1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số phong trào và nhân vật cộng sản ở nam kỳ giai đoạn 1930 1945

65 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,42 MB

Cấu trúc

  • 18. Đinh Văn Liên – Phạm Ngọc Bích (2005), Hỏi đáp về lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Trẻ, TPHCM.

  • 19. Nhiều tác gỉả (2017), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bến Tre (1930-2015), NXB Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội.

  • 20. Nguyễn Thế Anh (2008), Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ, NXB Văn học, TPHCM.

  • 21. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Báo cáo Chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 11.

  • 22. Nguyễn Đình Tư (2016), Chế độ thực dân Pháp trên đất Nam Kỳ 1859-1954 -Tập 1, NXB Tổng hợp Thành Phố Hồ Chí Minh, TPHCM.

  • 23.Trần Bá Đệ (2001), Lịch Sử Việt Nam từ 1858 đến nay, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

Nội dung

MỤC LỤC A. MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………………3 B. NỘI DUNG………………………………………………………………………………7 Chương 1: Việt Nam và thế giới trong giai đoạn 1930 – 1945……………………………...7 1.1 Bối cảnh thế giới……………………………………………………………………..7 1.2 Bối cảnh Việt Nam…………………………………………………………………...8 1.3 Nam Kỳ trong giai đoạn 1930 – 1945 dưới ách cái trị của thực dân Pháp……..........8 Chương 2: Một số phong trào và nhân vật cộng sản ở Nam Kỳ giai đoạn 1930 – 1945……9 3.1 Các phong trào tiêu biểu……………………………………………………………...9 3.1.1 Các cuộc mít tinh, biểu tình, bãi công, bãi khóa, bãi chợ……………………….9 3.1.2 Thành lập các chi bộ cộng sản ở Nam Kỳ……………………………………...12 3.1.3 Phong trào dân chủ Đông Dương (19361939)………………………………...16 3.1.4 Nam Kỳ khởi nghĩa……………………………………………………………..21 3.1.5 Phong trào đấu tranh giành chính quyền ở Nam Kỳ năm 1945………………..25 3.2 Các nhân vật tiêu biểu……………………………………………………………….27 3.2.1 Nguyễn An Ninh………………………………………………………………..27 3.2.2 Lê Hồng Phong – Nguyễn Thị Minh Khai……………………………………...32 3.2.3 Châu Văn Liêm…………………………………………………………………37 3.2.4 Trần Văn Giàu…………………………………………………………………..42 3.2.5 Một số nhân vật tiêu biểu khác…………………………………………………46 3.3 Nhận xét chung……………………………………………………………………...62 3.1 Về các phong trào tiêu biểu………………………………………………………62 3.2 Về các nhân vật tiêu biểu…………………………………………………………63 C. KẾT LUẬN……………………………………………………………………………..64 D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………...65 A. MỞ ĐẦU Việt Nam có một ví trí chiến lược ở Đông Nam Á và đã lọt vào tầm ngắm của các nước tư bản phương Tây từ rất lâu. Tình hình nội bộ đất nước và chế độ phong kiến nhà Nguyễn ngày càng khủng hoảng trầm trọng với những chính sách đối nội, đối ngoại hết sức bảo thủ và lạc hậu đã đẩy nước Đại Nam ngày càng là miếng mồi ngon cho bọn xâm lược, đặc biệt là thực dân Pháp – vốn đã có dã tâm xâm lược Việt Nam từ lâu. Như một lẽ tất nhiên của thời cuộc, ngày 01091858, Pháp nổ súng tấn công vào bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Trong khi đó ở Nam Bộ nơi đươc xem là vựa lúa của triều đình Huế, một mảnh đất màu mỡ, trù phú về nông nghiệp của đất nước đã được bọn thực dân Pháp để mắt đến nhất là sau khi chúng bị cầm chân ở Đà Nẵng quá lâu và kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” của chúng phá sản. Tháng 02 năm 1859, Pháp tập trung quân ở Vũng Tàu để chuẩn bị đánh chiếm Nam Kỳ. Đến ngày 1802 cùng năm, Pháp đánh chiếm Gia Định, thế là ý định của chúng đã được bộc lộ công khai và nhân dân Nam Kỳ bắt đầu bước đầu thời kỳ kháng pháp đầy oanh liệt nhưng cũng rất đau thương. Có ba lý do được cho là nguyên nhân Pháp chọn Nam Kỳ làm nơi tấn công tiếp theo trên lãnh thổ Việt Nam. Đó là “Chiếm được miền này, Pháp sẽ làm cạn nguồn tiếp viện lương nhu cho triều đình Huế”, “Thương khẩu Sài Gòn nằm giữa Tân Gia Ba và Hương Cảng, có vị trí rất thuận lợi về mặt thương mại” và cuối cùng là yếu tố gió mùa Đông Bắc, chiến thuyền đi xuống miền sông Cửu Long được thuận lợi. Với dã tâm hòng biến Nam Kỳ làm thuộc địa và bàn đạp để áp đặt sự thống trị của bọn thực dân Pháp lên toàn cõi Việt Nam và Đông Dương, chúng lần lượt dùng các biện pháp quân sự và ngoại giao hòng hép triều đình Huế phải thừa nhận: từ việc chúng đánh chiếm đại đồn Chí Hòa (1861), chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ rồi ký với triều đình Huế hiệp ước Nhâm Tuất (05061862). Đến năm 1867, bọn thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ mà không tốn một viên đạn. Từ đây sáu tỉnh Nam Kỳ cơ bản đã thuộc hoàn toàn về tay Pháp. Và đến tận năm 1874, Nam Kỳ lục tỉnh chính thức được thừa nhận là thuộc địa của Pháp qua Hiệp ước Giáp Tuất ký với triều đình Huế. Những năm cuối thế kỷ XIX, nước Pháp đã phát triển lên giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, yêu cầu về thị trường, nguồn nguyên nhiên liệu, nhân công và lợi nhuận được đặt ra ngày càng cấp thiết. Chúng ráo riết âm mưu đặt sự cai trị lên toàn cõi Việt Nam. Các cuộc kháng chiến của nhân dân, văn thân, sĩ phu yêu nước với các nhiều các thức và hệ tư tưởng cũng không thành công. Mọi cố gắng gỡ gạc và nỗ lực nhằm cứu vãn tình thế của triều Nguyễn cũng thất bại và đến năm 1884, nước ta cơ bản đã rơi vào vòng “bảo hộ” của thực dân Pháp. Với chính sách chia để trị, Nam Kỳ được xem là xứ bảo hộ của Pháp (Bắc Kỳ là xứ bảo hộ, Trung Kỳ vẫn thuộc quản lý của triều đình nhưng vẫn chịu sử kiểm soát của Pháp qua tòa Khâm Sứ Pháp) dưới quyền giám sát và điều khiển tối cao của vị toàn quyền Đông Pháp. Pháp thực hiện chính sách “chia để trị” nhằm phá vỡ khối đoàn kết cộng đồng quốc gia dân tộc: chia ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) với các chế độ chính trị khác nhau nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp (Union Indochinoise) được thành lập ngày 17101887 theo sắc lệnh của Tổng thống Pháp. Nhân dân Nam Kỳ đã tiến hành nhiều cuộc đấu tranh nhất là sau khi triều đình Huế càng ngày càng nhượng bộ và thừa nhận sáu tỉnh Nam Kỳ thuộc Pháp. Tiêu biểu như khởi nghĩa của Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định, Trần Thiện Chính, Lê Huy, Nguyễn Trung Trực, Phan Tôn, Phan Liêm, Thân Văn Thíp ở Mỹ Tho, Phan Tòng ở Ba Tri,…. Phong trào kháng chiến của nhân dân Nam Kỳ thời kỳ này diễn ra sôi nổi, quyết liệt, bền bỉ nhưng do tương quan lực lượng ngày một chênh lệch, vũ khí thì thô sơ, thiếu liên kết, cuối cùng phong trào đều bị đàn áp và thất bại. Nhằm thu nguồn lợi cho “chính quốc”, Pháp đã tiến hành 2 cuộc khai thác thuộc địa quy mô lớn: 18971914 và 19191929 vì chúng xem “Việt Nam là 1 thuộc địa quan trọng nhất, phát triển nhất và giàu có nhất trong tất cả các thuộc địa của Pháp trên thế giới” trong đó thuộc địa Nam Kỳ là nơi Pháp tiến hành ráo riết và triệt để nhất. Những biến chuyển về kinh tế, xã hội của Nam Kỳ trong giai đoạn này dẫu có những nét tích cực, tiến bộ, văn minh hơn nhưng bên cạnh đó vẫn với mục đích cơ bản là bóc lột, vơ vét sức người sức của cho sự phát triển của nước Pháp. Đây được xem là giai đoạn tiền đề, bản lề cho các phong trào đấu tranh ở miền Nam giai đoạn 1930 và tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945 sau này. Rồi xã hội Việt Nam với biết bao thăng trầm của một đất nước nửa phong kiến nửa thuộc địa, chịu hai tầng áp bức phong kiến và thực dân đã xuất hiện nhiều phong trào cải cách, phong trào đấu tranh tiến bộ nhằm mục đích giành lại quyền độc lập tự do. Những biến đổi xã hội qua hai cuộc khai thác thuộc địa cũng đã đưa xã hội Việt Nam xuất hiện những tầng lớp mới, đóng vai trò nổi bật trong phong trào yêu nước trong giai đoạn 19301945, đó chính là giai cấp công nhân và giai cấp tư sản. Qua thực tiễn Việt Nam và thế giới, cùng với những sự thất bại của các trào lưu yêu nước theo ý thức hệ phong kiến, tư sản, phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục,… cũng chứng tỏ chỉ có giai cấp công nhân mới quy tụ được quần chúng nhân dân để giành lại độc lập, tự do và phải đặt dưới sự lãnh đạo của một tổ chức với đường lối và cương lĩnh rõ ràng, phù hợp. Giai đoạn cách mạng 19301945 là giai đoạn đầu tiên của cách mang Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (sau này đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương)

Việt Nam và thế giới trong giai đoạn 1930 – 1945

Bối cảnh thế giới

Trong giai đoạn 1929-1933, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu buộc các nước đế quốc thực dân gia tăng bóc lột thuộc địa và tìm kiếm thị trường mới, dẫn đến các cuộc chiến tranh xâm lược Mục tiêu chính của họ là tiêu thụ hàng hóa dư thừa và khai thác nguyên liệu phục vụ cho lợi ích của các nước đế quốc, làm giàu cho tầng lớp tư bản Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc già như Anh, Pháp, Tây Ban Nha và các nước đế quốc trẻ như Đức, Bỉ, Hoa Kỳ ngày càng trở nên căng thẳng, đặc biệt khi những quốc gia này muốn khẳng định sức mạnh sau thất bại trong Thế chiến I, làm gia tăng tình trạng hỗn loạn trên thế giới.

Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 1929-1933 và những mâu thuẫn giữa các nước đế quốc đã dẫn đến sự hình thành chủ nghĩa phát xít và quân phiệt tại Đức, Ý, Nhật, gây ra mối đe dọa cho hòa bình thế giới Vào tháng 7/1935, Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản đã thảo luận về việc chống phát xít và kêu gọi thành lập Mặt trận Nhân dân rộng rãi Đến tháng 6/1936, Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp được thành lập và thực hiện một số chính sách cải cách tiến bộ tại các thuộc địa, bao gồm cả Đông Dương.

Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ vào tháng 9/1939, phản ánh mối quan hệ căng thẳng giữa các nước đế quốc Phát xít Đức nhanh chóng chiếm toàn bộ Châu Âu và chuẩn bị tấn công Liên Xô Trong bối cảnh này, chính phủ Pháp đầu hàng và chuyển sang chính sách thù địch đối với các lực lượng tiến bộ trong nước cũng như phong trào cách mạng ở các thuộc địa.

Bối cảnh Việt Nam

Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu từ 1929 đến 1933 đã làm trầm trọng thêm tình hình kinh tế ở Việt Nam, khiến đời sống nhân dân rơi vào cảnh khó khăn Công nhân bị sa thải và nhận lương thấp, nông dân phải gánh chịu thuế cao và mất đất vào tay địa chủ, dẫn đến tình trạng bần cùng hóa Tiểu thương và các nghề thủ công lâm vào cảnh phá sản và thất nghiệp, trong khi tư sản dân tộc gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó, đời sống chính trị trở nên ngột ngạt với sự đàn áp dã man các phong trào yêu nước, làm cho mâu thuẫn xã hội giữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp, cũng như giữa nông dân và địa chủ phong kiến, ngày càng sâu sắc.

Từ khi Mặt trận nhân dân Pháp lên nắm quyền vào năm 1936, tình hình Việt Nam trở nên thông thoáng hơn với việc Pháp cử đoàn điều tra và nới lỏng một số quyền tự do Trong giai đoạn này, Đảng Cộng sản Đông Dương nổi bật với tổ chức chặt chẽ và chủ trương rõ ràng, trở thành đảng mạnh nhất giữa nhiều đảng phái chính trị Mặc dù kinh tế Việt Nam phục hồi từ 1936-1939, nhưng vẫn phụ thuộc vào nền kinh tế Pháp, khiến đời sống nhân dân gặp khó khăn và họ tích cực tham gia đấu tranh đòi tự do, đặc biệt là ở Nam Kỳ dưới sự lãnh đạo của Đảng Năm 1939, chính sách “khủng bố trắng” của Pháp đã kích thích phong trào cách mạng, dẫn đến thành công của Cách mạng tháng Tám, đánh dấu kết quả của 15 năm chuẩn bị từ khi Đảng ra đời, chấm dứt sự thống trị của thực dân và phong kiến, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc.

Nam Kỳ, dưới sự cai trị thuộc địa của thực dân Pháp, đã có những đóng góp quan trọng trong cuộc đấu tranh chung của dân tộc Việt Nam, góp phần vào thắng lợi của Cách mạng tháng Tám.

Nam Kỳ trong giai đoạn 1930 – 1945 dưới ách cái trị của thực dân Pháp

Nam Kỳ đã chịu sự kiểm soát quân sự của Pháp từ năm 1867 khi Pháp chiếm 6 tỉnh Đến năm 1884, triều đình Huế chính thức công nhận Nam Kỳ lục tỉnh là thuộc địa của Pháp.

Trong giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1945, phong trào dân tộc dân chủ tại Nam Kỳ thể hiện nhiều đặc điểm độc đáo và nổi bật, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của toàn dân Việt Nam.

Trước và sau năm 1930, Nam Kỳ trở thành trung tâm hình thành nhiều tổ chức cộng sản và là nơi diễn ra các phong trào công nhân, nông dân mạnh mẽ Nhiều hoạt động đấu tranh tại đây gắn liền với các địa danh nổi tiếng như xưởng đóng tàu Ba Son, xe lửa Dĩ An, đồn điền cao su Phú Riềng, quận Đức Hòa (Chợ Lớn) và Chợ Mới (Long Xuyên), tạo ra tiếng vang và ảnh hưởng sâu rộng đến toàn quốc.

Một số phong trào và nhân vật cộng sản ở Nam Kỳ giai đoạn 1930 – 1945

Các phong trào tiêu biểu

3.1.1 Các cuộc mít tinh, biểu tình, bãi công, bãi khóa, bãi chợ

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 đã tác động nghiêm trọng đến nền kinh tế của các nước tư bản phát triển và các thuộc địa, trong đó có Việt Nam, nơi mà nền kinh tế phụ thuộc vào Pháp Hậu quả là đời sống xã hội trở nên khó khăn hơn, với tỷ lệ nghèo đói gia tăng, trong khi tiền lương bị cắt giảm và giờ làm việc kéo dài Để phản đối chính sách của thực dân Pháp, nhân dân Nam Kỳ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Xứ uỷ Nam Kỳ, đã tiến hành các cuộc đấu tranh qua mít tinh, biểu tình và bãi công nhằm giành lại quyền lợi Phong trào đấu tranh diễn ra sôi nổi, đặc biệt là vào ngày Quốc tế Lao động 1/5, với các cuộc biểu tình của nông dân tại Thủ Dầu Một và Long Xuyên, nơi hàng nghìn nông dân yêu cầu cải thiện điều kiện sống và yêu sách chính đáng.

Từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1930, Nam Kỳ chứng kiến 22 cuộc đấu tranh nổi bật, với sự tham gia của nhân dân ở nhiều địa phương như Vĩnh Long (2/6), Bà Hom (Chợ Lớn 3/6), Hóc Môn (Gia Định 4/6), Tân Lợi (Tân An 4/6), Đức Hoà (Chợ Lớn 4/6) và Bến Lức (Chợ Lớn 5/6) Những cuộc nổi dậy này chủ yếu nhằm đòi hỏi giảm tô thuế, phản ánh sự bất mãn của người dân đối với chính sách thuế thời bấy giờ.

Vào tháng 8, không khí sôi nổi của quần chúng được khích lệ bởi các khẩu hiệu kỷ niệm ngày chống đế quốc và chống chiến tranh, đồng thời thể hiện sự ủng hộ đối với Liên bang Xô Viết Những lá đơn kêu gọi này được phát tán rộng rãi và xuất hiện ở nhiều thành phố lớn trên toàn quốc, bao gồm cả miền Nam.

Kỳ Các cuộc biểu tình tái diễn ở một số tỉnh như Vĩnh Long, Trà Vinh, Sa Đéc, Long An …

Trong thời gian này, các cuộc biểu tình của nhân dân diễn ra khắp nơi nhưng bước sang năm

Năm 1931, mặc dù bị đàn áp khủng bố từ chính quyền thực dân, các phong trào tại Nam Kỳ vẫn diễn ra sôi nổi Trong tháng 1, công nhân tại các hãng như Xtanđa – Nhà Bè, Văn Võ Văn - Sài Gòn, sở Xen - Mỹ Tho, và FACM - Sài Gòn đã tổ chức bãi công, mít tinh và biểu tình Đồng thời, nông dân ở các tỉnh như Bến Tre, Trà Vinh, Thủ Dầu Một, và Gia Định cũng đã lên tiếng đòi cải thiện đời sống Từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1931, các cuộc biểu tình của nông dân diễn ra tại Bạc Liêu, Bến Tre, Long Xuyên và Bàu Trai (Đức Hoà).

Từ năm 1931 đến 1934, thực dân Pháp đã tiến hành đàn áp và khủng bố phong trào cách mạng, dẫn đến việc nhiều cán bộ và Đảng viên bị bắt Tuy nhiên, đến cuối năm 1934, tổ chức Đảng được củng cố, phong trào đấu tranh của nông dân nhanh chóng bùng phát Điển hình là các cuộc tấn công của nông dân làng Long Cang vào nhà hội đồng Trương Văn Lý vào tháng 10 năm 1934, nông dân Tân An đấu tranh đòi tăng tiền công gặt và đập lúa vào tháng 1 năm 1935, và cuộc chiến chống lại tên Ký Trân của nông dân quanh Đồng Tháp Mười vào tháng 3 năm 1936 Những cuộc biểu tình này chỉ là một phần nhỏ trong số rất nhiều cuộc đấu tranh của nông dân Nam Kỳ, yêu cầu giảm sưu thuế và bảo vệ quyền lợi của họ trước sự đàn áp của lính Pháp.

Ngoài các cuộc biểu tình của nhân dân Nam Kỳ, công nhân tại các xí nghiệp ở khu vực này cũng đã tổ chức bãi công để đấu tranh cho quyền lợi chính đáng của mình.

Năm 1930, nhiều cuộc đình công lớn diễn ra tại Nam Kỳ, đặc biệt là từ công nhân sở Trường Tiền tại Sài Gòn Họ bãi công để phản đối việc giảm lương từ 8 hào xuống 6 hào một thước đất vào ngày 14/3 Cùng ngày, 500 công nhân ở đề-pô xe lửa Dĩ An cũng phản đối do bữa ăn không đảm bảo và yêu cầu tăng lương Từ 24/4 đến 1/5, công nhân đề-pô xe lửa Dĩ An tiếp tục đấu tranh để yêu cầu chủ nhà máy đáp ứng các yêu sách từ cuộc đình công trước đó, bao gồm làm việc 8 giờ, tăng lương, không bị đánh đập và không bị cúp lương Các công nhân nhà máy rượu Bình Tây và kho xăng Nhà Bè cũng tham gia vào các cuộc bãi công này.

Ngày 1 tháng 8 được coi là ngày Quốc tế đấu tranh chống chiến tranh đế quốc, khi người lao động cùng nhau đấu tranh đòi quyền lợi như tăng lương và giảm giờ làm.

Các cuộc đình công vẫn không ngừng diễn ra trong các năm tiếp theo ở một số tỉnh tại Nam

Vào năm 1932, hơn 100 công nhân tại Bạc Liêu đã tổ chức cuộc đấu tranh kéo dài 20 ngày, yêu cầu tăng lương, cung cấp nước ngọt và thuốc trị sốt rét Đến tháng 2 năm 1933, công nhân đồn điền cao su Dầu Tiếng đã thu hút 2000 người tham gia vào cuộc đấu tranh Năm 1935, công nhân đồn điền cao su Lộc Ninh và công nhân lò gốm ở Lái Thiêu cũng tổ chức đình công để yêu cầu giảm giờ làm và tăng lương Năm 1936, công nhân nhà máy cưa Khánh Hội đình công phản đối việc bị cắt giảm lương Ngoài các cuộc đình công vì quyền lợi kinh tế, còn có những cuộc đình công hưởng ứng ngày Quốc Tế Lao Động và ngày Cách mạng tháng Mười Nga Sang năm 1937, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhiều cuộc đình công đã diễn ra ở Nam Kỳ, như cuộc đình công của công nhân ngành dệt ở Chợ Mới - Long Xuyên và công nhân nhà máy xay lúa ở Rạch Giá.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các cuộc đình công của công nhân tại các nhà máy và xí nghiệp đã ép buộc các chủ sử dụng lao động phải nhượng bộ và ký kết các thỏa thuận về quyền lợi của công nhân.

5 Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, tập 1

Trong giai đoạn này, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Nam Kỳ, bao gồm nông dân và công nhân, đã tổ chức nhiều cuộc mít tinh, biểu tình và đình công nhằm đòi lại quyền lợi kinh tế cho bản thân Các hoạt động này không chỉ phản ánh sự đấu tranh cho quyền lợi mà còn thể hiện sự đoàn kết của công nhân Nam Kỳ với công nhân toàn thế giới, đặc biệt trong dịp Quốc tế Lao động 1/5 Mặc dù đã giành được một số quyền lợi nhất định từ thực dân, nhưng đây chỉ là những bước khởi đầu cho các cuộc đấu tranh mạnh mẽ hơn trong tương lai.

3.1.2 Thành lập các chi bộ cộng sản ở Nam Kỳ

Năm 1929, ba tổ chức cộng sản được thành lập để lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng Sau khi thành lập vào tháng 8-1929, Trung ương lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng đã cử Ngô Gia để xây dựng và phát triển cơ sở của Đảng ở Nam Kỳ.

Tự vào Nam hoạt động.

Tuy 3 tổ chức này đều cùng chung một chủ nghĩa nhưng hoạt động riêng rẽ, không có sự lãnh đạo thống nhất Vì thế, ngày 3-2-1930 đã thống nhất 3 tổ chức trên thành một đảng lấy tên Đảng Cộng sản Việt Nam dưới quyền chủ tọa của Nguyễn Aí Quốc tại Cửu Long-

Hương Cảng Trung Quốc, cử Trịnh Đình Cửu là Tổng bí thư tạm thời.

Hội nghị bầu Ban chấp hành lâm thời của Xứ bộ Nam Kỳ đã chọn Ngô Gia Tự làm Bí thư, đồng thời thực hiện sự thống nhất đến các chi bộ và thành lập Ban Chấp hành lâm thời ở các cấp.

Xứ ủy đảng Cộng sản Nam Kỳ đã lãnh đạo quần chúng trong cuộc đấu tranh có tổ chức, áp dụng đường lối đúng đắn và linh hoạt, tùy thuộc vào tình hình thực tế để đạt được mục tiêu.

Ngay sau đó hoạt đông cách mạng chống Pháp ở Nam Kỳ được đẩy mạnh với nhiều hình thức phong phú đẩy kẻ thù vào thế bị động.

Các nhân vật tiêu biểu

Nguyễn An Ninh là nhà hoạt động cách mạng, trí thức yêu nước nổi tiếng hàng đầu ở Nam kỳ từ những năm 1920 đến 1943

Theo gia phả, ông Đoàn Công Chẩn, quê ở Hưng Yên, là cháu của Đoàn Thị Điểm và đã lãnh đạo phong trào nông dân nhưng bị triều đình xử trảm Sau đó, gia đình ông Chẩn phải bỏ xứ trốn vào Bình Định và đổi họ thành Nguyễn Trong số ba anh em, Đoàn Công Hòa đổi tên thành Nguyễn Chuẩn Trực, sinh hai con là Nguyễn Thị Thắng và Nguyễn An Nghi Ông Nghi kết hôn với bà Dương Thị Hiển và có ba con: Nguyễn Thị Xuyên, Nguyễn An Khương và Nguyễn An Cư Sau khi vào Nam Kỳ, ông Khương mở khách sạn Chiêu Nam Lầu và kết duyên với bà Trương Thị Ngự, sinh ra bốn người con: Nguyễn An Thái.

Nguyễn An Thường, Nguyễn Thị Năng và Nguyễn An Ninh Ba anh chị mất sớm, Nguyễn

An Ninh được xem là con một.

Nguyễn An Ninh, sinh ngày 15-9-1900 tại làng Long Thượng, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn (nay là Long An), là con trai của Nguyễn An Khương, một nhân vật quan trọng trong phong trào Đông du, và bà Trương Thị Ngự, người nổi tiếng về nội trợ và văn hóa Ông lớn lên tại làng Mỹ Hòa, quận Hóc Môn, tỉnh Gia Định (nay thuộc TP.HCM) và theo học tại trường Taberd, Collège Mỹ Tho, và Trường Chasseloup Laubat (nay là trường THPT Lê Quý Đôn) ở Sài Gòn Năm 1915, ở tuổi 15, ông đạt bằng Brevet với thành tích xuất sắc và được nhận làm biên tập viên

Sau nửa năm học, ông quyết định chuyển sang học luật tại Trường Cao đẳng Pháp thuộc Đại học Đông Dương Năm 1918, ông sang Paris, Pháp, và tiếp tục theo học ngành luật tại Đại học Sorbonne Chỉ sau một năm, ông đã hoàn thành chương trình bốn năm và nhận bằng Cử nhân Luật, điều này đã gây ngạc nhiên và thán phục trong giới trí thức.

Nguyễn An Ninh thời trẻ(Ảnh tư liệu)

Luật về trí thông minh "lỗi lạc" rất hiếm gặp Sau hai năm nỗ lực học tập, ông đã hoàn thành chương trình và nhận bằng cử nhân Luật với thành tích xuất sắc.

Bọn thực dân đã chú ý đến Nguyễn An Ninh khi ông từ bỏ ngành Y để theo học ngành Luật Lúc đó, thống đốc Nam Kỳ đã gửi điện về Paris cảnh báo rằng “Chính phủ không cho phép người dân bản xứ (thuộc địa) được vào học các trường đại học ở Pháp”.

An Ninh đã đậu vào đại học Sorbonne với số điểm cao nhất và được cấp học bổng.

Trong thời gian sống tại Paris, ông thường xuyên lui tới Montparnasse, nơi tập trung nhiều văn sĩ nổi tiếng và trào lưu nghệ thuật tiên phong, cũng như khu Saint Germain des Prés, nơi giao lưu của các triết gia và nhà văn hiện sinh Ông thường đọc các tác phẩm thuộc "Triết học ánh sáng" của các triết gia như Voltaire, J J Rousseau, Montesquieu, Diderot, bên cạnh việc nghiên cứu về chủ nghĩa Gandhi, Phật giáo và triết học Mác – Lênin Ông cũng đã tham quan và tiếp cận nhiều danh nhân ở Đức, Ý, Thụy Sĩ, Áo, Hà Lan và Bỉ, từ đó tích lũy kiến thức về Hán học, Tây học, Luật học, Triết học, Văn hóa và Khoa học Mặc dù có ý định lấy bằng Tiến sĩ, ông đã quyết định theo đuổi lý tưởng "đấu tranh" cho Việt Nam, một truyền thống gia đình từ thuở thiếu niên tại Chiêu Nam Lầu.

Năm 1920, khi mới 20 tuổi, ông bắt đầu tham gia hoạt động chính trị tại Pháp, làm phiên dịch và hỗ trợ Phan Châu Trinh gặp Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Albert Sarraut để yêu cầu ân xá cho các chính phạm Việt Nam, mở thêm trường học và tạo điều kiện cho thương gia Việt Nam liên hệ trực tiếp với nước ngoài Ông cũng giúp Nguyễn Ái Quốc luyện tiếng Pháp, cùng nhau đến thư viện đọc sách và tham gia các câu lạc bộ để lắng nghe.

Khi đang chuẩn bị lấy bằng tiến sĩ Luật, Nguyễn An Ninh nhận được thư từ gia đình yêu cầu về nước để coi mắt vợ Là người con hiếu thảo, ông đã trở về theo lời cha Cô dâu được chọn cho ông là Emilie Penne, người Việt gốc Miên, mang quốc tịch Pháp, con gái của đại điền chủ Bang biện Bền ở Sóc Trăng Gia đình cô muốn tìm một chàng rể trí thức, học tập tại Pháp, để nâng cao danh tiếng gia đình Emilie cũng mong muốn có một người chồng như vậy, và ngay khi gặp Nguyễn An Ninh, cô đã ấn tượng mạnh Với tấm bằng tiến sĩ Luật trong tay, ông có khả năng đảm nhận vị trí quan trọng trong ngành tư pháp khi về nước.

Lễ đính hôn giữa ông và Emilie diễn ra nhanh chóng, và chỉ vài ngày sau, Nguyễn An Ninh đã sang Pháp để tiếp tục việc học Bên cạnh việc học tập, ông còn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, đặc biệt là vào năm 1921 khi ông gia nhập Hội Liên hiệp Thuộc địa và tham gia vào cơ quan ngôn luận của Hội, là một tờ báo.

Le Paria cùng với Nguyễn Ái Quốc, tham dự và phát biểu tại những cuộc diễn thuyết do Hội tổ chức và được quần chúng bắt đầu chú ý.

Ông không chỉ biên tập cho báo Le Paria mà còn viết cho các tờ báo tiến bộ như Le Libertaire, đồng thời là một trong những người sáng lập tạp chí Europe, nơi quy tụ nhiều cây bút nổi tiếng của Pháp và vẫn hoạt động cho đến ngày nay Nhóm Ngũ Long, bao gồm các nhân vật như Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn An Ninh, được cộng đồng Việt kiều ở Pháp yêu mến và khâm phục, khiến Bộ Thuộc địa Pháp phải yêu cầu Bộ Nội vụ phối hợp hành động để đối phó với những nhà cách mạng này.

Vào ngày 5/10/1922, sau khi nhận tin về lễ thành hôn, ông trở về nước nhưng đám cưới không diễn ra Ông nổi tiếng với khả năng hùng biện và đã tổ chức nhiều cuộc diễn thuyết tại Hội Khuyến học Nam Kỳ Bài phát biểu "Cao vọng của thanh niên Việt Nam" vào ngày 15/10/1923 được xem như một tuyên ngôn kêu gọi thanh niên và trí thức hành động tích cực Ông cũng chủ trương tờ báo La Cloche Fêlée, sau này đổi tên thành L’Annam Lần đầu trở về từ Pháp, Nguyễn An Ninh đã có buổi ra mắt công chúng tại Hội Khuyến học Nam Kỳ vào tối ngày 25/1/1923, tại số 34, đường Aviateur Garros (nay là đường Thủ khoa Huân).

Ông đã có một cuộc diễn thuyết bằng tiếng Pháp với tiêu đề “Une Culture pour les Annamites” (Một nền văn hóa cho người An Nam), trong đó kêu gọi người dân Việt Nam theo đuổi tri thức Pháp để mở mang trí tuệ và tư tưởng Ông mong muốn xây dựng một dòng giống mạnh mẽ, giúp dân tộc nhanh chóng thoát khỏi ách nô lệ.

Vào tháng 9 năm 1923, Nguyễn An Ninh trở về Việt Nam để chăm sóc cha đang bệnh nặng Ngày 15 tháng 10 cùng năm, ông đã có bài diễn thuyết bằng tiếng Pháp tại Hội Khuyến học Nam Kỳ với tiêu đề “L’idial de la Jeunesse Annamite”, kêu gọi thanh niên và đồng bào tỉnh thức khỏi sự u mê về văn hóa đang bị ảnh hưởng bởi tư tưởng phong kiến lạc hậu Bài diễn thuyết này sau đó được đăng trên tờ La Cloche Fêlée vào tháng 1 năm 1924 Năm 1926, Nguyễn An Ninh đã dịch bài diễn thuyết sang tiếng Việt với tiêu đề “Cao vọng của bọn thanh niên An Nam” và in thành sách nhỏ để phát hành cho nhân dân.

Hai bài diễn thuyết của Nguyễn An Ninh đã tạo ra tiếng vang lớn trong giới thanh niên trí thức Sài Gòn, khiến chính quyền thực dân Pháp khó chịu Thống đốc Nam Kỳ, Cognacp, đã triệu tập ông để thuyết phục hợp tác, nhưng không thành công Thay vào đó, ông bị đe dọa và nhận lệnh cấm diễn thuyết cũng như tụ họp đông người.

Nguyễn An Ninh, không thể diễn thuyết, đã sử dụng báo La Cloche Fêlée như một công cụ đấu tranh Tuy nhiên, do áp lực từ chính quyền thực dân, báo chỉ phát hành được 19 số trước khi bị đình bản vào ngày 14/7/1924.

Về các phong trào tiêu biểu

Từ ngày thực dân Pháp đánh chiếm thành Gia Định cho đến trước năm 1930, nhân dân Nam

Kỳ nổi dậy vũ trang ở Nam Kỳ diễn ra mạnh mẽ chống lại thực dân Pháp, mặc dù bị đàn áp tàn bạo, nhưng tinh thần yêu nước của nhân dân vẫn không ngừng bùng cháy Người dân không chấp nhận ngồi yên trước tình cảnh mất nước, họ liên tục chuyển đổi hình thức đấu tranh Tuy nhiên, các cuộc khởi nghĩa thường nhanh chóng bị dập tắt do thiếu tổ chức, sự phân tán và đường lối chưa rõ ràng Thiếu sự lãnh đạo sáng suốt và một tổ chức chính trị mạnh mẽ, các phong trào này không có lý tưởng chính trị rõ ràng để dẫn dắt hành động.

Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập vào năm 1930, với trách nhiệm lịch sử là dẫn dắt nhân dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập, cuộc kháng chiến của chúng ta mới đạt được thắng lợi cuối cùng Đỉnh cao của cuộc đấu tranh này là sự thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945, đã xóa sổ thực dân Pháp khỏi lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt là khu vực Nam Kỳ.

Giai đoạn 1930-1945, phong trào đấu tranh ở Nam Kỳ diễn ra với nhiều hình thức phong phú, từ biểu tình, bãi công, bãi khóa đến cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, một dấu mốc lịch sử quan trọng của nhân dân Nam Bộ Trong bối cảnh thế giới, phong trào dân chủ Đông Dương (1936-1939) đã được tổ chức, dẫn đến thắng lợi trong cuộc nổi dậy giành chính quyền năm 1945 tại Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đóng vai trò chủ chốt trong việc dẫn dắt và tổ chức phong trào cách mạng, vượt qua nhiều khó khăn Những phong trào đấu tranh theo khuynh hướng cộng sản ở Nam Kỳ không chỉ là trang sử hào hùng của nhân dân Nam Bộ mà còn là niềm tự hào của toàn thể người Việt Nam.

Về các nhân vật tiêu biểu

Các phong trào đấu tranh ở Nam Kỳ trong giai đoạn 1930 – 1945 đã đạt được những thành công nhất định nhờ vào sự cống hiến của những chiến sĩ kiên trung, những người dũng cảm và tận tụy vì lý tưởng độc lập dân tộc Họ đã sống và chiến đấu trên mảnh đất Nam Kỳ, nơi có truyền thống đấu tranh bất khuất chống thực dân Pháp Những đóng góp của họ là vô giá trong cuộc chiến giành lại độc lập cho dân tộc.

An Ninh, biểu tượng của lý tưởng nhân dân An Nam, là một nhà diễn thuyết tài ba và là tượng đài của nhân dân Nam Bộ với câu nói "mạng ấy yểu mà danh ấy thọ" Cặp vợ chồng cách mạng Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai, thầy giáo cách mạng Châu Văn Liêm, cùng giáo sư Trần Văn Giàu - một trí thức và nhà cách mạng lỗi lạc của Nam Bộ và cả dân tộc, cùng với các nhân vật như Hà Huy Giáp, Ung Văn Khiêm, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo và Nguyễn Văn Trân, đã đóng góp quan trọng vào sự nghiệp cách mạng.

Những chiến sĩ cộng sản kiên cường và bất khuất đã chịu đựng nhiều cực hình, nhưng vẫn giữ vững nhiệt huyết cách mạng, trở thành niềm tự hào và tấm gương cho thế hệ sau Mảnh đất Nam Bộ, với truyền thống kháng Pháp, đã nuôi dưỡng và rèn luyện những nhân cách cộng sản cao đẹp, góp phần viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc Họ là những yếu tố quyết định cho thắng lợi của cách mạng tháng Tám và là nguồn cảm hứng bất diệt, ngọn lửa cách mạng luôn cháy bỏng trong lòng mỗi người, dẫn dắt dân tộc giành chiến thắng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

KẾT LUẬN

Đề tài “Một số phong trào và nhân vật cộng sản ở Nam Kỳ giai đoạn 1930-1945” cung cấp cái nhìn tổng quát về giai đoạn lịch sử đầy biến động này tại Nam Kỳ Những năm 1930, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã tác động mạnh mẽ đến vùng đất thuộc địa, đồng thời đánh dấu sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm thay đổi sâu sắc đời sống chính trị, xã hội và tư tưởng ở Đông Dương, đặc biệt là tại Nam Kỳ Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhiều phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản đã diễn ra sôi nổi, góp phần quan trọng vào Cách mạng tháng Tám Giai đoạn này cũng chứng kiến sự cống hiến của nhiều chiến sĩ cộng sản yêu nước, những người đã vượt qua gian lao để phấn đấu cho sự nghiệp dân tộc, thể hiện rõ nét qua hoạt động cách mạng tại Nam Kỳ Tất cả những biến động này đều được phản ánh chân thực trong bối cảnh lịch sử giai đoạn 1930-1945.

28 Nguyên Hùng, Nam Bộ những nhân vật lịch sử, NXB Công an nhân dân, tr.8

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyên Hùng (2015), Nam Bộ - những nhân vật lịch sử, NXB Công an nhân dân,

2 TS Phạm Thị Huệ (2013), Phong trào dân tộc dân chủ ở Nam Kỳ 1930-1945, Nghiên cứu qua tài liệu lưu trữ (Sách chuyên khảo), NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

3 GS – TSKH Phan Đăng Nhật (2018), Phan Đăng Lưu – Thân thế sự nghệp và sưu tập tác phẩm, NXB Tri Thức, Hà Nội.

4 Nhiều tác giả (2002), Nguyễn Văn Cừ - Nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và cách mạng

Việt Nam (Hồi ký), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

5 Đoản Minh Huấn – Nguyễn Ngọc Hà (2017), Vùng đất Nam Bộ - tập V, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

6 Văn kiện Đảng toàn tập – tập 6, 7 (2000), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

7 Tạ Thị Thuý (2013), Lịch sử Việt Nam – tập 9, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội – Viện Sử học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

8 GS Trương Hữu Quýnh – GS Đinh Xuân Lâm – PGS Lê Mậu Hãn (2015), Đại cương lịch sử Việt Nam – toàn tập, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

9 Trần Giang (1996), Nam Kỳ khởi nghĩa: 23 tháng mười một năm 1940, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

10 Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh (1995), Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam

Thành phố Hồ Chí Minh – Tập 1, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, TPHCM.

11 Ban chấp hành đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, Lịch sử Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh (1930-1975), NXB Tổng hợp TPHCM, TPHCM.

12.Ban Tuyên giáo Trung ương (2010), Lịch sử 80 năm Ngành Tuyên giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2010), NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội.

13 Hà Minh Hồng (1997), Lịch sử Việt Nam cận hiện đại, NXB ĐHQG – TPHCM,

14 Trí thức Nam Bộ (1945-1954), NXB ĐHQG – TPHCM, TPHCM.

15 Trần Văn Giàu: Những năm tháng tôi sống có chất lượng nhất (1940 – 1945), (bản đánh máy), lưu tại Thư phòng nhà riêng của cố GS NGND Trần Văn Giàu, số 245/3 Lý Thường Kiệt, Q.11, TP Hồ Chí Minh.

16 Trần Thị Hồng Nhung (2018), Đồng chí Lê Hồng Phong – tấm gương cộng sản kiên cường tại nhà tù Côn Đảo, Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh, Nghệ An.

17 Nhiều tác giả (2004), Đoàn TNCS HCM - Nhân vật và Sự kiện, NXB Trẻ, TPHCM

18 Đinh Văn Liên – Phạm Ngọc Bích (2005), Hỏi đáp về lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Trẻ, TPHCM

19 Nhiều tác gỉả (2017), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bến Tre (1930-2015), NXB Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội.

20 Nguyễn Thế Anh (2008), Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ, NXB Văn học, TPHCM

21 Chủ tịch Hồ Chí Minh, Báo cáo Chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 11.

22 Nguyễn Đình Tư (2016), Chế độ thực dân Pháp trên đất Nam Kỳ 1859-1954 -Tập 1, NXB Tổng hợp Thành Phố Hồ Chí Minh, TPHCM.

23.Trần Bá Đệ (2001), Lịch Sử Việt Nam từ 1858 đến nay, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,

Ngày đăng: 20/08/2021, 15:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w