1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Nghiên cứu thành phần loài cá ở hồ Trị An, tỉnh Đồng Nai

107 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 3,33 MB

Cấu trúc

  • TRANG BÌA

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN

    • 1.1. LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU CÁ Ở SÔNG ĐỒNG NAI VÀ HỒ TRỊ AN

      • 1.1.1. Lược sử nghiên cứu cá ở sông Đồng Nai

      • 1.1.2. Lược sử nghiên cứu cá ở hồ Trị An

      • 1.1.3. Thành phần loài cá ở hồ Trị An và hồ Dầu Tiếng

    • 1.2. HỆ THỐNG PHÂN LOẠI CÁ

    • 1.3. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ VAI TRÒ CỦA HỒ TRỊ AN

      • 1.3.1. Vị trí địa lí và lịch sử hình thành

      • 1.3.2. Đặc điểm khí hậu

      • 1.3.3. Đặc điểm thủy văn

      • 1.3.4. Vai trò của hồ Trị An

    • 1.4. CÁC CHỈ TIÊU CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC

      • 1.4.1. Các yếu tố thủy lí

      • 1.4.2. Các yếu tố thủy hóa

    • 1.5. TÌNH HÌNH KHAI THÁC NGUỒN LỢI CÁ Ở HỒ TRỊ AN

      • 1.5.1. Ngư cụ khai thác

      • 1.5.2. Sản lượng khai thác

      • 1.5.3. Biến động về ngư dân và sản lượng khai thác thủy sản

  • CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    • 2.1. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU

      • 2.1.1. Thời gian nghiên cứu

      • 2.1.2. Địa điểm nghiên cứu

      • 2.1.3. Tư liệu nghiên cứu

    • 2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CÁ

      • 2.2.1. Ngoài thực địa

      • 2.2.2. Trong phòng thí nghiệm

      • 2.2.3. Phương pháp đánh giá mức độ gần gũi

      • 2.2.4. Phương pháp phân tích và đánh giá chất lượng môi trường nước

      • 2.2.5. Phương pháp đánh giá tầm quan trọng nguồn lợi cá ở hồ Trị An

      • 2.2.6. Phương pháp điều tra

  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

    • 3.1. THÀNH PHẦN CÁC LOÀI CÁ Ở HỒ TRỊ AN

      • 3.1.1. Danh sách các loài cá ở hồ Trị An

      • 3.1.2. Đặc điểm khu hệ cá ở hồ Trị An

      • 3.1.3. Tình hình các loài cá trong Sách Đỏ Việt Nam ở hồ Trị An

      • 3.1.4. Tính chất của khu hệ cá ở hồ Trị An

      • 3.1.5. Thành phần các loài cá thu được qua mùa mưa và khô ở hồ Trị An

      • 3.1.6. Thành phần các loài cá thu được qua các năm ở hồ Trị An

    • 3.2. ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ CHỈ SỐ MÔI TRƯỜNG NƯỚC Ở HỒ TRỊ AN

    • 3.3. TẦM QUAN TRỌNG VÀ NGUỒN LỢI KHU HỆ CÁ Ở HỒ TRỊ AN

      • 3.3.1. Tầm quan trọng nguồn lợi cá ở hồ Trị An

      • 3.3.2. Hiện trạng nghề cá

      • 3.3.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến nguồn lợi cá

    • 3.4. ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ NGUỒN LỢI CÁ

      • 3.4.1. Bảo tồn đa dạng cá

      • 3.4.2. Khai thác hợp lí nguồn lợi cá

      • 3.4.3. Nâng cao năng suất sinh học cá

Nội dung

TỔNG QUAN

Hệ thống phân loại cá

Hệ thống phân loại cá được sắp xếp như sau:

Lớp (Classis) Phân lớp (Subclassis)

Hiện nay, trên thế giới và trong nước, hai hệ thống phân loại cá của Rass & Lindberg G.V (1974) và Eschmeyer W.N & Fong J.D (2018) đang tồn tại song song Hệ thống phân loại của Eschmeyer và Fong được ưa chuộng hơn vì tính hiện đại và độ tin cậy cao.

Đặc điểm tự nhiên và vai trò của hồ Trị An

1.3.1 V ị trí địa lí và lị ch s ử hình thành

Hồ Trị An, khởi công vào năm 1984 và hoàn thành vào năm 1987, được hình thành từ việc đắp đập ngăn sông Đồng Nai, nằm tại xã Cây Gáo, huyện Vĩnh Cửu, cách thành phố Biên Hòa khoảng 35 km về phía Đông Bắc Đập chính có chiều dài 420 m, chiều cao 37 m và đỉnh rộng 10 m, với đập tràn bằng bê tông trọng lực dài 150 m, gồm 8 khoang rộng 15 m, được điều khiển bằng 8 cửa van sử dụng cần cẩu chân đế 250 tấn Ngoài ra, hồ còn có đập phụ suối Rộp với chiều cao lớn nhất 45 m và cao trình đỉnh 65 m.

+ Mực nước dâng bình thường là 62 m ứng với dung tích là 2.765 km 3 và diện tích mặt hồ là 323 km 2

+ Mực nước chết 50 m ứng với dung tích chết là 218 km 3 và diện tích mặt hồ là

+ Mực nước gia cường 64 m ứng với dung tích gia cường là 3.400 km 3

+ Dung tích hữu ích là 2.547 km 3

+ Chiều dài hồ theo lòng sông là 35 km.

+ Chiều rộng trung bình là 8 km.

+ Chiều sâu lớn nhất là 28 m [15]

Sông La Ngà cung cấp khoảng 4,5 x 10^9 m³ nước mỗi năm cho hồ Trị An, chiếm 1/3 tổng lượng nước của hồ, với mô đun dòng chảy năm là 351 s/km² Đoạn sông chảy qua tỉnh Đồng Nai dài khoảng 55 km, có nhiều khúc khuỷu và ghềnh thác Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm dao động từ 25,7 đến 26,7°C, với chênh lệch nhiệt độ giữa các năm không lớn Chênh lệch nhiệt độ cao nhất giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất là 4,2°C, trong khi nhiệt độ trung bình mùa khô từ 25,4 đến 26,7°C, và chênh lệch giữa tháng cao nhất và thấp nhất là 4,8°C Nhiệt độ trung bình trong mùa mưa là 26,0°C.

Nhiệt độ trung bình hàng năm là 26,8°C, với dao động trong mùa khô chỉ khoảng 0,8°C Khu vực hồ Trị An, huyện Vĩnh Cửu ghi nhận lượng mưa lớn nhất, vượt quá 2.500 mm mỗi năm Trong mùa khô, tổng lượng mưa dao động từ 210 đến 370 mm, trong khi mùa mưa mang lại lượng mưa từ 1.500 đến 2.400 mm, chiếm 86 - 88% tổng lượng mưa hàng năm.

1.3.3 Đặc điể m th ủy văn

Mùa mưa ở lưu vực sông Đồng Nai và La Ngà bắt đầu từ tháng 5, nhưng mùa lũ chính thức diễn ra từ tháng 7, khi lượng nước trong hồ Trị An tăng cao Khu vực này nhận lượng mưa phong phú do ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam, với hệ số dòng chảy bình quân từ 0,4 - 0,5, cao hơn so với nhiều khu vực khác ở miền Nam Mô đun dòng chảy năm của hồ Trị An đạt 36,4 l/s/km² Để đánh giá hàm lượng phù sa trong nước sông, người ta sử dụng độ đục đơn vị, biến đổi mạnh theo thời gian Vào mùa lũ, độ đục và hàm lượng phù sa cao, trong khi mùa cạn, nước trong và độ đục giảm xuống rất thấp Độ đục trung bình của hồ Trị An dao động từ 30,8 - 40 g/m³, mùa lũ từ 47,3 - 55,8 g/m³, và mùa cạn từ 12,7 - 17,5 g/m³ Lưu lượng phù sa lơ lửng tại hồ Trị An trung bình là 24,1 kg/s, và hồ hoàn toàn không bị xâm nhập mặn.

Nước hồ Trị An trong giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 11 năm 1988 có nồng độ ô nhiễm từ 2,2 - 5,6 mg/l Tuy nhiên, trong những năm gần đây, hồ Trị An được đánh giá là khá sạch với độ pH trung tính từ 6,8 - 7,3 Hàm lượng các ion Fe 2+ và Fe 3+ chỉ từ 0,1 - 0,3 mg/l, cùng với hàm lượng SO4 2- và Cl - ở mức thấp Độ cứng tổng thể của nước cũng nhỏ, trong khi hàm lượng oxygen hòa tan (DO) đạt từ 6,5 - 7,0 mg/l Mức độ ô nhiễm hữu cơ được xác định qua chỉ số oxy hóa học (COD, KMnO4) nhỏ hơn 3 mg/l.

Hồ Trị An đã phát triển một môi trường nước ổn định, tạo ra mối quan hệ hữu cơ giữa các thủy sinh vật và các thành phần thủy hóa Chất lượng nước hồ hiện đã ổn định sau những biến động từ sự phân rã thảm thực vật, đáp ứng tiêu chuẩn cho việc cấp nước sinh hoạt, thủy lợi và thủy sản.

1.3.4 Vai tr ò củ a h ồ Tr ị An

Hồ Trị An không chỉ mang lại lợi ích quan trọng như cung cấp điện, nước tưới cho nông nghiệp, và nước cho công nghiệp và sinh hoạt, mà còn góp phần cải thiện môi trường, giảm độ mặn ở hạ lưu sông Đồng Nai, phát triển nghề cá và du lịch.

Nhà máy thủy điện Trị An có tổng công suất 400 MW và cung cấp trung bình 1.760 triệu kWh điện năng mỗi năm cho các tỉnh thành phía Nam, đứng thứ hai sau nhà máy thủy điện Hòa Bình.

Hồ Trị An với mặt nước rộng, đáy hồ bằng phẳng và chất lượng nước tốt là điều kiện lý tưởng cho phát triển nghề nuôi cá nước ngọt, góp phần tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho người dân xung quanh Ngành thủy sản tỉnh Đồng Nai hàng năm khai thác được hơn 3.000 tấn cá, cho thấy tiềm năng lớn nếu được đầu tư và quản lý hiệu quả Ngoài ra, độ ẩm không khí trong mùa khô hiện nay cao hơn 3-4% và nhiệt độ tối thấp cũng tăng từ 0,3-1,5°C so với thời kỳ trước khi có hồ.

Hồ Trị An không chỉ mang lại những lợi ích cơ bản mà còn có vai trò quan trọng trong việc điều tiết nước trong mùa khô, giúp đẩy lùi mặn về phía hạ lưu xa hơn Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng vụ ở các xã ven sông thuộc huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Hồ nằm ở độ cao 40 - 50 m so với mực nước biển, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 65 km, với nhiều đảo nhỏ và mặt nước rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành du lịch.

Các chỉ tiêu chất lượng môi trường nước

1.4.1 Các yếu tố thủy lí

Nhiệt độ môi trường nước ảnh hưởng lớn đến đời sống thủy sinh vật, làm thay đổi tốc độ trao đổi chất, rối loạn chức năng hô hấp và mất cân bằng pH trong máu Nó cũng ảnh hưởng đến chức năng điều hòa áp suất thẩm thấu và gây tổn thương bóng hơi của cá Nhiệt độ tác động đến nhịp độ sinh sản và phát triển của thủy sinh vật, cùng với nồng độ muối, quyết định sự phân bố của chúng theo vĩ độ và thủy vực.

Nhiệt độ nước trong thủy vực thấp nhất thường xảy ra vào lúc 2 - 5 giờ sáng và cao nhất vào khoảng 14 - 16 giờ Vào lúc 10 giờ, nhiệt độ nước gần nhất với nhiệt độ trung bình trong ngày Do là động vật biến nhiệt, động vật thủy sản không thể duy trì sự ổn định của nhiệt độ cơ thể, vì vậy mọi biến động của nhiệt độ nước đều ảnh hưởng đến chúng.

Độ mặn, hay còn gọi là hàm lượng muối trong nước, được ký hiệu là S‰, đại diện cho tổng lượng các chất hòa tan tính theo gram Nước ngọt có độ mặn thấp hơn 0,6 ‰, trong khi nước biển có độ mặn trung bình khoảng 35 ‰.

Mayer, X.M., Ruprecht, J.K., Bari, M.A [19] thì phân loại độ mặn như sau:

Độ dẫn điện của nước phụ thuộc vào sự hiện diện của các ion, chủ yếu là muối kim loại như NaCl, KCl và các ion như SO4 2–, NO3 – và PO4 3– Nước có độ dẫn điện cao thường liên quan đến tính độc hại của các ion hòa tan, cho thấy tác động ô nhiễm Để đo độ dẫn điện, người ta thường sử dụng máy đo điện trở hoặc cường độ dòng điện.

1.4.2 Các yếu tố thủy hóa

pH là yếu tố môi trường quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống thủy sinh vật, bao gồm sinh trưởng, tỷ lệ sống, sinh sản và dinh dưỡng Mức pH lý tưởng cho thủy sinh vật nằm trong khoảng 6,5 - 9,0 Khi pH quá cao hoặc quá thấp, nó có thể làm thay đổi độ thẩm thấu của màng tế bào, dẫn đến rối loạn quá trình trao đổi chất giữa cơ thể và môi trường Do đó, pH quyết định sự phân bố của các loài thủy sinh vật Ngoài ra, pH cũng ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của phôi, dinh dưỡng, sinh trưởng và sinh sản của cá; cá sống trong môi trường có pH thấp thường chậm phát dục và có khả năng sinh sản kém.

“Nguồn: Quản lí chất lượng nước trong ao nuôi cá nước ngọt” [17]

Quá trình quang hợp của thực vật thủy sinh và phiêu sinh thực vật dẫn đến sự thay đổi pH trong suốt cả ngày pH đạt mức thấp nhất vào khoảng 5 - 6 giờ sáng và sau đó tăng dần, đạt đỉnh điểm vào khoảng 14 - 15 giờ chiều.

 Hàm lượng oxygen hòa tan

DO (Oxy hòa tan) là chỉ số quan trọng thể hiện hàm lượng oxy hòa tan trong nước, thường được đo bằng mg/l Oxy là yếu tố thiết yếu cho sự sống của thủy sinh vật, vì vậy hàm lượng DO là một tiêu chí đánh giá chất lượng nước Nguồn nước có DO cao thường ít ô nhiễm hơn so với nguồn nước có DO thấp Ở nhiệt độ bình thường, mức độ hòa tan tối đa của oxy trong nước đạt khoảng 8,0 mg/l Khi DO giảm xuống còn 4 - 5 mg/l, số lượng loài thủy sinh vật sẽ giảm đáng kể Nếu DO đạt 0 mg/l, nước sẽ chuyển sang màu đen và phát ra mùi hôi do chỉ còn quá trình phân hủy yếm khí diễn ra.

Tình hình khai thác nguồn lợi cá ở hồ Trị An

Tác giả Vũ Cẩm Lương, Lê Thanh Hùng (2009) [2] và Nguyễn Công Đức (2016)

[12] đã thống kê các loại ngư cụđược phép khai thác thủy sản chủ yếu trên hồ Trị An được thể hiện qua bảng 1.3

Cá Linh, cá Mè vinh, cá Chốt, cá Chép, cá Ét mọi… Tầng mặt

Lưới ba màng 60 - 100 Cá Chép, cá Mè vinh, cá Linh rìa,… 3 tầng nước Lưới rê cá

Cơm tầng mặt 10 Cá Cơm sông, cá

2 Nhóm ngư cụ kéo Cào gọng 24 - 40 Cá Chép, cá Mè vinh, cá Rô phi,… Tầng đáy

Chài quăng 30 - 40 Cá Mè vinh, cá Rô phi, cá Linh rìa,… 3 tầng Chài rê 35 - 40

Cá Lăng, cá Chép, cá Mè vinh, cá Rô phi, cá Chốt, 3 tầng

Cá Lìm kìm, cá Cơm sông, cá Sơn xiêm, cá Chép,… 3 tầng

Cá Lìm kìm, cá Trèn bầu, cá Sơn xiêm, cá

5 Nhóm ngư cụ câu Câu giăng 500 lưỡi câu

Cá Lóc đồng, cá Chép, cá Mè vinh, cá Rô phi, cá Rô đồng, cá Lăng,…

6 Nhóm ngư cụ vó Vó

Cá Mè vinh, cá Rô phi, cá Trèn bầu, cá Chép, cá Lăng,… Tầng mặt, tầng giữa

Nhóm ngư cụ lưới vây - lưới rùng

Cá Chép, cá Mè vinh, cá Rô phi, cá Cơm sông,… 3 tầng

Cá Chép, cá Mè vinh, cá Rô phi, cá

Ba dong, cá Lăng, 3 tầng

Lưới vây đèn cá cơm 4

Cá Cơm sông, cá Sơn xiêm, cá Ba dong,…

Lưới sò 4 Cá Bống,… Tầng đáy

Bộ lợp tép Lợp tre Cá Bống, Tép,… Tầng đáy

Bộ lợp cá Rô phi 40 Cá Rô phi, cá Rô đồng, cá Rô biển,… Tầng đáy

Mè vinh, cá Rô phi, cá Ba dong,… Tầng đáy Lưới đăng 40

Cá Rô phi, cá Trê, cá Mè vinh, cá Chép, cá Lóc… 3 tầng

Có 19 loại ngư cụ được dùng khai thác nguồn lợi thủy sản ở hồ Trị An, tùy theo các đối tượng khai thác, khu vực phân bố, kích thước khác nhau mà sử dụng các loại ngư cụ khác nhau sao cho phù hợp và thu hoạch hiệu quả cao nhất theo kinh nghiệm của ngư dân Các ngư cụ đánh bắt ở các tầng nước khác nhau cho nên cá được khai thác gần như toàn diện các tầng của nước Điều này đã gây áp lực không nhỏ đến thành phần và nguồn lợi các loài cá ở hồ Trị An, làm sản lượng đánh bắt ngày càng suy giảm

2014 - 2017 có chiều hướng suy giảm được thể hiện qua bảng 1.4 [12]

Bảng 1.4 Sản lượng khai thác theo mùa giai đoạn năm 2014 - 2017

Sản lượng khai thác (kg/mùa) Mùa khô Mùa mưa

Sự biến động sản lượng khai thác thủy sản giữa hai mùa là do vào mùa khô, mực nước hồ giảm mạnh, diện tích mặt nước hiệu quả cho khai thác chỉ còn 25.000 ha, tạo điều kiện thuận lợi cho ngư dân Ngược lại, trong mùa mưa, lượng nước đầu nguồn tăng lên, diện tích nước tự nhiên mở rộng, nhưng đây cũng là mùa sinh sản của cá nước ngọt, khiến việc khai thác trở nên khó khăn hơn so với mùa khô.

1.5.3 Biến động về ngư dân và sản lượng khai thác thủy sản

Bảng 1.5 trình bày sự biến động của sản lượng khai thác và số lượng ngư dân khai thác từ năm 2009 đến 2017, dữ liệu được thu thập từ Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai.

Bảng 1.5 Sản lượng khai thác thủy sản ở hồ Trị An từnăm 2009 - 2017

Năm Sản lượng khai thác (tấn) Sốngư dân (người)

Từ năm 2009 đến 2011, mặc dù số ngư dân gia tăng, sản lượng khai thác có dấu hiệu giảm nhẹ Tuy nhiên, giai đoạn 2012 đến 2015 chứng kiến sự gia tăng sản lượng khi số ngư dân tiếp tục tăng Đến năm 2016 và 2017, mặc dù số lượng ngư dân vẫn tăng, nhưng sản lượng khai thác lại giảm, cho thấy nguồn lợi thủy sản đang suy giảm do khai thác quá mức Tình trạng này phản ánh sự thiếu quy hoạch trong quản lý hoạt động khai thác nguồn lợi thủy sản trên hồ.

Sản lượng khai thác tại hồ Trị An hiện nay chỉ có tính chất tương đối và thiếu độ tin cậy cao do công tác quản lý và thống kê sản lượng cá còn lỏng lẻo Việc thu thập số liệu từ các bến cá không được thực hiện liên tục và thường xuyên, trong khi các chủ vựa cá cũng thường xuyên báo cáo thông tin không chính xác cho cán bộ điều tra.

2.1.1 Thời gian nghiên cứu Đề tài được tiến hành từ tháng 11/2016 - 10/2018, bao gồm thời gian: nghiên cứu tài liệu, 16 đợt thu mẫu bao gồm: 8 đợt vào mùa khô và 8 đợt mùa mưa được thể hiện qua bảng 2.1; phân tích mẫu cá, xây dựng cơ sở dữ liệu và viết bài báo cáo.

Bảng 2.1 Thời gian thu mẫu cá và nước ở hồ Trị An

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu Địa điểm thu mẫu cá, mẫu nước và điều tra phỏng vấn ở hồ Trị An, Đồng Nai được thể hiện qua bảng 2.2

Bảng 2.2 Địa điểm thu mẫu cá và nước ở hồ Trị An

STT Vịtrí trên bản đồ Tọa độđịa lí Địa chỉ

107°16'43.24"E Bến cá ấp Bến Nôm 2, xã Phú Cường, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai

107°26'79.85"E Bến cá cầu La Ngà, xã La Ngà, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai

107°05'52.25"E Bến cá xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai

Bến cá Mã Đà, xã Mã Đà, huyện Vĩnh

Bản đồ vị trí thu mẫu cá và nước tại hồ Trị An, tỉnh Đồng Nai được xác định tại 4 địa điểm chính, nơi có bến cá tập trung Các khu vực này là điểm giao thương sôi động cho thuyền bè, với bến cá ấp Bến Nôm 2 và bến cá xã là những nơi đặc biệt quan trọng cho hoạt động buôn bán.

Mã Đà, cùng với bốn địa điểm khác, có khu vực khai thác bao quát toàn bộ hồ Địa điểm phân tích cá được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Động vật, Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh.

Mẫu cá trưng bày ở Phòng thí nghiệm Động vật, Khoa Sinh học, Trường Đại học

Sư phạm TP Hồ Chí Minh

Nhật ký thực địa, phiếu điều tra và phỏng vấn là những công cụ quan trọng trong nghiên cứu Các biểu mẫu và hồ sơ cá giúp tổ chức và lưu trữ thông tin hiệu quả Ngoài ra, phim và hình chụp ngoài thực địa cùng với hình ảnh trong phòng thí nghiệm cung cấp minh chứng trực quan cho các loài cá và tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu cá

Thu mẫu định tính được thực hiện bằng cách thu mua cá trực tiếp tại các bến cá của ngư dân hồ Trị An, với mỗi loài chỉ thu từ 1 đến 4 cá thể để lưu mẫu trưng bày Nếu gặp lại loài đã thu, chỉ cần đánh dấu ghi nhận vào danh lục Các mẫu cá thu được phải còn tươi, có hình dạng đẹp, vây và vảy nguyên vẹn, cùng với màu sắc hấp dẫn, và ưu tiên thu mẫu cá trưởng thành Để bảo vệ mẫu khỏi hủy hoại, cần sử dụng túi nilon kín miệng để tránh rửa trôi hoặc phai màu nhãn Thông tin trên nhãn bao gồm số thứ tự mẫu, tên phổ thông, địa điểm và thời gian thu mẫu, giúp dễ dàng trong quá trình định loại tại phòng thí nghiệm Sau khi chụp hình, cá và nhãn được cho vào cùng một túi nilon (có đục lỗ để dung dịch formalin thấm đều), sau đó bịt kín và ngâm vào thùng chứa dung dịch formalin 8%.

Để chụp hình cá đẹp và đúng kỹ thuật, bạn nên chọn tấm mút lớn màu xanh da trời làm nền Đặt cá nằm ngay ngắn với đầu hướng về phía tay trái và đặt thước đo dưới bụng để thể hiện kích thước thật của cá Một tay xòe vây cá trong khi tay còn lại cầm cọ phết formol nguyên chất lên các vây lưng, vây ngực, vây bụng, vây hậu môn và vây đuôi để các vây xòe đều, giúp bức ảnh trở nên hoàn hảo hơn.

Để bảo quản mẫu cá hiệu quả, cần sử dụng thùng nhựa lớn chứa dung dịch formaline 8% nhằm ngăn chặn hiện tượng cong quẹo Mỗi mẫu cá thu thập từ các điểm khác nhau trong hồ Trị An nên được lưu trữ riêng trong từng bình, giúp thuận tiện cho việc tra cứu, so sánh và đối chiếu sau này.

Ghi nhật ký thực địa là bước quan trọng trong việc theo dõi các mẫu thu, bao gồm thông tin như số thứ tự, tên cá, ngày tháng năm thu, điểm thu, công cụ đánh bắt, người thu mẫu, hoạt động khai thác và phương tiện đánh bắt Sau mỗi đợt thực địa, cần tổng hợp và phân tích để rút kinh nghiệm cho các lần ghi nhật ký tiếp theo Đồng thời, việc đo tọa độ điểm thu mẫu cá và nước cần được thực hiện bằng định vị của smartphone hoặc laptop.

2.2.2 Trong phòng thí nghiệm Định loại cá dựa vào các tài liệu chính của tác giả Mai Đình Yên và cộng sự

(1992) [20], Trương Thủ Khoa, Trần Thị Thu Hương (1982) [21], Nguyễn Văn Hảo và cộng sự (2001, 2005 a, 2005 b) [22] - [24], Tống Xuân Tám (2012) [25], [26].

Phân tích hình thái cá theo Pravdin, I.F., Nielsen, L.A., Johnson, D.L (1981) và Rainboth, W.J (1996) để làm cơ sở định loại [27]

 Khoảng cách giữa hai ổ mắt (OO)

 Chiều cao lớn nhất của thân (H).

 Số lượng tia vây lưng (D):

 Số lượng tia vây hậu môn (A)

 Số lượng tia vây ngực (P)

 Số lượng tia vây bụng (V)

Tia vây không phân nhánh và không phân đốt có gai cứng được ký hiệu bằng chữ số La Mã, trong khi tia vây phân nhánh và tia đơn không hóa xương (tia mềm) được ký hiệu bằng chữ số Ả Rập, cách nhau bởi dấu chấm (.) Sự dao động giữa các loại tia vây được biểu thị bằng gạch nối (-), và tia vây cứng cùng tia vây mềm được tính riêng Tia vây đầu tiên là tia vây nằm ngay dưới lớp da (xem Phụ lục 1).

Hình 2.2 Sơ đồ chỉ dẫn các sốđo ởcá xương (theo Rainboth, W.J 1996)

Tra cứu, đối chiếu, tu chỉnh từng tên loài, tên đồng vật (synonym) theo FAO

(2010) và Froese, R & Pauly, D (2018), Fish Base sắp xếp các loài vào trật tự hệ thống phân loại cá của Eschmeyer, W.N & Fong, J.D (2018) [28]

Xây dựng bộ sưu tập cá.

Một sốphương pháp khác: chuyên gia, hồi cứu, xửlí số liệu,

Dùng phần mềm Microsoft Excel 2016 để xử lí các số liệu nghiên cứu

2.2.3 Phương pháp đánh giá mức độ gần gũi Để tính mức độ gần gũi về thành phần loài cá giữa 2 khu hệ nghiên cứu, đề tài sử dụng công thức của Stugren Radulescu (1961) [29]

- R: Hệ số tương quan giữa hai khu hệ phân bố.

- Rs: Hệ số tương quan giữa hai khu hệ phân bố ở mức độ loài.

- Rss: Hệ số tương quan giữa hai khu hệ phân bố ở mức độ phân loài.

- X/X’: Số loài/phân loài có ở khu hệ A mà không có ở khu hệ B.

- Y/Y’: Số loài/phân loài có ở khu hệ B mà không có ở khu hệ A

- Z/Z’: Số loài/phân loài có ở cả 2 khu hệ A và B.

Giá trị R sẽ biến thiên từ -1 đến +1 và được phân chia theo các mức độ sau:

- R = từ - 1 đến - 0,70: quan hệ rất gần gũi.

- R = từ - 0,69 đến - 0,35: quan hệ gần gũi.

- R = từ - 0,34 đến 0,00: quan hệ gần ít.

- R = từ 0,00 đến + 0,34: quan hệ khác nhau ít.

- R = từ + 0,35 đến + 0,69: quan hệ khác nhau.

- R = từ+ 0,70 đến + 1: quan hệ rất khác nhau.

Phương pháp phân tích xác định một số thông số chất lượng nước mặt thực hiện theo hướng dẫn trong QCVN 08-MT:2015/BTNMT [29]

+ TCVN 6663-1:2011 (ISO 5667-2:2006), Chất lượng nước - Lấy mẫu - Phần 1: Hướng dẫn kĩ thuật lấy [29]

+ TCVN 6663-3:2003 (ISO 5667-3:1985) Chất lượng nước - Lấy mẫu - Phần 3: Hướng dẫn bảo quản và xử lí mẫu [29]

+ TCVN 5994:1995 (ISO 5667-4:1987) - Chất lượng nước - Lấy mẫu: Hướng dẫn lấy mẫu ở hồ ao tự nhiên và nhân tạo [29]

+ TCVN 6492:2011 (ISO 10523:2008) - Chất lượng nước - Xác định pH [29] + TCVN 7325:2004 (ISO 5814:1990) - Chất lượng nước - Xác định oxygen hòa tan - Phương pháp đầu đo điện [29]

5 thông số chất lượng nước được đo trực tiếp tại khu vực thu mẫu

Bảng 2.3 Phương pháp phân tích một sốthông số chất lượng nước

Stt Thông số Đơn vị Phương pháp phân tích

3 Ec àS/cm ORION 230A +, USA

Máy đo 5 DO mg/l Oxi 3205, mã số 2BA103, Profiline WTW Đức cho phép đo đồng thời các chỉ tiêu như hàm lượng oxy hòa tan, độ mặn, độ dẫn điện, nhiệt độ và pH trong khoảng thời gian từ 6 đến 10 giờ sáng Bài viết cũng đánh giá một số thông số chất lượng nước mặt theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 08-MT:2015/BTNMT, dựa trên nghiên cứu của Nguyễn Chí Thành tại tích Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai vào năm 2010.

Tài liệu của Vũ Cẩm Lương nghiên cứu tiềm năng hình thái của các loài cá nước ngọt hoang dã tại Nam Bộ, nhằm đánh giá khả năng phát triển thành đối tượng nuôi cảnh Nghiên cứu này không chỉ góp phần vào việc bảo tồn đa dạng sinh học mà còn mở ra cơ hội cho ngành nuôi trồng thủy sản.

Trong các đợt khảo sát thực địa, chúng tôi tiến hành thu thập đánh giá sản lượng trực tiếp tại các điểm thu mẫu Đồng thời, phỏng vấn ngư dân và chủ vựa để nắm bắt thông tin về sản lượng và giá thành của các loài cá có giá trị kinh tế cao như cá Hoàng đế, cá Rô phi, cá Chép, cá Trôi, cá Cơm, và cá Lăng.

Sử dụng phương pháp phỏng vấn và bảng hỏi để khảo sát ngư dân tại các khu vực nghiên cứu nhằm điều tra các vấn đề liên quan đến hoạt động khai thác và bảo vệ nguồn lợi cá.

Trong mỗi đợt nghiên cứu, chúng tôi sẽ chọn từ 8 đến 10 ngư dân thuộc các độ tuổi khác nhau tại mỗi điểm thu mẫu Họ sẽ được phỏng vấn về các loại ngư cụ khác nhau mà họ sử dụng trong quá trình đánh bắt.

Thành phần các loài cá ở hồ Trị An

Bảng 3.1 Thành phần loài cá ở hồ Trị An, tỉnh Đồng Nai và một sốloài từnghiên cứu của Vũ Cẩm Lương [2]

TT TÊN PHỔ THÔNG TÊN KHOA HỌ C lượng Số lưu trữ mẫu

Vũ C ẩm L ươn g (2009 ) [ 2] Tác gi ả (2016 - 2018 )

Phân bố theo mùa Mưa Khô

LỚP CÁ VÂY TIA ACTINOPTERYGII

1 HỌ CÁ THÁT LÁT NOTOPTERIDAE

01 Cá Nàng hai Notopterus chitala (Hamiton, 1822) 1 x x x

02 Cá Thát lát Notopterus notopterus (Pallas, 1769) 1 x x x x

03 Cá Chình hoa Anguilla marmorata

Phân họ cá Cơm sông Pellonulinae

04 Cá Cơm sông Corica soborna Hamilton, 1822 4 x x x x

Phân họ cá Chạch cát Botinae

05 Cá Heo chấm Syncrosfus beauforti Smith, 1931 1 x x

Phân họ cá Chạ ch Cobitinae

06 Cá Khoai sông Acanthopsis choirorhynchos

07 Cá Trắm cỏ Ctenopharyngodon idellus

Phân họ cá Mương Cultrinae

10 Cá Mè hoa H nobilis (Richardson, 1845) 0 x x x x Phân họ cá Bỗ ng Barbinae

11 Cá Ngự a nam Hampala macrolepidota Van Has,

13 Cá Ba kì Cyclocheilichthys repasson (Bleeker,

14 Cá Đỏ mang Systomus orphoides (Valenciennes,

15 Cá Mè vinh Hypsibarlus gonionotus (Bleeker,

16 Cá He đỏ Barbodes schwanenfeldii (Bleeker,

17 Cá Dầm đất Puntius brevis (Bleeker, 1849) 2 x x x

Phân họ cá Trôi Labeoninae

18 Cá Linh rìa sọc Labiobarlus lineata Sauvage, 1878 1 x x

19 Cá Linh rìa L spilopleura Smith, 1934 1 x x x

20 Cá Ét mọi Labeo chrysophekadion (Bleeker,

21 Cá Trôi Ấn Độ Labeo rohita (Hamilton, 1822) 1 x x x

22 Cá Linh ống Henicorhynchus siamensis (Sauvage,

23 Cá Trôi Cirrhinus cirrhosus (Bloch, 1795) x

24 Cá Lúi sọc Osteochilus microcephalus

25 Cá Mè lúi nâu O waandersi Bleeker, 1852 1 x x x

Phân họ cá Chép Cyprininae

26 Cá Dả nh Nam B ộ Puntioplites proctozystron (Bleeker,

27 Cá Chép Cyprinus carpio Linnaeus, 1758 2 x x x x

28 Cá Lăng nha Hemibagrus spiloptenrus

29 Cá Lăng ki H wyckii (Bleeker, 1858) x

30 Cá Lăng đỏ H wyckioides Chaux and Fang, 1949 2 x x

34 Cá Leo attu Wallago attu (Bloch & Schneider,

35 Cá Trèn bầu Ompok silieroides (Bloch, 1794) 2 x x x

36 Cá Trèn mỏng Kryptopterus bicirrhis

37 Cá Trèn đá K cryptopterus (Bleeker, 1851) x

38 Cá Trèn mỡ K moorei Smith, 1945 1 x x

39 Cá Kết bạc Micronema bleekeri (Günther, 1864) x

41 Cá Trê trắng Clarias batrachus (Linnaeus, 1758) 1 x x x x

42 Cá Trê vàng C macrocepphalus Günther, 1864 2 x x x x

10 HỌ CÁ LAU KIẾNG LORICARIIDAE

Phân họ cá Lau kiếng Hypostominae

43 Cá Lau kiếng Hypostomus punctatus

44 Cá Nhái Xenentodon canciloides (Bleeker,

12 HỌ CÁ LÌM KÌM HEMIRAMPHIDAE

45 Cá Lìm kìm ao Dermogenys pusillus Van Hasselt,

46 Cá Kìm sông Hyporhamphus unifasciatus

VII B Ộ CÁ MANG LIỀ N SYNBRANCHIFORMES

47 C á Chạch lá tre Macrognathus siamensis (Günther,

48 Cá Chạ ch qu ế M aculeatus (Bloch, 1786) 2 x x

49 Cá Chạch bông Mastacembelus favus (Hora, 1923) 1 x x x

15 HỌ CÁ SẶC VỆN NANDIDAE

Phân họ cá Rô biể n Pristolepidinae

51 Cá Rô biển Pristolepis fasciata (Bleeker, 1851) 2 x x

16 HỌ CÁ RÔ PHI CICHLIDAE

52 Cá Rô phi vằn Oreochromis niloticus (Linnaeus,

53 Cá Điêu hồng O mossambicus x O niloticus 1 x x x

54 Cá Hoàng đế Cichla ocellaris

PHÂN BỘ CÁ BỐNG GOBIOIDEI

55 Cá Bống tượ ng Oxyeleotris marmoratus (Bleeker,

Phân họ cá Bống trắng Gobiinae

56 Cá Bống cát Glossogobius aureus

PHÂN BỘ CÁ RÔ ĐỒNG ANABANTOIDEI

19 HỌ CÁ RÔ ĐỒNG ANABANTIDAE

57 Cá Rô đồ ng Anabas testudineus (Bloch, 1792) 2 x x x x

58 Cá Sặc điệp Trichogaster microlepis (Günther,

59 Cá Sặc rằn T pectoralis (Regan, 1910) 1 x x

PHÂN BỘ CÁ QUẢ CHANNOIDEI

60 Cá Lóc đồng Channa striata (Bloch, 1793) 1 x x x x

61 Cá Tràu chó C gachua (Hamilton, 1822) 1 x x

Bảng 3.2 Tỉ lệcác họ, giống, loài trong những bộcá ở KVNC

Tên phổthông Tên khoa học

1 Bộ cá Thát lát Osteoglossiformes 1 5 1 2,5 2 3,77

6 Bộ cá Mang liền Synbranchiformes 1 5 2 5 3 5,66

In the freshwater fish diversity of Vietnam, the Perciformes order is the most represented, featuring eight families that account for 40% of the total Following this, the Siluriformes order contains five families, making up 25% Both the Cypriniformes and Beloniformes orders have two families each, contributing 10% to the diversity Lastly, the Osteoglossiformes, Clupeiformes, and Synbranchiformes orders each comprise one family, collectively representing 5%.

The Cypriniformes order, which includes carp, has the highest diversity with 17 species, accounting for 42.5% of the total Following this, the Perciformes order, represented by 9 species, makes up 22.5%, while the Siluriformes order features 8 species, contributing 20% Additionally, the Beloniformes and Synbranchiformes orders each have 2 species, representing 5% Lastly, two other orders each contain 1 species, both making up 2.5% of the total diversity.

Thành phần và tỉ lệ các giống và loài trong những họ ở hồ Trị An được trình bày ở bảng 3.3

Bảng 3.3 Thành phần và tỉ lệcác giống, loài trong những họcá ở KVNC

STT Tên họ Giống Loài

Tên phổthông Tên khoa học SL % SL %

1 Họ cá Thát lát Notopteridae 1 2,5 2 3,77

11 Họ cá Lìm kìm Hemiramphidae 1 2,5 1 1,88

12 Họ cá Chạch sông Mastacembelidae 2 5,0 3 5,66

14 Họ cá Sặc vện Nandidae 1 2,5 1 1,88

15 Họ cá Rô phi Cichlidae 2 5,0 3 5,66

17 Họ cá Bống trắng Gobiidae 1 2,5 1 1,88

18 Họ cá Rô đồng Anabantidae 1 2,5 1 1,88

(Bagridae), họ cá Chạch sông (Mastacembelidae), họ cá Rô phi (Cichlidae), gồm 2 giống (5,0%) và có từ 2 - 5 loài 3,77 - 9,46%; các họcòn lại có từ 1 giống (2,5%) và có từ 1 - 2 loài, chiếm từ 1,88 - 3,77%

 Khu hệ cá ở hồ Trị An đa dạng về các bậc phân loại: bộ, họ, giống, loài.

Bộ cá Chép (Cypriniformes) mặc dù chỉ có 2 họ, nhưng lại sở hữu sự đa dạng cao nhất về bậc giống và loài Trong khi đó, bộ cá Nheo (Siluriformes) có số họ và giống ít hơn, nhưng lại có nhiều loài hơn so với bộ cá Vược (Perciformes).

3.1.3 Tình hình các loài cá trong Sách Đỏ Vi ệ t Nam ở h ồ Tr ị An

Hồ Trị An có 3 loài cá trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) [32] chiếm 5,66% tổng số loài cá ở KVNC

Bảng 3.4 Ba loài cá trong Sách Đỏ Việt Nam 2007

STT Tên phổthông Tên khoa học Phân hạng [Phụ lục 8]

1 Cá Còm Chitala ornata (Gray, 1831) VU A1a,c,d

3 Cá Ét mọi Morulius chrysophekadion

Qua phỏng vấn người dân đánh bắt ở KVNC, loài cá Còm Chitala ornata và cá Ét mọi Morulius chrysophekadion rất hiếm gặp, đặc biệt là cá Ét mọi Trong 16 đợt thu mẫu, chỉ ghi nhận 6 cá thể cá Còm và 3 cá thể cá Ét mọi với kích thước lớn, không phát hiện cá thể con, cho thấy số lượng của hai loài này đã giảm mạnh.

3.1.4 Tính chấ t c ủ a khu h ệ cá ở h ồ Tr ị An

Thành phần loài cá ở KVNC gồm những nhóm chính sau:

Nhóm loài cá tại khu vực KVNC rất đa dạng và phong phú, bao gồm 44 loài, chiếm 83,02% tổng số loài trong khu vực Các loài điển hình trong nhóm này thuộc nhiều bộ khác nhau như cá Thát lát (Osteoglossiformes), cá Trích (Clupeiformes), cá Chép (Cypriniformes), cá Cóc (Batrachoidiformes), cá Mang liền (Synbranchiformes), cá Nheo (Siluriformes) và cá Vược (Perciformes).

Một số loài cá có giá trị kinh tế cao như: cá Cơm sông (Corica soborna), cá Ngựa nam (Hampala macrolepidota), cá Ba kì (Cyclocheilichthys repasson), cá Mè vinh

The ecological conditions of Tri An Reservoir are highly favorable for the thriving and growth of various fish species, including Barbodes gonionotus, Osteochilus hasseltii, Cyprinus carpio, Mystus wolffii, Ompok bimaculatus, and Puntioplites proctozystron.

 Nhóm cá nuôi có nguồn gốc từnơi khác đến:

KVNC có 9 loài cá nuôi (chiếm 16,98%) nhập khẩu từ nơi khác, chủ yếu để làm thực phẩm hoặc cảnh, đã thoát ra môi trường tự nhiên trong mùa mưa Nhiều loài đã tồn tại và phát triển như cá bản địa Theo tài liệu của Cục Khai thác và Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản, hồ Trị An không có loài cá ngoại lai nào gây hại đến cân bằng sinh thái Trong số đó, cá Lau kiếng (Hypostomus punctatus) và cá Hoàng đế (Cichla ocellaris) là hai loài đáng chú ý Cá Lau kiếng, thả xuống hồ để làm sạch bể, đã thích nghi và phát triển mà không ảnh hưởng đến chuỗi thức ăn địa phương Ngược lại, cá Hoàng đế, nhập nội từ năm 1990 và đã sinh sản nhân tạo từ giữa thập niên 90, đang phát triển mạnh mẽ và đe dọa các loài cá bản địa khác Từ năm 2002, cá cảnh được sản xuất từ các bè đã thoát ra hồ Trị An, và ngư dân đã bắt được nhiều từ năm 2006.

3.1.5 Thành phần các loài cá thu được qua mùa mưa và khô ở hồ Trị An

Theo bảng 3.1, vào mùa mưa, có 21 loài cá được ghi nhận, chiếm 39,62% tổng số loài tại khu vực nghiên cứu, trong khi mùa khô có 53 loài, chiếm 100% Số lượng cá thể của nhiều loài thường tăng vào mùa mưa nhờ lượng nước dồi dào Tuy nhiên, thời tiết không thuận lợi trong mùa mưa khiến ngư dân gặp khó khăn trong khai thác, dẫn đến hiệu quả khai thác kém Thêm vào đó, việc quản lý đập tràn Trị An xả nước 5 đợt đã làm cho nhiều loài cá di cư theo dòng nước, khiến số lượng loài thu được vào mùa mưa thấp.

Loài nhập nội đã được kiểm tra và khảo nghiệm kỹ lưỡng, nuôi rộng rãi trong thời gian dài mà chưa ghi nhận khả năng xâm lấn các loài bản địa, đồng thời cũng không gây ảnh hưởng đáng kể Do đó, chúng có thể được đưa vào nuôi trồng một cách an toàn.

Hai loài nhập nội hiện chưa rõ ràng về mức độ nguy cơ, với nhiều ý kiến khác nhau từ các nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nghiệp và người nuôi Do đó, cần tiến hành nghiên cứu và đánh giá rủi ro để xác định liệu chúng có gây hại hay không.

Ba loài xâm hại các loài bản địa cần được kiểm soát chặt chẽ Cần áp dụng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả, bao gồm việc cấm nhập khẩu để ngăn chặn sự lây lan và tiêu diệt chúng.

Hình 3.1 Người dân khai thác cá khi đập thủy điện Trị An xảlũ

(28/8, 05/9, 30/10/2017) (Hình ảnh được cung cấp bởi phóng viên Lê Văn Lâm, báo Thanh Niên)

Trong mùa mưa, việc thu mẫu chỉ được thực hiện tại bến cá ấp Bến Nôm 2, xã Phú Cường, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai Các khu vực khác bị ngập nước, ảnh hưởng đến hoạt động buôn bán, đặc biệt là khu vực bến cá.

Mã Đà phải đi vào Vườn Quốc gia Cát Tiên đường di chuyển rất khó khăn vào mùa mưa nên bến cá hoàn toàn không hoạt động.

3.1.6 Thành phần các loài cá thu được qua các năm ở hồ Trị An

Hồ Trị An, hoàn thành vào năm 1987 từ phần trung lưu sông Đồng Nai, đã tạo ra sự chuyển biến lớn trong hệ sinh thái, từ hệ sinh thái sông sang hệ sinh thái hồ chứa Sự hình thành hồ không chỉ thay đổi về mặt địa chất và thủy lý mà còn ảnh hưởng đến sự đa dạng sinh học, dẫn đến việc một số loài cá biến mất trong khi nhiều loài mới đặc trưng cho hệ sinh thái cá hồ chứa xuất hiện.

Vào năm 2009, tác giả Vũ Cẩm Lương thu được 38 loài xếp trong 35 giống, 18 họ, 8 bộ [2] Nếu so kết quả nghiên cứu đề tài của chúng tôi (2016 - 2018) với các kết

(16 lần) trong vòng 3 năm liên tục (2016 - 2018) nên tần suất bắt gặp các loài cao hơn

Sau khi hình thành hồ, có 22 loài cá mới xuất hiện, trong đó cá thuộc bộ cá Chép (Cypriniformes) chiếm ưu thế với 9 loài, tương đương 40,90% Tiếp theo là bộ cá Vược (Perciformes) với 5 loài, chiếm 22,73%, và bộ cá Nheo (Siluriformes) với 4 loài.

Trong số 9 loài cá nuôi nhập cư (chiếm 16,98%), có 7 loài mới phát sinh do quá trình nuôi bè trong lòng hồ hoặc được thả ra bởi các nhà chức trách nhằm làm trong sạch hồ tự nhiên và tạo nguồn lợi cho ngư dân địa phương Các loài cá như cá Chép (Cyprinus carpio) và cá Rô phi vằn (Oreochromis niloticus) đã góp phần làm tăng tính đa dạng về chủng loại cá ở hồ Trị An.

Đánh giá một số chỉ số môi trường nước ở hồ Trị An

Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu nước ở hồ Trị An

Bảng 3.6 Chỉtiêu nhiệt độ ( o C) của nước ở hồ Trị An Đợt Mùa khô Đợt Mùa mưa

Bảng 3.7 Chỉtiêu độ mặn (S‰) của nước ở hồ Trị An Đợt Mùa khô Đợt Mùa mưa

Bảng 3.9 Chỉtiêu pH của nước ở hồ Trị An Đợt Mùa khô Đợt Mùa mưa

Bảng 3.10 Chỉ tiêu hàm lượng oxygen hòa tan (mg/l) của nước ở hồ Trị An Đợt Mùa khô Đợt Mùa mưa

14 5,48 ± 0,14 16 5,78 ± 0,18 nước ngọt (nồng độ muối = 0 ‰) Như vậy, nước ở hồ trị An không bị nhiễm mặn

Độ dẫn điện (Ec) của nước dao động từ 53,33 đến 54,68 àS/cm, với sự biến động không đáng kể qua các đợt đo đạc Nước dùng cho thủy lợi và sinh hoạt được coi là hợp lệ khi Ec dưới 500 àS/cm Do đó, Ec tại khu vực này vẫn nằm trong giới hạn cho phép đối với nước mặt phục vụ cho mục đích sinh hoạt và thủy lợi.

Biến động pH ở các địa điểm khảo sát trong khu vực không có sự khác biệt lớn, với giá trị pH đạt mức an toàn và phù hợp cho đời sống thủy sinh theo quy chuẩn QCVN về các thông số trong nước mặt nhằm bảo vệ hệ sinh thái thủy sinh.

Theo quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT, giá trị giới hạn chất lượng nguồn nước sử dụng cho tưới tiêu đã được xác định, đảm bảo đáp ứng các tiêu chí về chất lượng nước.

Lượng oxy hòa tan (DO) tại các địa điểm khảo sát không có sự chênh lệch lớn, dao động từ 5,23 - 5,80 mg/l, nằm trong giới hạn cho phép theo “Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước dùng cho tưới tiêu QCVN 08-MT:2015/BTNMT” (≥ 2) và “Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt bảo vệ đời sống thủy sinh QCVN 08-MT:2015/BTNMT” (≥ 4) [29].

Tầm quan trọng và nguồn lợi khu hệ cá ở hồ Trị An

3.3.1 Tầm quan trọng nguồn lợi cá ở hồ Trị An

 Các loài cá kinh tếcó giá trị làm thực phẩm

Qua điều tra và quan sát, chúng tôi nhận thấy rằng cá nuôi và cá tự nhiên đóng vai trò quan trọng trong bữa ăn hàng ngày của người dân Tại các chợ trong vùng nghiên cứu, cá được bày bán đa dạng với nhiều hình thức như cá tươi, cá khô, chả cá và mắm cá Phần lớn các loại cá được bán là từ nguồn gốc tự nhiên, bao gồm cá Lóc đồng, cá Mè vinh, cá Rô đồng, cá Rô biển, cá Điêu hồng và cá Chép Một số loài cá có giá thành cao như cá Lóc đồng (100.000 - 150.000 đồng/kg), cá Thát lát (150.000 - 200.000 đồng/kg), cá Cơm sông (150.000 - 200.000 đồng/kg), cá Chạch (200.000 - 250.000 đồng/kg), cá Lăng vàng (150.000 - 250.000 đồng/kg) và cá Bống tượng (150.000 - 250.000 đồng/kg).

Nhiều loài cá tại khu vực Nam Bộ đã trở thành đặc sản phổ biến trong các nhà hàng và quán ăn, bao gồm cá Lăng, cá Bống tượng, cá Thát lát, cá Điêu hồng, cá Lóc đồng, cá Rô đồng và cá Chạch.

Hồ Trị An có 22 loài cá có tiềm năng làm cảnh, chiếm 41,51% tổng số loài cá thu được Tuy nhiên, người dân địa phương chủ yếu chỉ nuôi cá thương phẩm mà không khai thác cá làm cảnh Do đó, cần tiến hành khai thác và nhân nuôi nhân tạo các loài cá này để tăng giá trị kinh tế và đóng góp vào thị trường cá cảnh với những loài cá mới.

 Các loài cá có tiềm năng làm thuốc

Một số loài cá như cá Lóc, cá Trê, cá Chép và đặc biệt là cá Chạch được coi là “nhân sâm dưới nước” không chỉ cung cấp thực phẩm mà còn có tác dụng chữa bệnh Mật và xương của những loài cá này thường được sử dụng để điều trị bệnh đái tháo đường, hỗ trợ phục hồi sau sinh và bồi bổ khí huyết.

Hồ Trị An có 4 loài cá có giá trị làm thuốc, chiếm 7,55% tổng số loài cá thu được ở KVNC (xem bảng 3.1 và bảng 3.15)

Hồ Trị An đã ghi nhận tổng cộng 53 loài cá qua quá trình thu mẫu, cho thấy sự đa dạng và phong phú của các loài cá nước ngọt tại khu vực Nam Bộ.

Bộ, góp phần quan trọng vào ý nghĩa khoa học, như là:

- Cung cấp các dữ liệu cần thiết cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập của các trường

- Cung cấp các dữ liệu góp phần vào việc xây dựng và phát triển kinh tế, đặc biệt trong nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Đồng Nai

Tầm quan trọng và nguồn gốc của các loài cá ở hồ Trị An được trình bày ở bảng 3.11

Bảng 3.11 Danh sách các loài cá có tầm quan trọng ở KVNC

Stt Tên phổ thôn g Tên khoa họ c

1 Cá Bống tượng Oxyeleotris marmoratus + + Tự nhiên

2 Cá Chạch lá tre Macrognathus siamensis + + + Tự nhiên

3 Cá Chạch quế Macrognathus aculeatus + + + Đài Loan 2013

4 Cá Chép Cyprinus carpio + + + Trung Quốc 1960

5 Cá Chốt Mystus gulio + + Tự nhiên

6 Cá Cơm Clupeoides borneensis + + Tự nhiên

7 Cá Điêu hồng Oreochromis mossambicus x O niloticus + Trung Quốc 1997

8 Cá Đỏ mang Systomus orphoides + + Tự nhiên

9 Cá Ét mọi Morulius chrysophekadion + Tự nhiên

10 Cá He đỏ Barbodes schwanenfeldii + Tự nhiên

11 Cá Heo xám Botia morleti Tự nhiên

12 Cá Kết Micronema bleekeri + Tự nhiên

13 Cá Khoai sông Acanthopsis choirorhynchos + + Tự nhiên

14 Cá Lau kiếng Hypostomus punctatus + Nam Mĩ 1980

15 Cá Lăng vàng Mystus wolffii + Tự nhiên

16 Cá Lăng ki Hemibagrus wyckii + Tự nhiên

17 Cá Lăng nha Hemibagrus nemurus + Tự nhiên

18 Cá Leo attu Wallago attu + Tự nhiên

19 Cá Lóc đồng Channa striata + + Tự nhiên

21 Cá Mè vinh Barbodes gonionotus + Tự nhiên

22 Cá Mè trắng hoa nam Hypophthalmichthys molitrix + Trung Quốc 1958

23 Cá Mè hoa Hypophthalmichthys nobilis + Trung Quốc 1958

24 Cá Mè lúi Osteochilus hasseltii + + Tự nhiên

25 Cá Nàng hai Chitala ornata + + Tự nhiên

26 Cá Ngựa nam Hampala macrolepidota + Tự nhiên

27 Cá Nhái Xenentodon canciloides + Tự nhiên

28 Cá Hô Catlocarpio siamensis + + Tự nhiên

29 Cá Rô phi vằn Oreochromis niloticus + Châu Phi 1964

30 Cá Hoàng đế Cichla ocellaris + Nam Mĩ 1990

31 Cá Sặc điệp Trichogaster microlepis + + Tự nhiên

32 Cá Sặc rằn Trichogaster pectoralis + + Tự nhiên

33 Cá Sơn xiêm Ambassis gymnocephalus + Tự nhiên

34 Cá Thát lát Notopterus notopterus + + Tự nhiên

35 Cá Tra Pangasianodon hypophthalmus + + Tự nhiên

36 Cá Trắm cỏ Ctenopharyngodon idellus + Trung Quốc 1958

37 Cá Trèn bầu Ompok bimaculatus + Tự nhiên

38 Cá Trèn mỏng Kryptopterus bicirrhis + Tự nhiên

39 Cá Trèn mỡ Kryptopterus moorei + Tự nhiên

40 Cá Trê trắng Clarias batrachus + Tự nhiên

41 Cá Trê vàng Clarias macrocepphalus + Tự nhiên

42 Cá Trôi Ấn Độ Labeo rohita + Ấn Độ 1982

Chú thích: TP: Nuôi làm thự c ph ẩ m; LC: Nuôi làm cả nh [31], [35]; LT: Làm thuố c [34]

Qua điều tra và phỏng vấn, nhóm ngư dân sống gần bờ hồ, chủ yếu sống bằng nghề cá, là những người khai thác và cung cấp thủy sản chính cho người tiêu dùng Thời vụ khai thác của họ diễn ra quanh năm, cho thấy sự bền bỉ và quan trọng của nghề đánh bắt thủy sản trong đời sống kinh tế của cộng đồng này.

Ngư dân chủ yếu sinh sống bằng nghề cá thường đánh bắt hầu hết các loại cá trong mẻ lưới, đặc biệt là những hộ sử dụng dụng cụ như lưới kéo, lưới vét với kích cỡ mắt lưới nhỏ để tận thu nguồn lợi Ngoài ra, có những ngư dân chuyên tập trung vào một số loài thủy sản nhất định như cá Trắm, cá Trôi, cá Chép, và cá Hoàng đế; hay đội chuyên đánh bắt cá Cơm sông, cá Lìm kìm, cá Bống Một số câu thủ cũng chuyên câu những loại cá cụ thể như cá Lăng, cá Lóc đồng, cá Rô đồng, và cá Chạch Sự chuyên biệt này xuất phát từ việc nguồn lợi cá suy giảm, khiến cho số lượng cá ít và khó đánh bắt, buộc ngư dân phải tập trung để nâng cao hiệu quả đánh bắt.

 Thực trạng ngư cụđánh bắt

Số lượng các ngư cụ đánh bắt chính ở hồ Trị An cũng như mắt lưới thực tế được trình bày ở bảng 3.12

Bảng 3.12 Ngư cụchính khai thác cá và mắt lưới thực tếở hồ Trị An

STT Nhóm ngư cụ Loại ngư cụ Mắt lưới 2a (mm) theo quy định [36]

Mắt lưới 2a (mm) thực tế

Lưới rê cá cơm tầng mặt 10 5

Nhóm ngư cụ lưới vây - lưới rùng

Lưới vây đèn cá cơm 4 2

4 Nhóm ngư cụ bẫy Bộ lợp cá Rô phi 40 10

Theo Ban Quản lý khu Bảo tồn Thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai, khoảng 130 hộ đã đăng ký sử dụng ngư cụ ghe te để khai thác cá trong hồ Đáng chú ý, ngư dân thường kết hợp sử dụng điện để đánh bắt, chỉ hoạt động vào ban đêm nhằm tránh sự kiểm soát của kiểm lâm Khi phát hiện kiểm lâm tuần tra, họ nhanh chóng tháo dỡ các dụng cụ điện và thả xuống hồ Phương thức khai thác này không chỉ ảnh hưởng lớn đến các ngư cụ khác mà còn gây tác động nghiêm trọng đến nguồn lợi thủy sản.

Hình 3.2 Ghe te đậu ở bến cá ấp Bến Nôm, Phú Cường

Từ ngày 30/12/2016 đến 14/7/2018, tần suất gặp gỡ một số loài cá đã giảm đáng kể Nhiều loài trước đây được đánh bắt với sản lượng lớn hiện nay chỉ còn được khai thác với kích thước vừa và nhỏ.

 Nghềcá và những khó khăn của cộng đồng ngư dân

Theo kết quả điều tra và thống kê, khoảng 400 - 500 hộ dân tham gia khai thác, chủ yếu trong độ tuổi từ 20 đến 60 Những người tham gia khai thác thường sinh sống gần bờ, trong khi nhóm ngư dân sống trên hồ chủ yếu nuôi cá lồng bè, với khoảng 500 - 600 hộ, trải dài từ đầu sông La Ngà đến suối Reo.

Cảng và bến cá địa phương, như bến cá Phú Cường và bến cá Mã Đà, là nơi tập trung một số lượng ghe thuyền, nhưng cơ sở vật chất còn hạn chế Phần lớn ngư dân hoạt động theo nhóm nhỏ, bán cá khai thác tại các chợ địa phương, tại nhà hoặc có thương lái đến thu mua trực tiếp từ ngư dân.

Cộng đồng ngư dân đang đối mặt với nhiều khó khăn, bao gồm thu nhập thấp và trình độ văn hóa hạn chế Họ thiếu vốn để chuyển đổi nghề nghiệp và không có tài sản cố định để thế chấp ngân hàng Đối với các hộ nuôi cá lồng bè, chủ yếu nuôi cá Điêu hồng, tình hình cũng không khả quan khi gặp khó khăn trong việc phát triển và mở rộng sản xuất.

Cá Rô phi vằn (Oreochromis niloticus) và cá Chép (Cyprinus carpio) đang đối mặt với nguy cơ rủi ro cao trong nuôi trồng thủy sản, khiến nhiều hộ nuôi không dám đầu tư phát triển mạnh Nhiều hộ gia đình thiếu vốn và kiến thức kỹ thuật, dẫn đến việc họ không dám nuôi các loài cá có giá trị kinh tế cao như cá Hô.

Cá Thát lát (Notopterus notopterus), cá Lăng vàng (Mystus wolffii), và cá Mè hoa (Hypophthalmichthys nobilis) là những loài cá quan trọng, nhưng nhiều hộ nuôi gặp khó khăn về nguồn vốn để đầu tư vào trang thiết bị, con giống và thức ăn Hơn nữa, sự phát triển của thủy điện đã ảnh hưởng đến sự phân bố và số lượng cá, đặc biệt là ở khu vực gần các công trình này Tại đảo Ó, Đồng Trường và Đập Tràn, ngư dân chủ yếu khai thác một số ít loài, nổi bật là cá Rô phi (Oreochromis niloticus).

 Do khai thác nguồn lợi quá mức

Khai thác quá mức nguồn lợi thủy sản do gia tăng dân số đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng, khi nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng Các hộ ngư dân, nhờ vào kinh nghiệm truyền lại qua nhiều thế hệ, có khả năng xác định thời gian sinh đẻ và địa điểm khai thác cá, cùng với việc sử dụng các phương pháp và ngư cụ hiệu quả để tận thu Hệ quả là, nhiều loài cá, đặc biệt là những loài có giá trị kinh tế cao và quý hiếm, bị khai thác mạnh mẽ, đặc biệt trong mùa sinh sản, dẫn đến suy giảm nghiêm trọng nguồn lợi cá và không đủ thời gian để phục hồi quần thể Một số loài như cá Leo Wallago attu và cá Chạch quế đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.

Macrognathus aculeatus, cá Mè hoa Hypophthalmichthys nobilis, cá Còm Chitala ornata, cá Ét mọi Morulius chrysophekadion,… những năm gần đây số lượng rất ít.

Đề xuất các giải pháp bảo vệ nguồn lợi cá

Hồ Trị An là một khu vực quan trọng cho sự sinh sản và phát triển của nhiều loài cá quý hiếm, có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy nguồn lợi cá tại đây đang suy giảm nhanh chóng do khai thác không hợp lý Để bảo vệ và phục hồi nguồn lợi cá, chúng tôi đề xuất các biện pháp bảo tồn hiệu quả.

3 nhóm giải pháp sau: định (mắt lưới quá nhỏ, ghe te, chích điện, chất hóa học,…) mang tính chất tận diệt, giảm thiểu ô nhiễm môi trường,…

Bảo vệ hệ sinh thái và sinh cảnh tự nhiên là cần thiết để duy trì và phát triển các loài trong môi trường tự nhiên Cần thiết lập các khu vực không khai thác hoặc hạn chế đánh bắt, cùng với việc áp dụng thời gian cấm hoặc hạn chế đánh bắt để bảo vệ các đối tượng khai thác, đặc biệt trong các giai đoạn quan trọng như giai đoạn đẻ trứng, trứng, ấu trùng và con non.

Bảo tồn các loài cá quý hiếm ngoài sinh cảnh tự nhiên là rất cần thiết để ngăn chặn sự suy giảm nguồn gen của chúng Việc thả lại giống cá vào môi trường tự nhiên sẽ góp phần khôi phục số lượng quần thể, đặc biệt đối với những loài có giá trị đặc biệt đang có nguy cơ biến mất.

Một số loài cá quý hiếm và có giá trị kinh tế cao như cá Thát lát, cá Hô, cá Chạch, cá Ét mọi, cá Lăng vàng, và cá Mè hoa đang có nguy cơ tuyệt chủng ở hồ Trị An Trại cá giống Tân Vạn, Đồng Nai đã thành công trong việc nuôi dưỡng và sinh sản nhân tạo các loài cá này, mang lại tín hiệu khả quan cho việc bảo tồn nguồn gen quý hiếm và cung cấp giống thả vào môi trường tự nhiên.

Khu bảo tồn khi được thực hiện hiệu quả sẽ có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến các khu vực khác.

3.4.2 Khai thác hợp lí nguồn lợi cá

Tài nguyên cá được coi là nguồn tài nguyên vô tận nếu được khai thác hợp lý, hiệu quả và có kế hoạch bảo tồn, phát triển Để đạt được hiệu quả trong việc khai thác, cần tuân thủ các yêu cầu cụ thể.

Khai thác cá có kích thước lớn, trưởng thành.

Không đánh bắt cá bố mẹtrong mùa sinh sản và không đánh bắt cá bột

Hồ Trị An, với diện tích bề mặt lớn và chất lượng nước sạch, là nơi lý tưởng cho việc nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là các loài cá địa phương Việc không sử dụng ngư cụ như ghe te hay lưới vét giúp đáp ứng nhu cầu thực phẩm trong nước và xuất khẩu, đồng thời giảm áp lực khai thác nguồn cá tự nhiên Khu vực đầu hồ và sông La Ngà hiện có khoảng 500 doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững của ngành thủy sản.

Trong số 600 hộ nuôi cá lồng bè, hiện tại chỉ có một số loài như cá Điêu hồng, cá Rô phi và cá Chép được nuôi phổ biến Để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của xã hội, cần khuyến khích các hộ này mở rộng quy mô nuôi trồng với nhiều loài cá khác như cá Lóc, cá Rô đồng, cá Thát lát và cá Tra.

3.4.3 Nâng cao năng suất sinh học cá Để nâng cao năng suất sinh học cá ở hồ Trị An có thể áp dụng các giải pháp:

 Đảm bảo điều kiện thuận lợi cho tái sản xuất sốlượng cá thể của quần thể

Cần nghiên cứu và áp dụng các phương pháp sinh sản nhân tạo cho các loài cá địa phương nhằm tạo ra nguồn cá giống phục hồi môi trường tự nhiên, đặc biệt cho những loài có số lượng giảm sút nghiêm trọng Việc thả giống và làm giàu hồ Trị An bằng các loài cá có giá trị kinh tế cao được coi là biện pháp hiệu quả để phục hồi kích thước quần thể của những loài cá đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng như cá Hô, cá Nàng hai, và cá Ét mọi.

 Du nhập những đối tượng mới có giá trị kinh tế cao

Để nâng cao năng suất và bảo tồn sự đa dạng loài tại hồ Trị An, việc di nhập các loài cá có giá trị kinh tế cao như cá Lăng nha đuôi đỏ, cá Chép giòn và cá Heo nước ngọt là rất quan trọng Tuy nhiên, việc này cần được thực hiện cẩn thận thông qua nghiên cứu thử nghiệm nhằm tránh các tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học và môi trường, như cạnh tranh về nơi cư trú và nguồn thức ăn, tiêu diệt các loài địa phương, cũng như lây lan ký sinh trùng và dịch bệnh Điều này cũng góp phần tạo ra cơ sở pháp lý cần thiết cho việc quản lý khai thác tài nguyên thiên nhiên, hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội bền vững.

Theo Điều 4, Luật Thủy sản, hoạt động nghề cá phải đảm bảo hiệu quả kinh tế đồng thời bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản, duy trì tính đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và cảnh quan thiên nhiên.

Theo Điều 8 của Luật Thủy sản, Nhà nước cam kết bảo tồn và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là các loài có nguy cơ tuyệt chủng, quý hiếm và có giá trị kinh tế cao Chính phủ khuyến khích nghiên cứu khoa học để phát triển nguồn lợi thủy sản, đầu tư vào sản xuất giống thủy sản để thả vào môi trường tự nhiên, đồng thời tạo ra các vùng cư trú nhân tạo nhằm tái tạo và phát triển nguồn lợi này.

Theo Điều 11 của Luật Thủy sản, việc khai thác thủy sản tại các vùng biển, sông, hồ và các vùng nước tự nhiên khác phải đảm bảo không làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản và tuân thủ quy định về mùa vụ, thời hạn, vùng khai thác, chủng loại, kích cỡ và sản lượng thủy sản được phép khai thác hàng năm Để đảm bảo hiệu quả của các điều luật này, cần nâng cao năng lực tổ chức và quản lý của chính quyền từ cơ sở đến trung ương, tăng cường tuyên truyền, xây dựng nhận thức pháp luật trong cộng đồng, và khuyến khích sự tham gia của cả nhà nước và nhân dân trong quản lý đa dạng sinh học, khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường theo hướng phát triển bền vững.

1 Về thành phần loài: chúng tôi thu được 53 loài thuộc 40 giống, 20 họ, 7 bộ; trong đó, 44 loài là cá bản địa, chiếm 83,02%; 9 loài cá nhập nội, chiếm

Tại hồ Trị An, đã bổ sung 22 loài, 11 giống và 4 họ cho các công trình nghiên cứu trước đây, nâng tổng số loài cá được phát hiện lên 61, bao gồm 45 giống, 21 họ và 8 bộ Ngoài ra, 4 loài mới cũng được thêm vào nghiên cứu về thành phần loài cá ở hệ thống sông Đồng Nai Đặc biệt, 3 loài cá (cá Còm, cá Hô, cá Ét mọi) đã được ghi nhận trong Sách Đỏ Việt Nam (2007).

2 Vềtình hình nguồn lợi: Trong tổng số 53 loài cá ở hồ Trị An thì có 33 loài cá có giá trị thương phẩm, 22 loài có giá trị làm cảnh, 4 loài có giá trị làm thuốc

3 Về chất lượng nước: Một số thông số chất lượng nước ở hồ Trị An (nhiệt độ, pH, độ mặn, độ dẫn điện, oxygen hòa tan) thuộc giới hạn cho phép “Quy chuẩn kĩ thuật Quốc gia về chất lượng nước dùng cho tưới tiêu QCVN 08:2015/BTNMT” và “Quy chuẩn kĩ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt bảo vệđời sống thủy sinh QCVN 08:2015/BTNMT”.

Ngày đăng: 26/08/2021, 01:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w