NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm
Dân số trung bình thành phố năm 2005 là 237206 nguời, năm 2006 là
Tính đến năm 2007, dân số đạt 242.977 người, với tỷ lệ tăng dân số từ năm 2001 đến 2007 là 1,43%, trong đó tăng tự nhiên chiếm 0,83% và tăng cơ học là 0,6% Dân số phi nông nghiệp chiếm 86,3%, trong khi tỷ lệ nam giới là 50,01% Đặc biệt, 30% dân số dưới 14 tuổi và 14,4% trên 60 tuổi Ngoài ra, dân số vãng lai thường xuyên đạt hơn 10.200 người.
Dân số phân bố không đều giữa các khu vực hành chính, với mật độ trung bình nội thành đạt 5759 người/km² Các phường như Đội Cung, Quang Trung, Hồng Sơn và Lê Mao có mật độ dân số cao nhất, lên tới 11000 người/km² Trong khi đó, các phường khác có mật độ dao động từ 5000 đến 8000 người/km² Đặc biệt, phường Hưng Dũng, Đông Vịnh và các xã ngoại thành có mật độ dân số thấp hơn nhiều, dưới 2600 người/km².
Sự phân bố mật độ dân số giữa khu vực nội thành và ngoại thành rất chênh lệch, dẫn đến việc thành phố cần có cơ chế chính sách phù hợp cho từng khu vực Ở những nơi có mật độ dân số thấp và dân cư thưa thớt, công tác thu gom rác thải sinh hoạt gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi các giải pháp thích hợp để cải thiện tình hình.
Thành phố Vinh, với dân số 242.977 người, tạo ra một lượng rác thải lớn hàng ngày Nếu mỗi người thải ra khoảng 0,75 kg rác, thì trung bình thành phố sẽ thải ra hơn 182 tấn rác mỗi ngày, chưa kể đến rác thải từ đường phố và các khu vực công cộng.
4.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng khá cao trên các lĩnh vực, giai đoạn 2001- 2007 bình quân tăng trưởng là 12,7% Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm
Từ năm 2000 đến năm 2007, thành phố Vinh ghi nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng, với tỷ lệ tăng trưởng đạt 10.5% vào năm 2000, 12.7% vào năm 2006 và 14.3% vào năm 2007 Sự gia tăng này cho thấy Vinh là một thành phố phát triển năng động, với tốc độ phát triển vượt trội so với mức trung bình của cả nước, khi tốc độ tăng trưởng toàn quốc chỉ đạt 8.17% vào năm 2006.
Năm 2007, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của thành phố Vinh đạt 8.5%, tạo ra áp lực lớn về môi trường, đặc biệt là vấn đề rác thải sinh hoạt Sự phát triển kinh tế dẫn đến cải thiện thu nhập của người dân, từ đó làm tăng nhu cầu tiêu dùng và lượng rác thải phát sinh Điều này không chỉ gia tăng số lượng mà còn đa dạng hóa thành phần chất thải, với nhiều loại rác thải nguy hại hơn Thành phố Vinh đang đối mặt với thách thức lớn khi chưa có hệ thống phân loại rác tại nguồn hiệu quả.
Mặc dù thành phố Vinh có hệ thống giao thông hoàn thiện với nhiều loại hình, nhưng hiện nay, vấn đề về bãi tập kết rác thải và các ga rác đang được chính quyền chú trọng Các xe rác gom tay chủ yếu tập kết trên các tuyến đường, góc phố, ngã ba, ngã tư, gây ảnh hưởng đến hoạt động giao thông và văn minh đô thị, như mùi hôi và rác rơi vãi Hệ thống đường nhỏ trong các ngõ hẻm gây cản trở cho việc thu gom rác, buộc người dân phải mang rác đi xa để đổ Điều này đặt ra yêu cầu cần thiết cho công tác quy hoạch của thành phố.
Hình 8.2.Xe rác lấn phố
Hình 2.9 Nhiều ổ dịch di động
4.4 Ý thức của người dân còn kém
Trình độ hiểu biết của người dân về tác hại của việc vứt rác bừa bãi và tầm quan trọng của bảo vệ môi trường còn thấp, dẫn đến việc họ không tận dụng chế phẩm thừa Ý thức trách nhiệm trong việc bỏ rác đúng nơi quy định cũng kém, nhiều người bảo thủ không muốn thực hiện các chủ trương bảo vệ môi trường do lo ngại về chi phí Kết quả khảo sát cho thấy địa điểm đổ rác của các hộ gia đình thường phụ thuộc vào thói quen và quy định của từng thôn, với việc rác thường được để ở khu vực xung quanh nhà như trước ngõ hoặc lề đường nơi xe đẩy rác đi qua.
Kết quả điều tra cho thấy địa điểm đổ rác của hộ gia đình thường phụ thuộc vào thói quen của người dân và quy định của từng thôn Các hộ thường để rác xung quanh nhà, như trước ngõ hoặc lề đường nơi xe đẩy rác đi qua, và sau đó có người đến thu gom Tuy nhiên, vẫn tồn tại tình trạng đổ rác sai quy định, với việc tiện đâu đổ đó.
Hình 2.10 Rác thải tiện đâu xả đó
Hầu hết người dân đều tham gia tích cực vào hoạt động dọn dẹp vệ sinh môi trường, đặc biệt là việc vệ sinh xung quanh nhà ở và tổng vệ sinh đường làng, ngõ xóm vào các buổi sáng thứ 7 hàng tuần.
Theo kết quả điều tra về chất lượng dịch vụ thu gom rác thải tại thôn, 40% người dân đánh giá dịch vụ là tốt, 20% cho rằng ở mức bình thường, 33% cho rằng chưa tốt và 7% có ý kiến khác Một số người phản ánh rằng thái độ của nhân viên thu gom chưa đạt yêu cầu, khi chỉ thu gom rác trong túi nilon, xô hoặc bao tải mà không quét dọn đường làng, ngõ xóm, dẫn đến tình trạng rác rơi vãi.
Như vậy, công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định cần phải khắc phục.
Hình 2.11.Đánh giá của người dân về thu gom RTSH
Tác hại của việc ô nhiễm môi trường
5.1 Tác hại của rác thải sinh hoạt tới môi trường
Rác thải sinh hoạt không được thu gom và phân loại đúng cách đang gây ô nhiễm môi trường đất Các chất thải khó phân hủy như túi nilon, vỏ lon và hydrocacbon tích tụ trong đất, làm thay đổi cấu trúc đất và dẫn đến tình trạng đất khô cằn Hệ sinh thái vi sinh vật trong đất cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, có thể dẫn đến sự suy giảm đa dạng sinh học và chất lượng đất.
+ Nhiều loại chất thải như xỉ than, vôi vữa… đổ xuống đất làm cho đất bị đóng cứng, khả năng thấm nước, hút nước kém, đất bị thoái hóa.
Lượng rác thải rơi vãi và ứ đọng lâu ngày có thể gây ô nhiễm nguồn nước khi gặp mưa Khi mưa xuống, rác sẽ theo dòng nước chảy vào cống rãnh, hòa tan các chất độc và dẫn đến ao hồ, sông ngòi, làm ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước mặt tiếp nhận.
Rác thải không được thu gom gây ứ đọng trong các ao, hồ, dẫn đến ô nhiễm và mất vệ sinh các thủy vực Sự ô nhiễm này làm giảm hàm lượng oxy hòa tan trong nước, hạn chế khả năng nhận ánh sáng của các tầng nước, từ đó ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của thực vật thủy sinh và giảm sinh khối trong các thủy vực.
Bãi chôn lấp rác thải có thể gây ô nhiễm nghiêm trọng cho nguồn nước ngầm và các nguồn nước lân cận như ao hồ, sông suối Nếu không có lớp phủ bảo vệ hiệu quả để ngăn nước mưa thấm qua, nguy cơ ô nhiễm nguồn nước mặt sẽ tăng cao.
Các trạm bãi trung chuyển rác gần khu dân cư gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng, với mùi hôi từ rác thải, bụi bặm khi thu gom, tiếng ồn và khí thải độc hại từ xe thu gom và vận chuyển rác.
Tại các bãi chôn lấp chất thải rắn, vấn đề ô nhiễm môi trường khí trở nên nghiêm trọng với sự xuất hiện của mùi hôi thối và khí metan Ngoài ra, các khí độc hại phát sinh từ chất thải nguy hại cũng góp phần làm gia tăng mức độ ô nhiễm không khí, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và môi trường sống.
5.2 Tác hại của rác thải sinh hoạt tới sức khỏe con người
Rác thải có tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người thông qua việc làm ô nhiễm môi trường Khi môi trường bị ô nhiễm, các thành phần trong chuỗi thức ăn cũng bị ảnh hưởng, dẫn đến những rủi ro cho sức khỏe con người.
Nếu không áp dụng kỹ thuật chôn lấp và xử lý phủ tại các bãi rác, nơi đây sẽ trở thành môi trường phát sinh ruồi, muỗi, làm tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh Hơn nữa, chất thải độc hại tại các bãi rác có thể gây ra các bệnh hiểm nghèo cho con người khi tiếp xúc, đe dọa sức khỏe cộng đồng xung quanh.
Rác thải tồn đọng ở các khu vực và bãi rác không hợp vệ sinh là nguyên nhân chính gây ra dịch bệnh và đe dọa sức khỏe con người Theo nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ mắc bệnh ung thư ở những khu vực gần bãi chôn lấp rác thải lên đến 15,25% dân số Hơn nữa, tỷ lệ mắc các bệnh ngoại khoa và viêm nhiễm ở phụ nữ do ô nhiễm nguồn nước đạt tới 25%.
5.3 Tác hại của rác thải sinh hoạt làm giảm mỹ quan đô thị
Rác thải sinh hoạt nếu không được thu gom và vận chuyển đúng cách sẽ gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng xấu đến mỹ quan đô thị Việc thu gom không đầy đủ, vận chuyển rơi vãi trên đường, và sự tồn tại của các bãi rác nhỏ lộ thiên đều tạo ra những hình ảnh phản cảm, làm giảm chất lượng sống của cộng đồng.
5.4 Tác hại của rác thải sinh hoạt đối với kinh tế
Ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế thành phố Vinh Sự gia tăng nhiệt độ không chỉ làm giảm lượng oxy trong đất mà còn ảnh hưởng đến hệ vi sinh vật, dẫn đến việc phân hủy chất hữu cơ không hiệu quả Điều này gây ra sự hình thành các sản phẩm độc hại như NH3, N2S và CH4, gây hại cho cây trồng và động vật thủy sinh, đồng thời làm cho đất trở nên chai cứng và mất chất dinh dưỡng.
Các phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt chủ yếu
Việc chôn lấp rác thải được thực hiện bằng xe chuyên dụng, đưa rác đến các bãi đã được xây dựng Sau khi đổ rác, xe ủi sẽ san bằng và đầm nén bề mặt, sau đó phủ một lớp đất lên trên Hằng ngày, các biện pháp như phun thuốc diệt côn trùng và rắc vôi bột được áp dụng Qua thời gian, vi sinh vật phân hủy giúp rác trở nên tơi xốp và giảm thể tích bãi rác Quá trình đổ rác tiếp tục cho đến khi bãi rác đầy, sau đó sẽ chuyển sang bãi rác mới.
Các bãi chôn lấp rác cần được đặt xa khu dân cư và không gần nguồn nước ngầm hay nguồn nước mặt Đáy bãi rác thường được xây dựng trên tầng đất sét hoặc được bảo vệ bằng các lớp chống thấm Ngoài ra, cần thiết kế khu thu gom và xử lý nước rác trước khi thải ra môi trường Việc thu khí ga từ rác thải để chuyển đổi thành năng lượng là một giải pháp hiệu quả trong việc tận dụng rác thải.
- Ưu điểm của phương pháp:
+ Công nghệ đơn giản, rẻ tiền và phù hợp với nhiều loại rác thải.
+ Chi phí vận hành bãi rác thấp.
- Nhược điểm của phương pháp:
+ Chiếm diện tích đất tương đối lớn.
+ Không được sự đồng tình của người dân khu vực xung quanh.
+ Nguy cơ gây ô nhiễm môi trường (đất, nước, không khí) cao.
+ Tìm kiếm xây dựng bãi rác mới là việc làm khó khăn.
Xử lý rác bằng phương pháp đốt giúp giảm thiểu chất thải cho khâu xử lý cuối cùng, với dung tích chất thải rắn giảm đến 90% và trọng lượng chỉ còn khoảng 25% so với ban đầu Phương pháp này tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu gom và giảm nhu cầu về dung tích chứa tại nguồn, đồng thời dễ dàng vận chuyển ra bãi chôn lấp tập trung Tuy nhiên, việc đốt rác có thể gây ô nhiễm không khí cho khu vực xung quanh và làm mất mỹ quan đô thị, vì vậy nên áp dụng ở các địa phương nhỏ với mật độ dân số thấp.
6.3 Phương pháp xử lý rác bằng công nghệ Seraphin
Hình 12.2 Tháp ủ lắp đặt rác Đông Vinh – tại nhà máy Nghệ An
Năm 2003, Công ty Cổ phần công nghệ môi trường xanh đã thành công trong việc chế tạo dây chuyền xử lý rác thải bằng công nghệ Seraphin, giúp tái chế rác thải sinh hoạt thành sản phẩm hữu ích Đây là công nghệ xử lý rác thải đầu tiên tại Việt Nam do người Việt nghiên cứu và lắp ráp, có khả năng tái chế đến 90% lượng rác, bao gồm cả rác vô cơ và hữu cơ, đồng thời tiết kiệm đất đai Đặc biệt, mức đầu tư cho nhà máy sử dụng công nghệ Seraphin chỉ bằng 30-40% so với dây chuyền nhập khẩu, và công nghệ này đã được Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam cấp bằng độc quyền sáng chế.
Áp dụng công nghệ Seraphin trong xử lý rác thải mang lại nhiều lợi ích, bao gồm khả năng vận hành đồng thời hai dây chuyền cho rác thải tươi và rác thải khô, từ đó tạo ra các sản phẩm khác nhau Quá trình tách lọc rác hữu cơ giúp sản xuất phân vi sinh như mùn hữu cơ và phân hữu cơ sinh học, trong khi rác vô cơ được chuyển đến bộ phận khác để chế biến thành sản phẩm như nhựa, ống cống, bát đựng mủ cao su và các loại xô chậu Việc áp dụng công nghệ này không chỉ tiết kiệm nước rửa mà còn giảm thiểu ô nhiễm môi trường do nước thải công nghiệp.
Việc áp dụng công nghệ Seraphin trong xử lý rác thải tại thành phố Vinh hiện đang gặp nhiều khó khăn do ý thức của người dân về bảo vệ môi trường đô thị chưa cao Theo thống kê, công nghệ này chỉ đạt khoảng 40% hiệu quả trong việc bảo vệ môi trường đô thị.
Đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt tại địa bàn thành phố Vinh
Theo tôi đề xuất một số biện pháp nhằm cải thiện xử lý rác thải tốt hơn đem lại môi trường trong sạch hơn.
Dựa trên tình hình thực tế và điều kiện kinh tế xã hội hiện tại, cần xây dựng quy hoạch phát triển và dự báo lượng rác thải phát sinh trong những năm tới Điều này sẽ giúp đề ra các phương án giải pháp hiệu quả cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải, nhằm nâng cao chất lượng quản lý rác thải.
Để nâng cao hiệu quả thu gom chất thải, cần đầu tư và đổi mới trang thiết bị chuyên dụng nhằm đáp ứng lượng chất thải ngày càng gia tăng Việc mở rộng phạm vi thu gom và trang bị xe tải nhỏ cho các tuyến đường hẹp sẽ giúp cải thiện quy trình vận chuyển chất thải.
+ Chính quyền địa phương cần giành đất để xây dựng nhà máy xử lý rác
+ Xử lí rác làm phân bón.
+ Cần phân loại rác tại nguồn để phục vụ cho việc tái chế.
+Xử dụng chế phẩm sinh học để phân hủy rác nhanh hơn để tạo các sản phẩm phục vụ con nguời.
+ Thu các chất khí từ rác để làm nhiên liệu đốt.
+ Chế tạo các sản phẩm sạch: túi ni lon tự phân hủy, dùng túi vải thay cho túi ni lon
+ Mỗi phường có người phụ trách quản lý về môi trường.
Tổ chức các buổi tập huấn cho đội thu gom rác thải nhằm nâng cao kỹ thuật thu gom và phân loại rác, đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm của họ trong công việc Đội ngũ này sẽ hoạt động dưới sự quản lý của cán bộ môi trường tại từng phường.
+Tổ chức tập huấn cho cán bộ môi trường để nâng cao trình độ chuyên môn,khả năng quản lý của mình.
Quản lý rác thải toàn thành phố thay vì từng phường sẽ giúp nắm bắt tình hình phát sinh rác hiệu quả hơn, từ đó dễ dàng lựa chọn biện pháp quản lý phù hợp.
Để nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường, cần tăng ngân sách nhà nước cho các hoạt động tuyên truyền và thành lập quỹ môi trường nhằm tài trợ cho các hoạt động khuyến khích cũng như giải quyết các sự cố môi trường tại địa phương.
Công nhân thu gom rác cần được phân loại vào ngành lao động độc hại, từ đó đảm bảo chế độ tiền lương, phụ cấp độc hại và bảo hộ lao động phù hợp.
Để quản lý rác thải hiệu quả, cần thực hiện phân loại rác tại nguồn và tuyên truyền cho người dân về cách phân loại rác trước khi thải bỏ Phương pháp 3R (giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế) nên được áp dụng Giảm thiểu việc sử dụng túi nilon và đồ hộp là cách hạn chế rác thải Tái sử dụng phế liệu và thực phẩm dư thừa cho chăn nuôi giúp giảm lượng rác thải Cuối cùng, tái chế chất thải hữu cơ để sản xuất phân bón và khí sinh học là một giải pháp bền vững cho môi trường.
Đưa tiêu chí bảo vệ môi trường vào đánh giá gia đình văn hóa là một bước đi quan trọng Những gia đình có ý thức trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường sẽ được tuyên dương, trong khi những gia đình thiếu ý thức sẽ bị nêu tên công khai qua loa phát thanh hàng ngày.
Đối với rác thải hữu cơ như thực phẩm thừa, lá cây và phế thải nông nghiệp, việc làm phân ủ là phương pháp hiệu quả và phổ biến ở nhiều tỉnh thành, giúp tiết kiệm chi phí sản xuất khi tận dụng nguồn rác làm phân bón cho cây trồng Tuy nhiên, phân ủ vẫn có thể chứa vi sinh vật có hại, cần được xử lý cẩn thận để đảm bảo an toàn cho sức khỏe Ngoài ra, khí sinh học có thể được sản xuất tại hộ gia đình từ phế thải đồng ruộng và chất thải chăn nuôi Để tối ưu hóa việc xử lý rác thải, cần xây dựng nhà máy xử lý rác làm phân vi sinh chung cho thành phố phục vụ nông nghiệp Đối với rác thải không tái chế như gạch, đất, thủy tinh, biện pháp chôn lấp hiện tại gặp khó khăn do chi phí cao và nguồn kinh phí hạn chế Do đó, việc xây dựng bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh cho toàn thành phố là cần thiết để giảm thiểu ô nhiễm môi trường và xóa bỏ các bãi rác lộ thiên.
Giáo dục và tuyên truyền nâng cao nhận thức về nếp sống văn minh, đặc biệt là việc không vứt rác bừa bãi, là rất quan trọng đối với mọi tầng lớp nhân dân trong thành phố, bao gồm cả doanh nghiệp, cửa hàng và trung tâm thương mại Ý thức bảo vệ môi trường, đặc biệt là rác thải sinh hoạt, phụ thuộc vào sự quan tâm và nỗ lực chung của toàn xã hội Các cấp chính quyền đã tổ chức nhiều hoạt động như cuộc thi tìm hiểu về môi trường và phát tờ rơi tuyên truyền, nhưng hiệu quả chưa cao do thiếu tính liên tục trong công tác tuyên truyền.
+ Đưa phần mềm giáo dục môi truờng vào giáo dục trong nhà truờng