hơn nữa, sự thay đổi trong quy mô của các ngân hàng thương mại cổ phần cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ lệ NPL, trong khi tỷ lệ NPL thường giảm khi GDP tăng trưởng cao, cho thấy điều kiện kinh tế vĩ mô được cải thiện.

Das và Ghosh (2007) đã phân tích các yếu tố quyết định RRTD tại các NHTM cổ phần quốc doanh Ấn Độ từ 1994 đến 2005, kết luận rằng RRTD bị ảnh hưởng bởi các biến số kinh tế vĩ mô, nhưng chất lượng khoản vay lại phụ thuộc vào các yếu tố riêng lẻ của từng ngân hàng Nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù kiểm soát được các yếu tố vĩ mô, nhưng RRTD vẫn bị tác động mạnh bởi các yếu tố vi mô Để ngăn chặn rủi ro không lường trước, cần phát triển tăng trưởng cho vay và khả năng mở rộng của tổ chức cùng với kỹ năng quản lý phù hợp Tương tự, Zribi và Boujelbène (2011) đã xem xét tác động của cả biến vĩ mô và vi mô đến khả năng kiểm soát RRTD của 10 NHTM cổ phần tại Tunisia.

Từ năm 1995 đến 2008, nghiên cứu sử dụng mô hình dữ liệu bảng với mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) và mô hình tác động cố định (FEM) để đo lường rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại cổ phần thông qua tỷ lệ nợ xấu (NPL) Các biến độc lập bao gồm cấu trúc sở hữu, quy định về an toàn vốn (CAR), tỷ suất lợi nhuận, lạm phát, tỷ giá hối đoái, tăng trưởng GDP và lãi suất Tỷ lệ NPL trong hệ thống ngân hàng thương mại có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát rủi ro tín dụng Tại Châu Âu, nghiên cứu của Louzis et al (2012) sử dụng dữ liệu bảng theo quý từ Q1/2003 đến Q3/2009 để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ NPL của ngân hàng thương mại cổ phần ở Hy Lạp Các biến độc lập bao gồm các chỉ số kinh tế vĩ mô như tỷ lệ lãi suất thực tế, tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ tăng trưởng GDP thực Kết quả cho thấy rằng các khoản vay giảm chất lượng có mối quan hệ ngược chiều với các biến vĩ mô và năng lực quản lý, trong khi các khoản nợ xấu có thế chấp ít nhạy cảm hơn với điều kiện kinh tế vĩ mô.

Messai và Jouini (2013) đã mở rộng nghiên cứu về tình huống RRTD tại các ngân hàng thương mại cổ phần trong Liên minh Châu Âu, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu của 85 ngân hàng ở Italia, Hy Lạp và Tây Ban Nha trong giai đoạn 2004 - 2008 Nghiên cứu áp dụng hồi quy FEM và REM với biến phụ thuộc là tỷ lệ nợ xấu (NPL) và các biến độc lập như tăng trưởng dư nợ tín dụng, dự phòng RRTD, lãi suất, tăng trưởng GDP và tỷ lệ thất nghiệp Kết quả cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP có ảnh hưởng ngược chiều đến NPL, trong khi tỷ lệ thất nghiệp và lãi suất lại có tác động tích cực đến NPL.

Shingjergji (2013) phân tích mối quan hệ giữa tỷ lệ nợ xấu (NPL) và các đặc điểm của ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) tại Albania, trong bối cảnh tỷ lệ NPL tăng cao lên tới 24% tổng số khoản vay Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng từ Q1/2002 đến Q4/2012, với tỷ lệ NPL là biến phụ thuộc và các biến độc lập như mức cho vay, tỷ lệ lãi ròng, tỷ lệ cho vay trên tài sản, tỷ lệ an toàn vốn và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu Kết quả cho thấy tỷ lệ cho vay trên tài sản có mối quan hệ ngược chiều với tỷ lệ NPL, trong khi biên lãi ròng có mối quan hệ tích cực với NPL, cho thấy chất lượng tài sản giảm khi biên lãi ròng cao Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các yếu tố vĩ mô như lạm phát và tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng mạnh đến NPL, cùng với việc NHTMCP có nợ xấu cao năm trước sẽ dẫn đến tỷ lệ NPL cao năm sau Diệp và Kiều (2015) xác định các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng (RRTD) của NHTMCP tại Việt Nam, bao gồm quy mô dư nợ, tăng trưởng tín dụng và tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động, cho thấy việc kiểm soát tốt các đặc điểm này là cách hiệu quả để quản lý rủi ro và thúc đẩy hoạt động cho vay lành mạnh.

Sử dụng phương pháp hồi quy GMM, Thảo và Đan (2018) đã chỉ ra mối tương quan tích cực giữa tỷ lệ nợ xấu (NPL) của năm trước và tỷ lệ NPL hiện tại tại các ngân hàng Hơn nữa, nghiên cứu cho thấy rằng các ngân hàng thương mại có chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, lợi nhuận và chi phí hoạt động cao sẽ có khả năng giảm thiểu tỷ lệ NPL hiệu quả hơn.

Hồng và Minh (2018) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu (NPL) của ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2016, dựa trên lý thuyết về rủi ro đạo đức Kết quả nghiên cứu cho thấy các đặc điểm của ngân hàng thương mại cổ phần có tác động đáng kể đến tỷ lệ NPL Cụ thể, tăng trưởng tín dụng có ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ NPL khi đạt ngưỡng trên 6,07%, trong khi tỷ lệ vốn chủ sở hữu so với tổng tài sản cũng tác động tích cực đến NPL Ngược lại, quy mô ngân hàng và tăng trưởng GDP lại giúp giảm tỷ lệ NPL tại các ngân hàng thương mại cổ phần.

Quỳnh và Tuấn (2019) đã tiến hành nghiên cứu về dự phòng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) ở Việt Nam, sử dụng dữ liệu tài chính của 23 ngân hàng trong giai đoạn 2008 – 2017 Kết quả cho thấy rằng dự phòng rủi ro tín dụng có mối quan hệ tích cực với tốc độ tăng trưởng tín dụng và NIM, trong khi lại có tác động tiêu cực đến tỷ số ROA và tỷ lệ lạm phát Điều này dẫn đến sự gia tăng nợ xấu, tăng chi phí, giảm lợi nhuận và gây ra rủi ro cho các ngân hàng.

Phương pháp nghiên cứu

Phân tích định lượng được thực hiện với phần mềm Stata 15, bao gồm các phương pháp ước lượng như hồi quy OLS gộp, hồi quy theo tác động cố định (FEM) và hồi quy theo tác động ngẫu nhiên (REM) Sau mỗi phương pháp ước lượng, các bài kiểm định được tiến hành để đảm bảo độ tin cậy của kết quả, và nếu có lỗi ước lượng, sẽ được xử lý bằng ước lượng hồi quy tổng quát khả thi (FGLS).

- Ước lượng hồi quy gộp (Pooled OLS)

Phương pháp ước lượng hồi quy gộp kết hợp tất cả các quan sát trong mẫu vào một phương trình hồi quy OLS, giả định rằng các hệ số hồi quy cho các biến không thay đổi giữa các đối tượng chéo Mô hình hồi quy gộp áp dụng cho dữ liệu bảng có cấu trúc như sau:

Mô hình hồi quy được biểu diễn bằng phương trình 𝑌 𝑖𝑡 = 𝛼 + 𝛽𝑋 𝑖𝑡 + 𝑢 𝑖𝑡, trong đó 𝑌 𝑖𝑡 là biến phụ thuộc, 𝛼 là hệ số chặn, và 𝛽 là ma trận hệ số hồi quy của tập biến giải thích 𝑋 𝑖𝑡 Các chỉ số i và t đại diện cho các đối tượng và thời gian, trong khi 𝑢 𝑖𝑡 là sai số ngẫu nhiên Hồi quy gộp không xem xét các mối quan hệ không đồng nhất giữa các đơn vị qua thời gian trong dữ liệu bảng, dẫn đến việc phương pháp hồi quy Pooled OLS có thể bị chệch nếu có sự tồn tại của các tác động này, do tương quan giữa biến giải thích và sai số hồi quy.

- Ước lượng hồi quy theo tác động cố định (Fixed Effects Model - FEM)

Phương pháp ước lượng hồi quy theo tác động cố định (FEM) giả định rằng các tác động của biến giải thích đến biến phụ thuộc là không thay đổi theo thời gian, tạo ra những hệ số chặn khác nhau cho từng đơn vị chéo Mô hình FEM được xây dựng dựa trên giả thuyết này, cho phép phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố trong một khung thời gian nhất định.

Mô hình 𝑌 𝑖𝑡 = 𝛼 + 𝛽𝑋 𝑖𝑡 + à 𝑖 + 𝑣 𝑖𝑡 giúp xác định mối quan hệ giữa biến giải thích và biến phụ thuộc, trong đó à 𝑖 đại diện cho các tác động không thay đổi theo thời gian trong dữ liệu chéo Bằng cách loại bỏ sự tương quan giữa biến giải thích và sai số hồi quy, mô hình này giảm thiểu độ chệch trong ước lượng Pooled OLS khi làm việc với dữ liệu bảng.

Mô hình ước lượng hồi quy theo tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model - REM) cho phép số chặn  𝑖 khác nhau cho từng đối tượng chéo, nhưng không thay đổi theo thời gian Cấu trúc của mô hình này giúp phân tích dữ liệu panel một cách hiệu quả, khi mà các yếu tố không quan sát được có thể ảnh hưởng đến các đối tượng khác nhau trong nghiên cứu.

Với ước lượng theo tác động ngẫu nhiên, hệ số chặn cho từng đối tượng chéo sẽ được gộp lại thành (𝛼 0 +  𝑖) và có sự ngẫu nhiên riêng biệt cho từng đối tượng.

 𝑖 phải thỏa mãn các điều kiện: (i) có giá trị trung bình là 0, (ii) không tương quan với

Các đặc điểm khác nhau và không quan sát được giữa các đối tượng chéo sẽ được nắm bắt bởi sai số chéo \( \omega_{it} \), với phương sai cố định và độc lập với các biến giải thích.

- Ước lượng hồi quy tổng quát khả thi (Feasible Generalized Least Square - FGLS)

Do các hệ số hồi quy của các mô hình ước lượng bằng phương pháp OLS có đặc tính

Phương pháp hồi quy bình phương tổng quát khả thi FGLS được sử dụng khi mô hình hồi quy OLS nhất quán nhưng không hiệu quả do sự hiện diện của tương quan chép giữa các sai số FGLS tiến hành qua hai giai đoạn: đầu tiên, mô hình được ước tính bằng OLS để thu được phần còn lại, sau đó sử dụng phần này để xây dựng một công cụ ước lượng nhất quán cho ma trận hiệp phương sai, cần kiểm tra thêm các ràng buộc như lỗi tự tương quan hoặc phương sai thay đổi Giai đoạn tiếp theo là áp dụng công cụ ước lượng này để có được ước lượng nhất quán và hiệu quả cho mô hình.

- Kiểm định lựa chọn giữa Pooled OLS và FEM

Kiểm định F được sử dụng để xác định sự khác biệt giữa tung độ gốc của các đối tượng, từ đó giúp lựa chọn giữa ước lượng Pooled OLS và ước lượng FEM Giả thiết H0 của kiểm định này là không có sự khác biệt giữa các đối tượng hoặc thời điểm khác nhau Nếu giá trị p-value nhỏ hơn 0,05, giả thiết H0 bị bác bỏ, cho thấy ước lượng FEM là phù hợp hơn so với Pooled OLS, và ngược lại.

- Kiểm định lựa chọn giữa FEM và REM

Kiểm định Hausman nhằm xác định sự tương quan giữa biến giải thích và sai số ngẫu nhiên \( \epsilon_i \) Giả thuyết H0 cho kiểm định này cho rằng nếu \( \epsilon_i \) không tương quan với các biến giải thích, thì ước lượng FEM sẽ là lựa chọn phù hợp hơn so với REM; ngược lại, nếu H0 bị bác bỏ, REM sẽ là phương pháp ước lượng thích hợp hơn.

- Kiểm định phương sai sai số thay đổi

Hiện tượng phương sai sai số thay đổi xảy ra khi phương sai của các sai số trong ước lượng không đồng nhất, vi phạm giả thuyết của mô hình hồi quy tuyến tính cơ bản Mặc dù hiện tượng này không làm thiên lệch kết quả ước lượng, nhưng nó khiến các ước lượng trở nên không hiệu quả Kết quả là, các kiểm định t và F trong ước lượng sẽ mất chính xác, dẫn đến khả năng đưa ra những kết luận sai lầm.

Việc kiểm định phương sai thay đổi trong dữ liệu bảng được thực hiện qua kiểm định LM – Breusch and Pagan Lagrangian Multiplier (đối với ước lượng REM) hoặc kiểm định Modified Wald (đối với ước lượng FEM) Cả hai kiểm định này đều kiểm tra giả thuyết H0: phương sai sai số của các đối tượng là không đổi Nếu giá trị p-value của mô hình nhỏ hơn 0,05, giả thuyết H0 sẽ bị bác bỏ, cho thấy sự tồn tại của hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

- Kiểm định tự tương quan

Hiện tượng tự tương quan thường xuất hiện trong dữ liệu chuỗi thời gian và dữ liệu bảng, khi sai số tại thời điểm t có mối tương quan với sai số ở thời điểm t-1 hoặc bất kỳ thời điểm nào khác trong cùng một đối tượng Tương tự như phương sai thay đổi, hiện tượng này vi phạm giả định của lý thuyết hồi quy cổ điển Mặc dù các ước lượng vẫn không thiên chệch và nhất quán, nhưng hiệu quả của chúng bị giảm sút, dẫn đến việc ước tính sai lệch giá trị t-value (hoặc p-value) và có thể gây ra các kết luận sai lầm Khi hiện tượng này xảy ra cùng với phương sai sai số thay đổi, độ tin cậy của các ước lượng càng bị suy giảm Do đó, cần xử lý các ước lượng bằng phương pháp ước lượng FGLS để cải thiện độ chính xác.

Chương 3 trình bày cơ sở lý thuyết về RRTD tại các ngân hàng thương mại Bên cạnh đó đã lược khảo các nghiên cứu truớc đây về RRTD tại các NHTM cổ phần trong nước và nước ngoài Đây là cơ sở để phân tích thực trạng rủi ro tín dụng tại các NHTM cổ phần Việt Nam tại chương 4.

THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM

Ngày đăng: 27/08/2021, 22:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tổng tài sản của các NHTM cổ phần Việt Nam giai đoạn 2008 – 2019 - Rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam
Bảng 2.1 Tổng tài sản của các NHTM cổ phần Việt Nam giai đoạn 2008 – 2019 (Trang 21)
Bảng 2.2: Lợi nhuận sau thuế của các NHTM cổ phần Việt Nam giai đoạn 2008 – 2019  - Rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam
Bảng 2.2 Lợi nhuận sau thuế của các NHTM cổ phần Việt Nam giai đoạn 2008 – 2019 (Trang 22)
Bảng 4.1:Tổng dư nợ cho vay của các NHTM cổ phần Việt Nam giai đoạn 2008 – 2019 - Rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam
Bảng 4.1 Tổng dư nợ cho vay của các NHTM cổ phần Việt Nam giai đoạn 2008 – 2019 (Trang 42)
4.3.1. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 4.3.1.1.Mô hình nghiên cứu:  - Rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam
4.3.1. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 4.3.1.1.Mô hình nghiên cứu: (Trang 46)
Bảng 4.2:Mô tả các biến - Rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam
Bảng 4.2 Mô tả các biến (Trang 50)
4.3.4.1. Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu Bảng 4.3: Các biến trong mô hình nghiên cứu  - Rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam
4.3.4.1. Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu Bảng 4.3: Các biến trong mô hình nghiên cứu (Trang 51)
Bảng 4.4: Ma trận hệ số tương quan - Rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam
Bảng 4.4 Ma trận hệ số tương quan (Trang 53)
Phụ lục 7. Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc là tỷ lệ NPL (mô hình Pooled OLS) - Rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam
h ụ lục 7. Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc là tỷ lệ NPL (mô hình Pooled OLS) (Trang 78)
Phụ lục 10. Kết quả kiểm định khuyết tật của mô hình hồi quy FEM với biến LLP - Rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam
h ụ lục 10. Kết quả kiểm định khuyết tật của mô hình hồi quy FEM với biến LLP (Trang 81)
Phụ lục 12. Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc LLP (mô hình FGLS) - Rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam
h ụ lục 12. Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc LLP (mô hình FGLS) (Trang 82)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w