Lịch sử nghiên cứu
Nghiên cứu phát triển kinh tế các huyện đang thu hút sự quan tâm từ nhiều nhà khoa học và chuyên gia kinh tế, nhằm khai thác hiệu quả các nguồn lực sẵn có để nâng cao đời sống người dân Trong bối cảnh Việt Nam thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đề tài này đã thu hút đông đảo sự tham gia nghiên cứu từ các nhà địa lý và kinh tế, với nhiều công trình tiêu biểu được thực hiện.
Bài viết tổng hợp những khái niệm cơ bản về phát triển kinh tế của một lãnh thổ, bao gồm lý luận về tăng trưởng và phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế, nguồn lực phát triển kinh tế, và sự phân hóa lãnh thổ Những nội dung này được trình bày chi tiết trong cuốn "Giáo trình phát triển kinh tế" do Vũ Thị Ngọc Phùng chủ biên và cuốn "Địa lý kinh tế - xã hội đại cương" của Nguyễn Minh Tuệ.
- Phân tích các điều kiện, nguồn lực cũng như hiện trạng phát triển KT-
XH của Việt Nam được thể hiện trong các cuốn sách: “Địa lí kinh tế - xã hội
Việt Nam” tập 1,2 của Nguyễn Viết Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức [19]
Thực trạng kinh tế Việt Nam, đặc biệt là vùng Bắc Trung Bộ, có mối quan hệ chặt chẽ với khu vực nghiên cứu, được trình bày rõ ràng trong cuốn sách này.
“Việt Nam các vùng kinh tế và vùng kinh tế trọng điểm” của Lê Thông – Ngô Quý Thao (đồng chủ biên) [18]
Tài liệu “Nghiên cứu các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp chủ yếu ở Việt Nam” cung cấp cái nhìn chi tiết về vấn đề tổ chức lãnh thổ nông nghiệp, phục vụ cho việc giảng dạy Địa lí ở bậc THPT và Đại học.
Nguyễn Thị Sơn [14] và cuốn giáo trình: “Địa lí kinh tế - xã hội đại cương” của tác giả Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên) [22]
Các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp được nghiên cứu và trình bày chi tiết trong cuốn giáo trình “Địa lí kinh tế - xã hội đại cương” của tác giả Nguyễn Minh.
Tuệ (chủ biên) [22] Ngoài ra còn nhiều tài liệu khác đã góp phần bổ sung về cơ sở lí luận trong quá trình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu kinh tế - xã hội vùng Bắc Trung Bộ tập trung vào việc quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cho khu vực này và Duyên Hải Miền Trung đến năm 2030 Mục tiêu là tạo ra một kế hoạch phát triển bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường Các chiến lược sẽ bao gồm phát triển hạ tầng, cải thiện giáo dục và y tế, cũng như khuyến khích đầu tư và đổi mới sáng tạo trong khu vực.
Bài viết năm 2020 đã trình bày những đặc điểm quan trọng về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của vùng Bắc Trung Bộ, bao gồm tỉnh Thanh Hóa Nội dung này tạo nền tảng thực tiễn cho nghiên cứu về “Phát triển kinh tế huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2005-2015”.
- Nghiên cứu về tỉnh Thanh Hóa: Địa chí Thanh Hóa [26], đã trình bày các nguồn lực phát triển và hiện trạng phát triển KT của tỉnh Thanh Hóa
Nghiên cứu phát triển kinh tế cấp huyện tại Đông Sơn được xác định qua Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện và công văn 7250/UBND-THKH ngày 25 tháng 10 năm 2011, cho phép UBND huyện lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020, với định hướng đến năm 2025.
Các nghiên cứu đã làm rõ các vấn đề phương pháp luận và cơ sở lý luận về phát triển kinh tế huyện Chúng phân tích các nguồn lực tự nhiên và kinh tế - xã hội của từng địa phương, đồng thời đánh giá hiện trạng phát triển kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Qua đó, nghiên cứu giúp nhận diện và so sánh với xu hướng chung, tìm ra những điểm nổi bật của từng địa phương trong phát triển kinh tế Tài liệu này cũng là nguồn tham khảo quý giá cho luận văn nghiên cứu từ góc độ địa lý học.
Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài
Bài viết này vận dụng lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế từ góc độ địa lý học, tập trung đánh giá các yếu tố ảnh hưởng và thực trạng phát triển kinh tế huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa Đồng thời, luận văn cũng đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế cho huyện Đông Sơn.
- Đúc kết cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển kinh tế để vận dụng vào địa bàn cấp huyện
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển kinh tế của huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Phân tích thực trạng phát triển kinh tế huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2005- 2015
- Đề xuất một số giải pháp phát triển ổn định kinh tế của huyện đến năm 2025
Nội dung nghiên cứu tập trung vào việc phân tích các thế mạnh và hạn chế của những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế tại huyện Đông Sơn Bên cạnh đó, bài viết cũng khảo sát thực trạng phát triển kinh tế theo các ngành, thành phần kinh tế và phân vùng lãnh thổ.
Nghiên cứu này tập trung vào toàn bộ huyện Đông Sơn, đi sâu vào cấp xã và so sánh với một số huyện khác trong tỉnh Thanh Hóa cũng như toàn tỉnh.
- Về thời gian nghiên cứu: Số liệu phân tích được thực hiện trong khoảng thời gian từ 2005- 2015, định hướng đến năm 2025.
Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
- Quan điểm tổng hợp lãnh thổ:
Mọi sự vật và hiện tượng địa lý đều phát triển trong một không gian lãnh thổ nhất định Khoa học địa lý nghiên cứu sự phân hoá và dự đoán sự phân bố của các sự vật, hiện tượng trong không gian.
Huyện Đông Sơn được xem như một thể thống nhất với sự liên kết chặt chẽ giữa các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội Để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lãnh thổ, cần có cái nhìn tổng hợp và lãnh thổ, từ đó nhận diện các quy luật phát triển Việc này sẽ giúp định hướng phát triển một cách tổng thể, nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng của huyện.
Khi nghiên cứu đề tài, tính hệ thống là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự logic, thông suốt và sâu sắc Lãnh thổ Đông Sơn được xem như một hệ thống hoàn chỉnh, bao gồm các hệ thống con như cụm xã và các xã Các hệ thống này có mối quan hệ tương tác mật thiết với nhau, do đó cần tìm hiểu các mối quan hệ và tác động giữa các yếu tố trong một hệ thống cũng như giữa các hệ thống khác nhau để có được đánh giá chính xác về vấn đề nghiên cứu.
- Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Mọi hiện tượng địa lý đều phát triển theo quy luật riêng, và việc áp dụng quan điểm lịch sử vào nghiên cứu giúp chúng ta nhận diện sự biến đổi của các yếu tố kinh tế qua các giai đoạn phát triển của huyện Quan điểm này không chỉ giúp hiểu rõ sự hình thành và phát triển của các ngành kinh tế trong quá khứ và hiện tại, mà còn đưa ra dự báo về xu hướng phát triển kinh tế năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025.
- Quan điểm phát triển bền vững:
Giải pháp cho sự phát triển kinh tế - xã hội cần phải dựa trên nguyên tắc bền vững, kết hợp bảo vệ và tái tạo tài nguyên thiên nhiên, đồng thời chống ô nhiễm môi trường Phát triển kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.
4.2 Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập tài liệu:
Phân tích và đánh giá thực trạng nền kinh tế theo ngành và lãnh thổ là một công việc phức tạp, liên quan đến nhiều chỉ tiêu đánh giá từ các lĩnh vực khác nhau Để thực hiện nghiên cứu này, tác giả đã thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn, bao gồm số liệu thống kê, văn bản và dữ liệu không gian (bản đồ), đảm bảo tính thống nhất về thời gian Sau đó, tác giả tiến hành tổng hợp và phân tích chọn lọc để tạo ra những tài liệu cần thiết, đáp ứng yêu cầu của đề tài.
- Phương pháp phân tích tổng hợp
Dựa trên số liệu và phương pháp phân tích tổng hợp, bài viết sẽ xem xét tình hình phát triển kinh tế huyện Đông Sơn, các yếu tố ảnh hưởng, và hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội Từ đó, chúng tôi sẽ đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển các ngành kinh tế trong khu vực.
Phương pháp so sánh là một kỹ thuật phổ biến nhằm phân tích các yếu tố định lượng và định tính, cũng như các mối quan hệ về không gian và thời gian trong các lĩnh vực kinh tế Phương pháp này giúp so sánh các mối quan hệ tự nhiên và nhân văn, cũng như giữa hình thức và bản chất Bằng cách phân tích các chỉ tiêu và hoạt động kinh tế đã được lượng hóa với nội dung và tính chất tương tự, phương pháp so sánh cho phép xác định mức độ biến động của các chỉ tiêu, từ đó rút ra bản chất của các hiện tượng.
KT, hiện tượng địa lý và xây dựng mô hình chuyển dịch cơ cấu KT hợp lí
- Phương pháp thống kê toán học
Nguồn dữ liệu chủ yếu được thu thập từ các tư liệu thống kê và điều tra kinh tế - xã hội của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa, bao gồm niên giám thống kê tỉnh, các phòng ban như Phòng Thống kê Đông Sơn, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Đông Sơn, Phòng Giao thông - Công nghiệp - Xây dựng Đông Sơn, Phòng Kế hoạch - Tài chính - Thương mại Đông Sơn, Phòng Địa chính Đông Sơn, và Ủy ban Nhân dân huyện Đông Sơn.
Tác giả áp dụng phương pháp thống kê toán học để phân tích dữ liệu thu thập, tính toán các chỉ số phát triển và tỉ trọng ngành, từ đó so sánh và đánh giá vị trí cũng như sự biến chuyển của nền kinh tế huyện Đông Sơn trong thời kỳ công nghiệp hóa.
- Phương pháp bản đồ, biểu đồ và sử dụng công nghệ GIS
Bản đồ dùng để mô tả hiện trạng KT, sự phân bố các hiện tượng địa lý
KT, các mối liên hệ lãnh thổ trong không gian, các mối quan hệ giữa chúng và những dự kiến phát triển KT
Phương pháp thực địa được thực hiện thông qua việc khảo sát và tìm hiểu trực tiếp các xã, cũng như các cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện Quá trình này bao gồm việc thu thập ý kiến từ các nhà quản lý, chuyên gia, phỏng vấn cán bộ địa phương và hộ nông dân, hộ kinh doanh thương mại dịch vụ liên quan đến đề tài Tác giả cũng bổ sung thông tin từ hiểu biết cá nhân về quê hương, kiểm chứng các phân tích và tổng hợp nhận định, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp.
Đóng góp của luận văn
- Kế thừa, bổ sung và làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển KT để vận dụng vào huyện Đông Sơn
- Làm sáng tỏ lợi thế và cơ hội phát triển, các hạn chế và thách thức đối với nền KT của huyện Đông Sơn
- Làm rõ thực trạng nền kinh tế của huyện trong giai đoạn 2005- 2015 ,chỉ ra những thành tựu và những hạn chế trong phát triển KT của huyện
- Đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế và phát triển
KT huyện Đông Sơn đến năm 2025 có hiệu quả hơn.
Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lục, hệ thống các bản đồ, luận văn được trình bày thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển kinh tế
Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng phát triển kinh tế huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
CƠ SỞ LÍ LUẬN
Tăng trưởng kinh tế là khái niệm thể hiện sự biến đổi về mặt lượng trong nền kinh tế của một quốc gia Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về tăng trưởng kinh tế, phản ánh sự đa dạng trong cách nhìn nhận và phân tích hiện tượng này.
Theo PGS.TS Bùi Tất Thắng, tăng trưởng kinh tế được định nghĩa là sự gia tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và thu nhập quốc gia, bao gồm cả mức tăng GDP và thu nhập quốc gia tính trên đầu người.
Theo PGS.TS Ngô Thắng Lợi từ Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, tăng trưởng kinh tế được định nghĩa là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm Tăng trưởng được thể hiện qua quy mô và tốc độ, trong đó quy mô phản ánh mức độ gia tăng, còn tốc độ cho thấy sự so sánh tương đối, thể hiện sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ.
Tăng trưởng kinh tế chỉ phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế mà không thể hiện sự biến đổi của cơ cấu kinh tế-xã hội, đời sống tinh thần và văn hóa của cộng đồng Điều này dẫn đến việc không đánh giá chính xác phúc lợi của các nhóm dân cư khác nhau, làm gia tăng chênh lệch giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội giữa nông thôn và thành thị Mặc dù tăng trưởng có thể cao, nhưng chất lượng cuộc sống không nhất thiết phải được cải thiện, môi trường có thể bị hủy hoại, tài nguyên bị khai thác quá mức và nguồn lực sử dụng không hiệu quả.
Mặc dù có nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, các chỉ tiêu đo lường mức tăng trưởng vẫn được coi là thước đo cụ thể và dễ hiểu cho trình độ phát triển kinh tế Điều này khiến chúng trở thành mục tiêu phấn đấu quan trọng của các quốc gia, vùng miền và địa phương.
Tăng trưởng kinh tế chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất Chất lượng lao động, bao gồm kỹ năng, kiến thức, trình độ chuyên môn, ý thức và kỷ luật lao động, đóng vai trò quyết định trong sự phát triển Mặc dù các yếu tố như vốn, nguyên liệu, công nghệ có thể được mua hoặc vay mượn, nhưng nguồn nhân lực chất lượng cao lại khó có thể thay thế Máy móc, thiết bị và công nghệ chỉ phát huy hiệu quả tối đa khi được vận hành bởi đội ngũ lao động có trình độ, sức khỏe tốt và kỷ luật cao.
Phát triển kinh tế không chỉ đơn thuần là tăng trưởng kinh tế mà còn bao gồm những thay đổi về chất lượng như phúc lợi xã hội và tuổi thọ Theo PGS.TS Ngô Thắng Lợi, phát triển kinh tế là một quá trình tiến bộ toàn diện, kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và sự hoàn thiện về cơ cấu, thể chế kinh tế, cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống.
Phát triển kinh tế phản ánh những nội dung cơ bản như sự tăng trưởng kinh tế bền vững, thể hiện qua sự gia tăng quy mô sản lượng trong thời gian dài Sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế được nhận diện qua sự biến động tỷ trọng giữa các vùng, miền và ngành nghề, trong đó tỷ trọng vùng nông thôn giảm và tỷ trọng ngành dịch vụ, công nghiệp tăng lên, đặc biệt là ngành dịch vụ Sự phát triển này cải thiện chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân cư, nâng cao giáo dục, y tế và tinh thần cộng đồng, đồng thời bảo vệ môi trường Để thay đổi tư duy và quan điểm, cần thiết phải mở cửa nền kinh tế Phát triển kinh tế là một quá trình tiến hóa liên tục, chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố nội tại quyết định toàn bộ quá trình này.
Sự phát triển xã hội là quá trình đáp ứng các nhu cầu cơ bản, trong đó phát triển kinh tế đóng vai trò quan trọng và là trách nhiệm chung của toàn xã hội Phát triển kinh tế không chỉ bao gồm tăng trưởng mà còn đi kèm với việc nâng cao phúc lợi xã hội, dẫn đến những thay đổi tích cực trong các vấn đề xã hội Khi chất lượng cuộc sống được cải thiện, mọi người đều có cơ hội tham gia vào quá trình phát triển và hưởng lợi từ sự tăng trưởng này.
Cơ cấu kinh tế bao gồm tổng thể các ngành và lĩnh vực kinh tế, với vị trí và tỉ trọng tương ứng của từng bộ phận Mối quan hệ giữa các thành phần này tương đối ổn định, tạo nên một hệ thống kinh tế hoàn chỉnh.
Cơ cấu kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tính chất và mức độ phát triển của nền kinh tế Nó thể hiện sự liên kết chặt chẽ giữa các thành phần trong hệ thống kinh tế, từ đó tạo ra sự vận động và phát triển liên tục.
Về bản chất, cơ cấu KT phải được thể hiện ở ba khía cạnh chính như sau:
Cơ cấu ngành kinh tế phản ánh sự phân công lao động xã hội qua các ngành và lĩnh vực kết hợp với nhau Được xem xét từ ba góc độ chính, cơ cấu ngành chia nền kinh tế thành ba khu vực: khu vực I (Nông - Lâm - Thủy sản), khu vực II (Công nghiệp - Xây dựng), và khu vực III (Dịch vụ) Ngoài ra, cơ cấu cũng phân loại theo nhóm ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp, cũng như theo nhóm ngành sản xuất sản phẩm vật chất và sản xuất dịch vụ.
Cơ cấu kinh tế theo thành phần hình thành từ chế độ sở hữu, bao gồm các thành phần tương tác lẫn nhau, vừa hợp tác vừa cạnh tranh trên cơ sở bình đẳng trước pháp luật Đây là kết quả của việc tổ chức nền kinh tế.
KT theo các hình thức sở hữu, hay nói cách khác chế độ sở hữu là cơ sở hình thành cơ cấu thành phần KT
Cơ cấu theo lãnh thổ là tập hợp các lãnh thổ kinh tế với tỷ trọng và mối quan hệ tương đối ổn định Nó được hình thành từ sự phân công lao động theo lãnh thổ, chịu ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và yếu tố lịch sử Những khác biệt này dẫn đến sự phát triển kinh tế không đồng đều giữa các đơn vị lãnh thổ Cơ cấu theo lãnh thổ của nền kinh tế quốc dân được phân tích qua ba góc độ chính: vùng kinh tế-xã hội lớn, thành phố và nông thôn, cùng với các vùng phát triển và các vùng còn lại.
1.1.1.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác để phù hợp với môi trường phát triển Điều này bao gồm việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế trên ba phương diện: theo ngành, theo lãnh thổ và theo thành phần kinh tế Mục tiêu của chuyển dịch này là hướng sự phát triển của nền kinh tế vào các chiến lược kinh tế - xã hội đã được đề ra cho từng giai đoạn cụ thể.
KT không đơn thuần chỉ là sự thay đổi vị trí mà là sự biến đổi cả về lượng và chất trong nội bộ cơ cấu
CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Vài nét về phát triển kinh tế của vùng kinh tế Bắc Trung Bộ
Vùng Bắc Trung Bộ bao gồm 6 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, trong đó Thừa Thiên Huế là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Về quy mô, vùng này có dân số và diện tích thuộc loại trung bình so với các vùng khác trong cả nước Theo số liệu năm 2015, diện tích đất liền và các đảo đạt 51.524,6 km², chiếm 15,6% diện tích cả nước, với dân số khoảng 10.472,9 nghìn người, tương đương 11,4% tổng dân số cả nước.
Bắc Trung Bộ nằm ở vị trí trung độ trên các trục giao thông chính Bắc - Nam, bao gồm đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không Khu vực này, cùng với Duyên hải Nam Trung Bộ, đóng vai trò như chiếc cầu nối giữa miền Bắc và miền Nam của Việt Nam, cũng như với các nước láng giềng Đặc biệt, Bắc Trung Bộ là cửa ngõ ra biển của Lào qua hành lang Đông-Tây, và trong tương lai, sẽ kết nối cả vùng Đông Bắc Thái Lan và Myanmar.
Bắc Trung Bộ, với đường bờ biển dài 670km và tất cả các tỉnh giáp biển, sở hữu tiềm năng lớn để phát triển kinh tế biển Khu vực này có thể khai thác hiệu quả nguồn lợi sinh vật biển, phát triển du lịch biển, tăng cường giao thông vận tải biển và khai thác khoáng sản biển.
Người dân trong vùng có truyền thống cần cù và chịu khó, điều này giúp họ đấu tranh hiệu quả với thiên nhiên khắc nghiệt và ngoại xâm, từ đó tạo ra sức mạnh hàng đầu cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
1.1.2.2 Quy mô và tốc độ tăng trưởng
Bảng 1.1: Quy mô GDP và GDP/người của vùng Bắc Trung Bộ giai đoạn 2005-2015 (giá thực tế)
% so với GDP cả nước 6,5 6,8 7,0
Quy mô GDP của vùng BTB từ 2005 đến 2015 đã tăng liên tục từ 57.129 tỉ đồng lên 326.874,5 tỉ đồng, tuy nhiên, vùng này chỉ chiếm 7% GDP cả nước và xếp thứ 6 trong 7 vùng, chỉ cao hơn Tây Nguyên Tốc độ tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2005 – 2010 đạt mức trung bình năm là 10,5%, với ngành công nghiệp và xây dựng tăng 14,5%, nông lâm thủy sản tăng 3,9% và dịch vụ tăng 11,3%.
Từ năm 2010 đến nay, tốc độ tăng trưởng GDP của vùng có xu hướng chậm lại, với mức trung bình chỉ đạt khoảng 9% trong giai đoạn 2010-2015 Cụ thể, khu vực công nghiệp - xây dựng chỉ đạt 13% và khu vực dịch vụ đạt 8%, cho thấy sự giảm sút so với các giai đoạn trước đó.
Mặc dù GDP của tỉnh đã tăng trưởng nhanh trong những năm gần đây, nhưng vẫn còn thấp so với mức trung bình cả nước Tuy nhiên, nhờ vào sự phát triển kinh tế, GDP bình quân đầu người đã tăng từ hơn 5 triệu đồng vào năm 2005 lên gần 15 triệu đồng vào năm 2010 Dù vậy, GDP bình quân đầu người của tỉnh vẫn chỉ đạt 66,2% so với cả nước.
- Cơ cấu GDP của BTB đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng CNH, HĐH
Bảng 1.2: Cơ cấu GDP phân theo nhóm ngành kinh tế của Bắc Trung
Từ năm 2005 đến nay, kinh tế BTB đã chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tỉ trọng khu vực nông-lâm-thủy sản giảm nhanh từ 32,8% năm 2005 xuống 20,1% năm 2015, trong khi khu vực công nghiệp-xây dựng tăng từ 31,9% lên 36,0% Đặc biệt, tỉ trọng khu vực dịch vụ chiếm tỷ lệ cao nhất và liên tục tăng từ 35,3% năm 2005 lên 43,9% năm 2015.
Cơ cấu kinh tế đang có sự chuyển dịch chậm, với khu vực kinh tế trong nước vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối, trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chỉ chiếm tỉ trọng rất nhỏ Mặc dù tỉ trọng của khu vực kinh tế Nhà nước đã giảm từ 31,6% năm 2005 xuống 24,7% năm 2014, nhưng thành phần này vẫn giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ nền kinh tế.
Khu vực kinh tế ngoài Nhà nước chiếm tỉ trọng lớn nhất trong vùng, đạt 69% vào năm 2015, trong khi các ngành và lĩnh vực then chốt vẫn do Nhà nước quản lý Mặc dù khu vực có vốn đầu tư nước ngoài còn nhỏ bé, nhưng mức tăng trưởng đã nhanh chóng cải thiện trong giai đoạn 2005–2014 nhờ vào một số dự án đầu tư lớn vào các khu công nghiệp trong vùng.
Cơ cấu lãnh thổ trong vùng đang chuyển dịch theo hướng khai thác thế mạnh của từng địa phương, với việc xây dựng hàng loạt khu công nghiệp (KCN), khu kinh tế ven biển và các trung tâm công nghiệp Đây là kết quả của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa mạnh mẽ trong khu vực Tuy nhiên, vẫn tồn tại sự khác biệt giữa các tỉnh, trong đó Thanh Hóa và Nghệ An nổi bật với nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, luôn chiếm tỷ trọng cao trong vùng, đặc biệt là Thanh Hóa.
33,1%, Nghệ An 24,9% năm 2014) Ngược lại, hai tỉnh có GDP thấp hơn cả là Quảng Bình và Quảng Trị (chỉ chiếm 7,9% và 6,5% năm 2014)
- Về nông - lâm - thủy sản
Khu vực N- L-TS đóng vai trò chủ đạo trong đời sống kinh tế - xã hội của vùng BTB, thể hiện qua tỉ trọng đóng góp vào GDP, sự thu hút gần 84% dân cư và khoảng 60% nguồn lao động trong vùng Mặc dù tỉ trọng này có xu hướng giảm, nhưng vai trò của khu vực N- L-TS vẫn không hề suy giảm.
Trong thời gian qua, các ngành N- L-TS đã có sự phát triển mạnh mẽ, thể hiện qua việc khai thác lợi thế vùng Sản xuất hàng hóa được gắn kết với thị trường và phát triển nông nghiệp với nông thôn Các hoạt động thâm canh tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ và phát triển chăn nuôi, thủy sản đã được đẩy mạnh Đồng thời, hình thành và phát triển các vùng nguyên liệu, khoanh nuôi và bảo vệ rừng cũng như xây dựng các mô hình phù hợp đã tạo cơ sở tăng thu nhập cho nông dân và nâng cao hiệu quả sản xuất trên mỗi đơn vị diện tích.
+ GTSX N- L- TS tăng khá vững chắc từ 15.019,0 tỉ đồng năm 2005 lên 121.265,6 tỉ đồng năm 2014, tăng gần 8,1 lần [18], [27]
Trong cơ cấu giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản, nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo với tỷ trọng 77,3% vào năm 2015 Mặc dù lâm nghiệp là thế mạnh của vùng, nhưng tỷ trọng của nó không cao và có sự biến động Ngành thủy sản đã có sự tăng trưởng ổn định, từ 13,8% năm 2005 tăng lên 20,0% vào năm 2015.
Sản xuất nông nghiệp của BTB phát triển mạnh và đạt được kết quả cao
BTB là vùng dẫn đầu về diện tích trồng lạc và khoai lang, đứng thứ hai về diện tích gieo trồng cói, mía, vừng và đàn trâu, đồng thời xếp thứ ba về diện tích trồng cao su, lúa, ngô, hồ tiêu và đàn bò.