Các khái niệm về chính sách tài khóa và tài khoản vãng lai
Chính sách tài khóa
Chính sách tài khóa (CSTK) là hệ thống giải pháp điều chỉnh thu nhập và chi tiêu của chính phủ, nhằm mục tiêu điều tiết vĩ mô nền kinh tế và ổn định ở mức sản lượng mục tiêu (Yp) Trong ngắn hạn, CSTK giúp điều tiết sản lượng thực tế, lạm phát và thất nghiệp để duy trì sự ổn định kinh tế Trong dài hạn, chính sách này điều chỉnh cơ cấu kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Tùy vào thực trạng của nền kinh tế và mục tiêu điều tiết nền kinh tế, chính phủ sẽ sử dụng các chính sách tài khóa khác nhau:
Chính sách tài khóa trung lập đảm bảo rằng chi tiêu của chính phủ (G) hoàn toàn được tài trợ từ nguồn thu thuế (T), dẫn đến việc cân bằng ngân sách Kết quả của chính sách này có ảnh hưởng trung tính đến hoạt động kinh tế, không làm thay đổi mức độ tổng thể của các hoạt động kinh tế.
Chính sách tài khóa mở rộng nhằm tăng cường chi tiêu của chính phủ (G > T) thông qua việc gia tăng chi tiêu hoặc giảm thuế, hoặc kết hợp cả hai Hệ quả của chính sách này là tạo ra thâm hụt ngân sách lớn hơn hoặc giảm thiểu thặng dư ngân sách nếu trước đó ngân sách đã được cân bằng.
Chính sách tài khóa thu hẹp là phương pháp mà chính phủ giảm chi tiêu bằng cách tăng thuế hoặc cắt giảm chi tiêu, hoặc áp dụng cả hai biện pháp Điều này giúp giảm thâm hụt ngân sách hoặc gia tăng thặng dư ngân sách so với trước, hoặc tạo ra thặng dư nếu ngân sách trước đó đã cân bằng.
Công cụ chính để điều tiết nền kinh tế thông qua chính sách tài khóa bao gồm chi tiêu chính phủ (G) và thuế (T) Mục tiêu cốt lõi của chính sách tài khóa là cân bằng mối quan hệ giữa thu ngân sách và chi ngân sách.
Ngân sách Nhà nước bao gồm tất cả các khoản thu và chi của Nhà nước trong dự toán được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, được thực hiện trong một năm nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước theo quy định tại Điều 1, Luật Ngân sách Nhà nước.
1.1.1.3 Tác độ ng c ủ a CSTK đố i v ớ i m ụ c tiêu ổ n đị nh và t ă ng tr ưở ng kinh t ế
John Maynard Keynes, người sáng lập kinh tế vĩ mô, nhấn mạnh vai trò quan trọng của chính sách tài khóa trong việc điều chỉnh kinh tế của Nhà nước.
Lý thuyết Keynes nhấn mạnh việc sử dụng các công cụ chi tiêu chính phủ (G) và thuế (T) để điều chỉnh tổng cầu, từ đó ảnh hưởng đến sản lượng quốc gia và hướng tới sản lượng tiềm năng Để hiểu rõ các tác động của chính sách tài khóa, cần phải phân tích mô hình tác nhân của Keynes một cách sâu sắc.
Tổng cầu AD của nền kinh tế mởđược tạo thành bởi toàn bộ lượng tiền mua hàng hóa và dịch vụ trong nước, không kể hàng nhập khẩu
C = C 0 + C m Y C : tiêu dùng hộ gia đình
I = I o + I m Y + I r m r I : đầu tư khu vực tư nhân
X = X 0 X 0 : hàm xuất khẩu, coi như 1 hằng số
M m : nhập khẩu biên Khi sản lượng cân bằng, ta có Y = AD ( Y = GDP ) Đặt
Số nhân của tổng cầu thể hiện sự thay đổi của sản lượng cân bằng khi tổng cầu thay đổi một đơn vị Cụ thể, khi tổng cầu (AD) thay đổi một lượng ∆AD, sản lượng (Y) sẽ thay đổi theo công thức ∆Y = K.∆AD, trong đó K luôn lớn hơn 1 Điều này cho thấy chỉ cần tăng tổng cầu thêm 1 đơn vị, sản lượng sẽ tăng hơn 1 đơn vị.
Chính sách tài khóa m ở r ộ ng
: số nhân của tổng cầu
Khi tổng cung và tổng cầu của một quốc gia đạt đến sự cân bằng, nền kinh tế sẽ ổn định tại một mức giá và sản lượng nhất định Điểm cân bằng trên đồ thị thị trường được xác định tại điểm E1 (Y1, P1).
Hình 1.1: Đồ th ị cân b ằ ng th ị tr ườ ng (tr ườ ng h ợ p Y 1 < Y p )
Khi nền kinh tế suy thoái và tỷ lệ thất nghiệp cao, sản lượng thực tế giảm dưới mức tiềm năng Để kích thích tăng trưởng và tăng sản lượng quốc gia, chính phủ áp dụng chính sách tài khóa mở rộng bằng cách tăng chi tiêu hoặc giảm thuế Chính sách này có ảnh hưởng đáng kể đến nền kinh tế.
Khi chính phủ thực hiện chính sách tài khóa mở rộng bằng cách tăng chi tiêu một lượng ∆G, tổng cầu của nền kinh tế sẽ tăng tương ứng với ∆AD = ∆G Điều này dẫn đến việc đường tổng cầu dịch chuyển sang phải từ AD1 đến AD2, và trạng thái cân bằng của nền kinh tế chuyển từ E1 sang E2 Kết quả là sản lượng của nền kinh tế tăng từ Y1 lên Y2 với mức tăng ∆Y = K ∆AD.
Nếu chính phủ áp dụng chính sách tài khóa mở rộng bằng cách giảm thuế một lượng ∆T, thu nhập khả dụng của hộ gia đình sẽ tăng tương ứng, dẫn đến tiêu dùng tăng ∆C = Cm.∆T Sự gia tăng tiêu dùng này sẽ làm tổng cầu của nền kinh tế tăng thêm một lượng ∆AD = ∆C, khiến đường tổng cầu dịch chuyển sang phải.
Khi tổng cầu tăng từ AD1 đến AD2, nền kinh tế chuyển từ trạng thái cân bằng E1 sang E2 Sản lượng kinh tế tăng từ Y1 lên Y2, với mức tăng là ∆Y = K ∆AD (Hình 1.2).
Hình 1.2: Đồ thị cân bằng thị trường sau khi thực thi CSTK mở rộng
Chính sách tài khóa mở rộng, thông qua việc tăng chi tiêu chính phủ hoặc cắt giảm thuế, có tác động mạnh mẽ đến sản lượng kinh tế Sự gia tăng tiêu dùng từ chính phủ và giảm thuế kích thích tiêu dùng xã hội, dẫn đến tăng thu nhập Chu trình này lặp đi lặp lại, tạo ra tác động gia tăng liên tục về thu nhập và tiêu dùng, từ đó nâng cao sản lượng Chính phủ thường đầu tư vào các dự án xây dựng trường học, bệnh viện và cơ sở hạ tầng giao thông để tạo vốn cố định cho xã hội Khi chi tiêu của chính phủ tăng lên, nó tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ cho toàn bộ nền kinh tế nhờ quy mô lớn của các khoản chi này.
Chính sách tài khóa th ắ t ch ặ t
Tài khoản vãng lai
Cán cân thanh toán quốc tế là báo cáo thống kê hệ thống của một quốc gia, ghi chép tất cả các giao dịch kinh tế với nước ngoài trong một khoảng thời gian xác định, thường là một năm Mỗi giao dịch được ghi nhận qua phương pháp ghi chép bằng bút toán kép, tức là mỗi giao dịch đều có một khoản ghi nợ và một khoản ghi có Cán cân thanh toán bao gồm hai tài khoản chính: tài khoản vãng lai và tài khoản vốn.
Tài khoản vốn ghi chép các chuyển dịch vốn giữa một quốc gia và phần còn lại của thế giới, phản ánh sự thay đổi trong tài sản dài hạn và ngắn hạn mà quốc gia đó nắm giữ.
Tài khoản vãng lai ghi chép các giao dịch hàng hóa, dịch vụ và thu nhập giữa cư dân trong nước và ngoài nước Đặc điểm chính của tài khoản này là phản ánh các khoản thu và chi mang tính thu nhập, cho thấy sự chuyển giao quyền sở hữu tài sản giữa người cư trú và người không cư trú.
1.1.2.2 Các thành ph ầ n c ủ a tài kho ả n vãng lai
Tài khoản vãng lai đóng vai trò quan trọng trong cán cân thanh toán quốc tế, phản ánh mậu dịch quốc tế của một quốc gia qua hàng hóa, dịch vụ và các khoản chuyển giao Nó bao gồm các thành phần chính như cán cân thương mại hàng hóa, cán cân dịch vụ, cán cân thu nhập và cán cân chuyển giao vãng lai một chiều.
Cán cân thương mại hàng hóa ghi chép các giao dịch xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định, phản ánh sự chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu Xuất khẩu được ghi bên “Có” với dấu “+”, trong khi nhập khẩu ghi bên “Nợ” với dấu “-” Cán cân thương mại hàng hóa có thặng dư khi xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu, tạo ra giá trị dương cho xuất khẩu ròng, và ngược lại, bị thâm hụt khi xuất khẩu nhỏ hơn nhập khẩu, dẫn đến giá trị âm Nhiều yếu tố như tỷ giá, lạm phát, giá cả hàng hóa, thu nhập và chính sách thương mại quốc tế ảnh hưởng đến cán cân thương mại Cán cân thương mại không chỉ tác động đến cán cân thanh toán quốc tế mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến cung, cầu, giá cả hàng hóa và tỷ giá, từ đó tác động đến cung cầu nội tệ và tình hình lạm phát trong nước.
Cán cân dịch vụ bao gồm các khoản thu chi từ các hoạt động như vận tải, tài chính, viễn thông, y tế, giáo dục và các dịch vụ khác Dịch vụ cung ứng cho người không cư trú làm tăng cung ngoại tệ, ghi vào bên “Có” với dấu “+”, trong khi dịch vụ nhận cung ứng phát sinh cầu ngoại tệ ghi vào bên “Nợ” với dấu “-” Tỷ trọng của cán cân dịch vụ trong tổng giá trị cán cân thanh toán quốc tế ngày càng tăng Giá trị dịch vụ xuất nhập khẩu bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như thu nhập, tỷ giá, giá cả dịch vụ, cùng với các yếu tố tâm lý, chính trị và xã hội.
Cán cân thu nhập ghi lại các khoản thu nhập của người lao động như tiền lương, thưởng, thu nhập từ đầu tư và lãi suất của cả cư dân và không cư dân Các khoản thu nhập của cư dân từ người không cư trú sẽ làm tăng cung ngoại tệ, được ghi vào bên “Có” với dấu “+” Ngược lại, các khoản chi trả cho người không cư trú sẽ tạo ra cầu ngoại tệ và được ghi vào bên "Nợ".
“Nợ” với dấu “-” ảnh hưởng đến cán cân thu nhập, bị chi phối bởi quy mô thu nhập, bao gồm mức lương, thưởng, tỷ suất lợi nhuận từ đầu tư và lãi suất, cùng với các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội.
Cán cân chuyển giao vãng lai bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, giá trị quà tặng và các chuyển giao khác bằng tiền và hiện vật cho mục đích tiêu dùng giữa người cư trú và không cư trú Các khoản thu phát sinh từ cung ngoại tệ và cầu nội tệ được ghi vào bên “Có” với dấu “+”, trong khi các khoản chi phát sinh từ cầu ngoại tệ và cung nội tệ được hạch toán vào bên “Nợ” với dấu “-” Quy mô và tình trạng của cán cân chuyển giao vãng lai một chiều chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế, tâm lý, tình cảm, chính trị - xã hội và ngoại giao giữa các quốc gia.
Cán cân thương mại hàng hóa là thành phần quan trọng nhất trong tài khoản vãng lai, tuy nhiên, ở một số quốc gia có tài sản hoặc tiêu sản lớn ở nước ngoài, thu nhập từ cho vay hoặc đầu tư có thể chiếm tỷ lệ lớn Tài khoản vãng lai được thể hiện qua chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư trong nước, với thặng dư xảy ra khi xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu Ngược lại, thâm hụt tài khoản vãng lai xảy ra khi nhập khẩu vượt quá xuất khẩu Mức thâm hụt lớn có thể cho thấy quốc gia gặp khó khăn trong việc tìm nguồn tài chính bền vững cho nhập khẩu và đầu tư Theo IMF, nếu thâm hụt tài khoản vãng lai vượt quá 5% GDP, quốc gia đó được coi là có thâm hụt không lành mạnh.
1.1.2.3 V ị th ế c ủ a tài kho ả n vãng lai v ớ i m ụ c tiêu ổ n đị nh và t ă ng tr ưở ng kinh t ế
Cán cân tài khoản vãng lai, đặc biệt là thâm hụt, là chỉ số vĩ mô quan trọng của nền kinh tế chuyển đổi, phản ánh tỉ lệ tiết kiệm - đầu tư và liên quan đến cán cân tài khoá cùng tiết kiệm tư nhân, quyết định đến tăng trưởng kinh tế Thâm hụt cán cân vãng lai còn cho thấy động thái tỉ giá và tính cạnh tranh của nền kinh tế, ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ giá, lãi suất, tăng trưởng kinh tế và lạm phát Đồng thời, tài khoản vãng lai đo lường quy mô và chiều hướng vay mượn quốc tế, cũng như mức độ tham gia vào nền kinh tế toàn cầu Khi một quốc gia nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu, việc tài trợ cho thâm hụt tài khoản vãng lai trở thành vấn đề cần giải quyết, thông qua vay mượn từ nước ngoài hoặc giảm tài sản nước ngoài ròng.
Nhìn vào con số nhập siêu và thâm hụt tài khoản vãng lai không thể đưa ra câu trả lời rõ ràng, vì điều này phụ thuộc vào tình hình kinh tế vĩ mô và tài khoản vốn Việc nhập siêu và thâm hụt tài khoản vãng lai không hoàn toàn xấu hay tốt Theo Roubini và Wachel, thâm hụt cán cân vãng lai trong các nền kinh tế chuyển đổi có thể phản ánh khả năng phát triển tích cực của nền kinh tế đang tăng trưởng, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng kinh tế nếu thâm hụt kéo dài.
Thâm hụt cán cân vãng lai tương ứng với sự chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư trong nền kinh tế (CA=S-I), do đó, nó có thể phản ánh sức mạnh của nền kinh tế đang phát triển Khi thâm hụt tài khoản vãng lai xảy ra, điều này có thể cho thấy sự phát triển tích cực của nền kinh tế, đặc biệt khi có nhiều nguồn vốn từ nước ngoài đổ vào để bù đắp khoảng cách giữa tiết kiệm và nhu cầu đầu tư trong nước.
Thâm hụt cán cân vãng lai cho thấy thành công trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đồng thời thu hút vốn đầu tư nước ngoài và mở ra cơ hội tăng trưởng kinh tế nhanh chóng.
Mức chênh lệch âm giữa tiết kiệm và đầu tư do thâm hụt tài khoản vãng lai kéo dài có thể gây tổn thương cho khu vực kinh tế đối ngoại nếu không có nguồn ngoại tệ bù đắp Khi thâm hụt tài khoản vãng lai quá lớn dẫn đến khủng hoảng cán cân thanh toán và mất giá đồng tiền, nguy cơ cho nền kinh tế gia tăng Cơn sốc kinh tế đối ngoại có thể xảy ra dưới hai hình thức: khủng hoảng tiền tệ với sự giảm giá mạnh đồng nội tệ hoặc khủng hoảng nợ nước ngoài do không có khả năng trả nợ Thâm hụt cán cân vãng lai phản ánh sự quản lý kém trong quá trình chuyển đổi, thể hiện mất cân đối nghiêm trọng và tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng tiền tệ Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nếu không có biện pháp như tăng lãi suất hay cắt giảm chi tiêu, nền kinh tế sẽ đối mặt với nguy cơ khủng hoảng tiền tệ, như trong trường hợp khủng hoảng tiền tệ của Thái Lan.
Quan hệ giữa chính sách tài khóa và tài khoản vãng lai
Mô hình bi ể u th ị tác độ ng c ủ a chính sách tài khóa đế n tài kho ả n vãng
Các phương pháp tiếp cận khác nhau đã giải thích các nhân tố tác động đến cán cân tài khoản vãng lai của một quốc gia, từ các mô hình như Mundell-Fleming đến các trường phái chi tiêu và tiền tệ, đều phân tích dựa trên dòng thương mại Sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ vào cuối những năm 1970, các nhà kinh tế học đã tập trung nghiên cứu sâu sắc các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân tài khoản vãng lai, khi mà mất cân đối trở nên nghiêm trọng Phương pháp tiếp cận các nhân tố ngắn hạn xuất hiện từ những năm 1980 cho thấy hiệu quả, dựa trên hai cơ sở chính: cán cân tài khoản vãng lai là hiệu số giữa tiết kiệm và đầu tư, và các quyết định đầu tư phụ thuộc vào các yếu tố ngắn hạn như lãi suất, tỷ giá, thu nhập, tăng trưởng kinh tế và biến động giá cả.
Để nghiên cứu tác động của chính sách tài khóa đến cán cân tài khoản vãng lai của Việt Nam trong những năm qua, chúng tôi đã xây dựng mô hình khảo sát mối liên hệ này thông qua phương trình hồi quy tuyến tính, tập trung vào các nhân tố liên quan đến sự biến động của tài khoản vãng lai.
- Chính sách tài khóa: đo lường bằng thâm hụt ngân sách
- Đầu tư khu vực tư nhân : đo lường bằng tỷ lệ trên GDP
- Tỷ giá hối đoái thực
Chính sách tài khóa là công cụ quan trọng mà hầu hết các quốc gia áp dụng để điều chỉnh chu kỳ kinh tế, nhằm giảm thiểu sự biến động của tổng chi tiêu và ổn định hóa nền kinh tế.
Chính sách tài khóa ảnh hưởng đến GDP thực thông qua việc điều chỉnh chi tiêu của Chính phủ và thuế Sự thay đổi này, qua hiệu ứng số nhân, có khả năng tác động sâu rộng đến nền kinh tế.
Ngày nay, hầu hết các quốc gia đều tham gia vào giao thương quốc tế, vì vậy chính sách tài khóa ảnh hưởng sâu rộng đến nền kinh tế, bao gồm cả ngoại thương, thông qua tác động đến tài khoản vãng lai và tỷ giá hối đoái.
Trong giai đoạn suy giảm kinh tế, chính sách tài khóa đóng vai trò quan trọng trong việc kích cầu nền kinh tế Khi kết hợp với chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa giúp đất nước thoát khỏi suy thoái một cách nhanh chóng và bền vững, tạo thêm việc làm và gia tăng sản lượng, từ đó góp phần ổn định kinh tế.
NHỮNG BẰNG CHỨNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA ĐẾN TÀI KHOẢN VÃNG
Thực trạng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990 – 2010
Năm 1986, Việt Nam khởi đầu chính sách Đổi mới với ba chiến lược chủ yếu: chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, phát triển nền kinh tế đa thành phần với vai trò ngày càng quan trọng của khu vực dân doanh, và chủ động hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu một cách hiệu quả, phù hợp với thực tiễn.
Sau hơn 20 năm từ Đại hội Đảng VI năm 1986, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới, với nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng cao liên tục Việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã tạo cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn vào kinh tế toàn cầu, từ đó tận dụng các nguồn lực bên ngoài để thúc đẩy công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Chính phủ đang nỗ lực xóa bỏ cơ chế tập trung và bao cấp, đồng thời nhấn mạnh mối quan hệ hàng hóa - tiền tệ Các biện pháp quản lý kinh tế được tập trung thực hiện, dẫn đến việc thành lập nhiều tổ chức tài chính và ngân hàng, cùng với việc hình thành các thị trường cơ bản như thị trường tiền tệ, lao động, hàng hóa và đất đai Cải cách hành chính được đẩy mạnh nhằm nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn và phát huy mọi nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế, đồng thời xây dựng một thể chế năng động để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.
Những cải cách kinh tế mạnh mẽ đã giúp Việt Nam đạt được những thành tựu đáng khích lệ, tạo ra một môi trường kinh tế thị trường cạnh tranh và năng động Quan hệ kinh tế đối ngoại trở nên thông thoáng hơn, thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, mở rộng thị trường xuất khẩu và phát triển các lĩnh vực như du lịch, xuất khẩu lao động và kiều hối, từ đó gia tăng nguồn thu ngoại tệ.
Trong hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu kinh tế ấn tượng, với GDP tăng từ 7,79 tỷ USD năm 1990 lên 92,5 tỷ USD năm 2010 Từ 1986 đến 1990, GDP tăng trưởng trung bình 4,4% mỗi năm, và từ 1991, nền kinh tế đã phục hồi và bắt đầu tăng trưởng mạnh mẽ, liên tục và toàn diện Tuy nhiên, tăng trưởng chủ yếu dựa vào số lượng, với 57,5% do vốn đầu tư, 20% từ lao động, trong khi chất lượng tăng trưởng vẫn còn thấp, chỉ có 22,5% từ các yếu tố khác.
Từ năm 1990 đến 2010, cơ cấu kinh tế Việt Nam đã có sự chuyển biến mạnh mẽ, với tỷ trọng khu vực nông-lâm-ngư nghiệp giảm từ 38,7% xuống dưới 20% GDP Ngược lại, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng mạnh từ 22,7% lên 41,1% Trong khi đó, tỷ trọng khu vực dịch vụ gần như không thay đổi, duy trì ở mức 38,6% năm 1990 và 38,3% năm 2010 Đặc biệt, trong ngành công nghiệp, tỷ trọng ngành chế biến tăng lên, cùng với việc nâng cao chất lượng sản phẩm Khu vực dịch vụ cũng chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng tỷ trọng của các ngành chất lượng cao như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và du lịch.
Bảng 3.1: Tăng trưởng GPD và cơ cấu kinh tế 2005 – 2010
Tỷ trọng trong GDP % 100 100 100 100 100 100 Nông - Lâm - Thủy sản % 20,9 20,5 20,3 22,2 20,9 20,6
Riêng công nghiệp chế biến % 20,6 21,3 21,3 21,2 21 19,7
Nguồn: Tổng cục thống kê
Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng quan hệ với các nước và tổ chức toàn cầu Là thành viên quan trọng của ASEAN, Việt Nam tích cực thực hiện cam kết trong khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và tham gia nhiều tổ chức như APEC, ASEM Hợp tác kinh tế với các nền kinh tế lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc và Ấn Độ ngày càng được củng cố Việt Nam đã ký hiệp định thương mại với Mỹ, đang đàm phán hiệp định đầu tư và Hiệp định khung Đối tác và Hợp tác toàn diện (PCA) với EU, cũng như hiệp định đối tác kinh tế với Nhật Bản.
Năm 2007, Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thiết lập quan hệ với hơn 220 quốc gia và vùng lãnh thổ, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong việc hội nhập toàn diện vào nền kinh tế toàn cầu.
Kể từ sau đổi mới, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã tăng trưởng mạnh mẽ, với mức tăng trung bình khoảng 20% mỗi năm Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đã tăng từ 2,4 tỷ USD năm 1990 lên gần 14,5 tỷ USD năm 2000, đạt trên 32 tỷ USD năm 2005 và lên tới 104,6 tỷ USD vào năm 2010 Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu so với GDP cũng tăng nhanh từ 30,8% năm 1990 lên 55% năm 2000 và đạt 80% vào năm 2010, đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN và thứ 8 trên thế giới Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu đã có sự chuyển dịch tích cực, từ các sản phẩm chủ lực như dầu thô, thủy sản, gạo, dệt may, cà phê, lâm sản, cao su, đến năm 2010, các mặt hàng chính bao gồm dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản, sản phẩm gỗ, điện tử và máy tính Sự chuyển dịch này phản ánh xu hướng gia tăng các sản phẩm chế biến và giảm tỷ trọng hàng xuất khẩu thô Tuy nhiên, tỷ trọng hàng xuất khẩu thô vẫn còn cao, đòi hỏi nỗ lực để tăng cường xuất khẩu hàng công nghiệp.
Bảng 3.2: Tăng trưởng xuất nhập khẩu qua hàng năm, 2005 - 2010
Chỉ tiêu Đơn vị 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Xuất khẩu % 22,51 22,74 21,93 29,08 -8,92 25,44
Tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu Hàng thô % 49,10 47,87 44,18 43,72 45,73 45,15
Hàng chế biến hoặc đã tinh chế % 50,36 51,70 55,37 55,24 53,54 54,68
Tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu Hàng thô % 24,33 24,69 23,52 25,85 28,66 28,35
Hàng chế biến hoặc đã tinh chế % 72,45 70,24 73,33 69,65 67,18 67,31
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, được ban hành vào tháng 12/1987 và sửa đổi vào các năm 1996 và 2002, đã tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi hơn, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài Các sửa đổi này tập trung vào việc thu hút đầu tư vào các mục tiêu trọng điểm và lĩnh vực ưu tiên, đặc biệt trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo phục vụ xuất khẩu và các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã thu hút một lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng tăng, từ mức gần như bằng không vào năm trước đó Sự gia tăng này cho thấy tiềm năng phát triển kinh tế mạnh mẽ của đất nước, đồng thời cũng phản ánh niềm tin của các nhà đầu tư quốc tế vào môi trường kinh doanh tại Việt Nam.
Từ năm 1986 đến năm 2008, vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam đã tăng lên 64 tỷ USD Đến ngày 21/12/2010, cả nước có 12,2 nghìn dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký đạt 192,9 tỷ USD.
Bảng 3.3: Cơ cấu vốn đầu tư xã hội theo sở hữu năm 2005 - 2010
Khu vực nhà nước % 47,1 45,7 37,2 28,5 37,2 38,1 Khu vực ngoài nhà nước % 38,0 38,1 38,5 40,0 38,5 36,1 Khu vực có vốn FDI % 14,9 16,2 24,3 31,5 24,3 25,8
Nguồn: Tổng cục thống kê
Khu vực FDI đã và đang đóng góp ngày càng tích cực hơn cho nền kinh tế
Tỷ trọng của khu vực này trong GDP tăng từ 13,3% năm 2000 lên 17,1% năm
Từ năm 2000 đến 2010, tỷ trọng khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong tổng kim ngạch xuất khẩu (không tính xuất khẩu dầu thô) đã có sự gia tăng đáng kể Cụ thể, tỷ lệ này tăng từ 22,2% năm 2000 lên 36,9% năm 2006 và 39,7% năm 2007.
2008 giảm nhẹ xuống còn 38,8% và đến năm 2010 đạt mức 47,3%.
FDI không chỉ hứa hẹn lợi nhuận cao cho nhà đầu tư nước ngoài mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung nguồn vốn, chuyển giao công nghệ và phương thức kinh doanh hiện đại Nó giúp khai thác tiềm năng của đất nước, đào tạo tay nghề và giải quyết việc làm cho hàng trăm nghìn lao động, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
Việt Nam tăng trưởng nhanh chóng nhờ vào nhiều yếu tố quan trọng như sự ổn định chính trị, kinh tế, an ninh và quốc phòng Nền kinh tế Việt Nam liên tục ghi nhận mức tăng trưởng cao, trong khi công cuộc đổi mới kinh tế theo cơ chế thị trường được duy trì và thúc đẩy mạnh mẽ Mức sống của người dân ngày càng được nâng cao, góp phần làm tăng cầu nội địa Đồng thời, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy mạnh, nâng cao uy tín và thương hiệu hàng hóa sản xuất tại Việt Nam trên thị trường toàn cầu.
Nhìn chung, quá trình tăng trưởng kinh tế Việt nam có thể chia thành các giai đoạn sau:
Giai đoạn tăng trưởng cao (1991 - 1996): Việt Nam đạt mức tăng trưởng bình quân trên 8%/năm và đạt mức cao nhất vào năm 1995 với tốc độ tăng trưởng là 9,5%
Thực trạng tài khoản vãng lai tại Việt Nam giai đoạn 1990 – 2010
Tài khoản vãng lai của Việt Nam đã liên tục thâm hụt trong nhiều năm, ngoại trừ giai đoạn 1999-2001, với mức thâm hụt nghiêm trọng nhất vào năm 1994, đạt hơn 11% GDP Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam cần đầu tư lớn để thúc đẩy công nghiệp hóa, nhưng do xuất phát điểm và thu nhập thấp, tổng tiết kiệm trong nước không đủ để bù đắp cho tổng đầu tư quốc gia Để khắc phục thâm hụt này, Việt Nam cần vay nước ngoài từ 4% đến 7% GDP mỗi năm Sự thiếu hụt giữa tiết kiệm và đầu tư đã dẫn đến thâm hụt tài khoản vãng lai kéo dài và là một trong những nguyên nhân chính khiến nợ công của Việt Nam cao hơn so với nhiều nước trong khu vực.
Hình 3.3: Thâm h ụ t tài kho ả n vãng lai Vi ệ t Nam (1990 – 2010) (tỷ lệ phần trăm thâm hụt tài khoản vãng lai so với GDP)
Thâm hụt TK vãng lai (% so với GDP)
Nguồn: Tổng cục thống kê, IMF
Cán cân vãng lai của Việt Nam chủ yếu bao gồm cán cân thương mại hàng hóa và cán cân chuyển khoản, trong khi cán cân dịch vụ và cán cân thu nhập tương đối nhỏ Thâm hụt tài khoản vãng lai của Việt Nam trong những năm qua chủ yếu do thâm hụt cán cân thương mại hàng hóa, xảy ra do nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị và đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng tăng cao, trong khi năng lực sản xuất hàng hóa dịch vụ xuất khẩu còn hạn chế.
Hình 3.4: Cán cân tài kho ả n vãng lai Vi ệ t Nam và các c ấ u thành giai đ o ạ n 1990 – 2010
Cán cân thương mại hàng hóa Cán cân dịch vụ Cán cân chuyển giao vãng lai Cán cân thu nhập Cán cân tài khoản vãng lai
Nguồn: Tổng cục thống kê, IMF
Biểu đồ (Hình 3.4) minh họa rằng tỷ trọng đóng góp từ cán cân chuyển giao vãng lai của Việt Nam không cao, nhưng thặng dư của cán cân này đang có xu hướng tăng dần trong những năm gần đây, với mức thặng dư trung bình hàng năm gia tăng.
Từ năm 2006 đến 2010, Việt Nam ghi nhận mức thâm hụt cán cân vãng lai khoảng 6,6 tỷ USD/năm, chủ yếu do kiều hối từ nước ngoài và nguồn vốn ODA cùng FDI Vốn vay ODA chiếm từ 70-75% tổng nợ nước ngoài của Chính phủ Cán cân thương mại, dịch vụ và thu nhập đầu tư đều có tác động tiêu cực đến cán cân vãng lai, với cán cân dịch vụ thiếu hụt 500 - 800 triệu USD từ năm 2000 đến nay Cán cân thu nhập đã chuyển từ mức âm 300 - 500 triệu USD (1990 - 2000) lên 2.345 triệu USD vào năm 1999, với thâm hụt trung bình khoảng 1.200 triệu USD từ 2006 đến nay Mặc dù tác động của hai yếu tố này đến thâm hụt cán cân vãng lai đã giảm từ 70% (1995 - 2000) xuống 42% (2006 - 2010), nhưng thâm hụt thương mại lại gia tăng, từ 4,5% GDP (1995 - 2006) lên 14,3% GDP trong những năm gần đây.
Từ năm 2007 đến 2010, cán cân vãng lai của Việt Nam chủ yếu bị ảnh hưởng bởi tình trạng cán cân thương mại Giao dịch hàng hóa đóng góp một tỷ trọng lớn, chiếm khoảng 70% trong tổng thu và chi của tài khoản vãng lai.
Thâm hụt thương mại chiếm 85% trong thâm hụt cán cân vãng lai, đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá khả năng chịu đựng của nền kinh tế Đây là một điểm yếu chủ chốt, góp phần tạo ra những rủi ro đối với sự ổn định kinh tế trong dài hạn.
Hiện tượng thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai của Việt Nam trong những năm gần đây có thể xuất phát từ sự sụt giảm trong tiết kiệm tư nhân, sự gia tăng trong đầu tư, hoặc do thâm hụt ngân sách.
Trong giai đoạn 1990 – 1992, cán cân tài khoản vãng lai ghi nhận sự nhỏ bé, do các giao dịch bị thu hẹp trước tình hình sụp đổ của các nước Đông Âu Đến năm 1992, cán cân tài khoản vãng lai đã chuyển từ thâm hụt sang trạng thái cân bằng Đồng thời, thâm hụt ngân sách cũng có dấu hiệu giảm, nhưng với tốc độ chậm hơn so với sự cải thiện của thâm hụt tài khoản vãng lai.
Trong giai đoạn 1990 – 1992, chính phủ đã thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt nhằm kiểm soát lạm phát phi mã từ 1986 đến 1989, khi tỷ lệ lạm phát đạt mức ba chữ số Các biện pháp quản lý chặt chẽ đối với các khoản giao dịch vãng lai và đầu tư đã dẫn đến sự giảm tỷ lệ đầu tư, đồng thời cải thiện kim ngạch xuất nhập khẩu ròng Nhờ đó, nền kinh tế đã ổn định và khắc phục được khủng hoảng, kiểm soát lạm phát ở mức hai con số.
Hình 3.5: Thâm h ụ t tài kho ả n vãng lai, thâm h ụ t ngân sách, đầ u t ư khu v ự c t ư nhân Vi ệ t Nam giai đ o ạ n 1990 - 2010
Thâm hụt ngân sách (% so với GDP) Thâm hụt TK vãng lai (% so với GDP) Đầu tư tư nhân/GDP (% so với GDP)
Nguồn: Tổng cục thống kê, IMF
Từ năm 1993 đến 1997, Việt Nam trải qua hiện tượng thâm hụt tài khoản vãng lai liên tục, đạt mức cao đáng báo động, với thâm hụt lên tới 9,9% GDP vào năm 1996 Trung bình hàng năm, thâm hụt tài khoản vãng lai đạt 9% so với GDP, trong khi chính phủ kiểm soát chi tiêu và tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, với 63% tổng chi ngân sách dành cho lĩnh vực này Sự gia tăng nhu cầu nhập khẩu, chủ yếu là thiết bị và nguyên vật liệu, dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại trung bình trên 2 tỷ USD/năm Tỷ lệ đầu tư trên GDP đạt 30% mỗi năm, trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế cao với GDP trung bình tăng 8,8% và lạm phát được kiểm soát ở mức 8,32%, giảm xuống còn 5,8% vào năm 1997.
Từ năm 1998 đến 2001, Việt Nam chịu tác động nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á, dẫn đến sự giảm sút trong xuất nhập khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Sự sụt giảm trong số lượng và mức giải ngân các dự án FDI kéo theo việc nhập khẩu máy móc thiết bị cũng giảm Trong bối cảnh này, chính phủ đã triển khai nhiều biện pháp nhằm thúc đẩy kinh tế, kiểm soát nhập khẩu và kích thích xuất khẩu, giúp cải thiện tài khoản vãng lai sau thời gian dài thâm hụt Từ năm 1999 đến 2001, cán cân tài khoản vãng lai của Việt Nam ghi nhận thặng dư nhỏ khoảng 2% đến 4% Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng GDP chỉ đạt 6%/năm trong giai đoạn này, trong khi lạm phát được kiểm soát với mức trung bình 6,3%.
Trong giai đoạn 2002-2004, thâm hụt ngân sách chính phủ của Việt Nam gia tăng, trong khi tài khoản vãng lai tiếp tục thâm hụt, đạt đỉnh 4.9% GDP vào năm 2003 Tăng trưởng xuất khẩu không đủ bù đắp cho sự gia tăng mạnh mẽ của nhập khẩu, do VND nhẹ lên giá trong khi các đồng tiền khác ở các nước đang phát triển bị phá giá Nhu cầu đầu tư toàn xã hội tăng trung bình 35%/năm so với GDP, trong khi tỷ lệ tiết kiệm giảm, dẫn đến chênh lệch âm 3,7% giữa tiết kiệm và đầu tư Chính sách tài khóa mở rộng với việc giảm thuế GTGT và thuế nhập khẩu trong khu vực ASEAN đã giúp cải thiện tình hình ngân sách, nhưng thâm hụt tài khoản vãng lai gia tăng nhanh chóng do kim ngạch nhập khẩu, đặc biệt là máy móc thiết bị, tăng 20%/năm Mặc dù tỷ lệ lạm phát ở mức 7,5%, GDP vẫn tăng trưởng mạnh mẽ với mức trung bình 7,4%/năm.
Từ năm 2005 đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã mở rộng và hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu, dẫn đến nhu cầu nhập khẩu gia tăng nhanh chóng hơn so với vốn và hàng hóa trung gian Kim ngạch nhập khẩu đã tăng từ 36,76 tỷ USD vào năm 2005.
84 tỷ USD (năm 2010) trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 32,45 tỷ USD (năm
Từ năm 2005 đến năm 2010, thâm hụt thương mại gia tăng, đạt 71,6 tỷ USD vào năm 2010, dẫn đến mức thâm hụt cán cân vãng lai kỷ lục 11,92% so với GDP vào năm 2008 Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ năm 2008 cũng đã ảnh hưởng đáng kể đến tình hình kinh tế.
Năm 2007, dòng vốn đầu tư vào Việt Nam đã giảm mạnh, dẫn đến hiện tượng thâm hụt kép trên tài khoản vãng lai và tài khoản tài chính Trong giai đoạn hội nhập, nhu cầu đầu tư tăng cao với tỷ lệ đạt 40% GDP/năm, trong khi chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư thiếu hụt 9,4%/năm Nhu cầu nhập khẩu, đặc biệt là máy móc, thiết bị và nguyên liệu phục vụ xuất khẩu và xây dựng cơ sở hạ tầng, đã tăng nhanh, với tỷ trọng nhóm hàng này chiếm 70-80% tổng kim ngạch nhập khẩu Mức thâm hụt tài khoản vãng lai so với GDP đạt khoảng 6,29%/năm, cao nhất trong hơn 10 năm qua và vượt mức chuẩn mực quốc tế 5% GDP, đồng thời cán cân thương mại cũng ở mức 14-15% so với GDP, cao hơn mức chuẩn 10% Những thâm hụt này sẽ ảnh hưởng đến khả năng bền vững của nền kinh tế và tạo áp lực giảm giá đồng nội tệ.
Nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa chính sách tài khóa đến tài khoản vãng lai của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2010
Trong giai đoạn 2000 – 2010, khoản vãng lai của Việt Nam cho thấy mối quan hệ chặt chẽ với cán cân ngân sách Để củng cố hiểu biết về mối liên hệ này, chúng tôi tiến hành phân tích định lượng thông qua khảo sát thực nghiệm, nhằm đánh giá tác động của chính sách tài khóa đến tài khoản vãng lai Kết quả cho thấy chính sách tài khóa có ảnh hưởng đáng kể đến tình hình tài chính của Việt Nam trong giai đoạn này.
Từ lý thuyết kinh tế đến thực tiễn nghiên cứu cụ thể đã được công bố, bài viết sẽ phân tích thực trạng diễn biến của chính sách tài khóa và cán cân tài khoản vãng lai.
Từ năm 1990, chính sách tài khóa của Việt Nam đã có ảnh hưởng rõ rệt đến tình trạng cân bằng của cán cân tài khoản vãng lai Tuy nhiên, không chỉ chính sách tài khóa mà còn nhiều biến số kinh tế khác cũng tác động đến tài khoản vãng lai, cho thấy sự phức tạp trong mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế.
Theo quan điểm của phương pháp tiếp cận các nhân tố ngắn hạn tác động đến tài khoản vãng lai từ những năm 1980, Feldstein (1992, 1994) cho rằng cán cân tài khoản vãng lai là hiệu số giữa tiết kiệm và đầu tư Sự sụt giảm trong tổng tiết kiệm quốc gia sẽ dẫn đến sự giảm sút trong tổng đầu tư và xuất khẩu ròng Tổng tiết kiệm quốc gia được xác định bởi sự chênh lệch giữa tiết kiệm khu vực tư nhân và thâm hụt ngân sách; do đó, nếu thâm hụt ngân sách gia tăng mà không có sự bù đắp từ tiết kiệm khu vực tư nhân, tổng tiết kiệm quốc gia sẽ giảm Hệ quả là, đầu tư khu vực tư nhân hoặc xuất khẩu ròng sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực Sự giảm sút trong tiết kiệm thường được bù đắp bởi việc vay mượn từ nước ngoài hoặc các dòng vốn nước ngoài vào nền kinh tế.
Feldstein và Horioka (1980) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ lệ tiết kiệm và tỷ lệ đầu tư trong các nền kinh tế nhỏ, mở Họ cho rằng nếu vốn được luân chuyển hoàn hảo, thì nguồn vốn từ bên ngoài sẽ hoàn toàn co giãn theo tỷ suất lợi nhuận quốc tế, dẫn đến việc sự thay đổi trong tiết kiệm trong nước không ảnh hưởng đến đầu tư Tuy nhiên, nghiên cứu thực nghiệm với dữ liệu của 16 quốc gia OECD từ năm 1960 - 1974 đã bác bỏ giả thuyết này, cho thấy tỷ lệ tiết kiệm có tác động đáng kể đến tỷ lệ đầu tư Kết quả này có thể áp dụng cho nền kinh tế Việt Nam, mặc dù mối tương quan giữa tỷ lệ đầu tư và tiết kiệm còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác như sự vận hành của cán cân tài khoản vãng lai và tài khoản vốn, cũng như biến động tỷ giá hối đoái (Devereux 1996).
Chúng tôi đã tiến hành phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân tài khoản vãng lai, bao gồm thâm hụt ngân sách, tỷ lệ đầu tư và tỷ giá hối đoái, thông qua một phương trình hồi quy.
CAD là chỉ số đo lường thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai, được thể hiện bằng tỷ lệ phần trăm so với GDP Một giá trị dương cho thấy thâm hụt trong tài khoản vãng lai, trong khi giá trị âm cho thấy thặng dư Đây là biến phụ thuộc quan trọng trong phân tích kinh tế.
FDP là thâm hụt ngân sách được đo lường bằng tỷ lệ phần trăm so với GDP; giá trị dương cho thấy thâm hụt ngân sách, trong khi giá trị âm biểu thị thặng dư ngân sách Đây là một biến độc lập quan trọng trong phân tích tài chính.
INV : Tỷ lệ đầu tư tư nhân đo lường bằng tỷ lệ % đầu tư tư nhân so với GDP – Biến độc lập
LREER : Tỷ giá hối đoái đo lường bằng logarit cơ số tự nhiên của tỷ giá hối đoái thực – Biến độc lập
Dữ liệu sử dụng đểước lượng mô hình là chuỗi thời gian được thu thập theo quý từ quý 4 năm 1999 đến quý 4 năm 2010
Dữ liệu về thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai được thu thập từ các báo cáo quốc gia của IMF, cụ thể là các "IFM Country Report" từ năm 1998 đến 2010.
Dữ liệu về thâm hụt ngân sách được thu thập từ các báo cáo quyết toán Ngân sách Nhà nước do Bộ Tài Chính Việt Nam công bố hàng năm.
Tỷ lệ thâm hụt ngân sách được lấy theo cách tính của Việt Nam
Tỷ lệ đầu tư tư nhân so với GDP được thu thập từ Báo cáo tình hình kinh tế và Niên giám thống kê của Tổng Cục Thống kê Việt Nam.
Tỷ giá hối đoái thực được sử dụng trong mô hình được tính toán từ tỷ giá hối đoái VND/USD danh nghĩa do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố, điều chỉnh theo lạm phát từng quý Chúng tôi chọn tỷ giá VND/USD làm đại diện cho các giao dịch quốc tế, bởi đồng USD chiếm ưu thế lớn trong các giao dịch hợp tác quốc tế của Việt Nam.
3.4.3 Phương pháp ước lượng Để xác định các nhân tốảnh hưởng đến cán cân tài khoản vãng lai trong mô hình thực nghiệm, chúng tôi thực hiện theo các bước sau:
Bước đầu tiên trong mô hình thực nghiệm là kiểm định tính dừng của các chuỗi thời gian, bao gồm tỷ lệ thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai so với GDP, tỷ lệ thâm hụt ngân sách so với GDP, tỷ lệ đầu tư khu vực tư nhân so với GDP và logarit cơ số tự nhiên của tỷ giá thực VND/USD Nếu các chuỗi này không dừng (có nghiệm đơn vị), cần thực hiện sai phân cho đến khi đạt được tính dừng trước khi đưa vào mô hình Ngoài ra, giữa các chuỗi không dừng có thể tồn tại mối quan hệ đồng liên kết, phản ánh sự liên kết trong dài hạn.
Chúng tôi áp dụng phương pháp phân tích đồng liên kết của Engle-Granger (1987) và Johansen (1990) để xác định mối quan hệ dài hạn giữa các biến.