1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận QUẢN lý THUẾ đa QUỐC GIA

39 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Thuế Đa Quốc Gia
Tác giả Phan Lê Minh Anh, Thạch Thị Mỹ Hằng, Nguyễn Thị Thanh Lan, Nguyễn Thị Thanh Liêm, Phạm Thị Huyền Trang
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài Chính Đa Quốc Gia
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 1,62 MB

Cấu trúc

  • NGUYÊN TẮC THUẾ:

  • 1) ĐẠO ĐỨC THUẾ:

  • 2) TÍNH TRUNG LẬP VỀ THUẾ:

  • 3) MÔI TRƯỜNG THUẾ QUỐC GIA:

    • a) Phương pháp tiếp cận trên toàn cầu:

    • b) Phương pháp tiếp cận theo lãnh thổ:

  • 4) HIỆP ƯỚC THUẾ:

  • 5) CÁC LOẠI THUẾ:

    • a) Thuế thu nhập:

    • b) Thuế nhà thầu:

    • c) Thuế giá trị gia tăng:

    • d) Các loại thuế quốc gia khác:

    • e) Tín dụng thuế nước ngoài:

  • 6) GIÁ CHUYỂN NHƯỢNG:

  • 7) KHUYẾN KHÍCH QUẢN LÝ VÀ ĐÁNH GIÁ:

  • 8) ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁC ĐỐI TÁC LIÊN DOANH:

  • 9) QUẢN LÝ THUẾ TẠI TRIDENT:

  • 10) NHỮNG CÔNG TY CON THIÊN ĐƯỜNG THUẾ VÀ TRUNG TÂM TÀI CHÍNH HẢI NGOẠI QUỐC TẾ:

  • TÓM TẮT:

  • MINI-CASE:

Nội dung

ĐẠO ĐỨC THUẾ

Doanh nghiệp đa quốc gia (MNE) phải đối mặt với nhiều thách thức liên quan đến thuế và đạo đức trong kinh doanh Nhiều công ty và cá nhân nhỏ hơn không tuân thủ luật thuế, khiến MNE phải quyết định giữa việc đóng thuế đầy đủ hay áp dụng triết lý "khi ở Rome, hãy làm như người La Mã." Mặc dù hầu hết MNEs chọn cách tuân thủ để duy trì hình ảnh tại các chi nhánh địa phương, một số lại lo ngại rằng nếu không tránh thuế như đối thủ, họ sẽ mất đi lợi thế cạnh tranh Vấn đề này không có câu trả lời rõ ràng, vì nó phụ thuộc vào di sản văn hóa và phát triển lịch sử của từng quốc gia.

Nhiều quốc gia đã áp dụng các hình thức thuế không công bằng đối với các doanh nghiệp đa quốc gia (MNEs), cho rằng họ vi phạm luật thuế địa phương Thực tế cho thấy, mức thuế tài sản hoặc thuế nhà đất đối với các công ty nước ngoài thường cao hơn nhiều so với các công ty nội địa Vấn đề đặt ra là làm thế nào để ứng phó với các hình thức thuế phân biệt này.

TÍNH TRUNG LẬP VỀ THUẾ

Khi một chính phủ quyết định áp dụng thuế, cần xem xét không chỉ doanh thu tiềm năng mà còn ảnh hưởng của thuế đối với hành vi kinh tế tư nhân Chẳng hạn, chính sách thuế thu nhập từ nguồn nước ngoài của chính phủ Hoa Kỳ không chỉ nhằm tăng doanh thu mà còn có nhiều mục tiêu khác nhau.

 Trung hòa các ưu đãi thuế có thể ủng hộ (hoặc không ủng hộ) đầu tư tư nhân của Hoa Kỳ vào các nước phát triển.

 Tạo động lực cho đầu tư tư nhân của Hoa Kỳ vào các nước đang phát triển

 Cải thiện cán cân thanh toán của Hoa Kỳ bằng cách loại bỏ lợi thế của các thiên đường thuế nhân tạo và khuyến khích các quỹ về nước

Một chính sách thuế lý tưởng không chỉ tăng doanh thu hiệu quả mà còn giảm thiểu tác động tiêu cực đến hành vi kinh tế Một số nhà lý thuyết cho rằng thuế nên trung lập trong việc ảnh hưởng đến quyết định của tư nhân và công bằng giữa các người nộp thuế Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng chính sách quốc gia như cán cân thanh toán và đầu tư vào các nước đang phát triển cần được khuyến khích thông qua chính sách ưu đãi thuế Hầu hết các hệ thống thuế hiện nay đều cố gắng dung hòa giữa hai quan điểm này.

Một cách để đánh giá tính trung lập thuế là so sánh gánh nặng thuế trên mỗi đồng lợi nhuận tại nước sở tại của một công ty đa quốc gia (MNE) với gánh nặng thuế tương ứng từ các hoạt động nước ngoài của cùng công ty Điều này được gọi là trung lập trong nước Một cách khác là so sánh gánh nặng thuế của các công ty con nước ngoài với gánh nặng thuế của các đối thủ cạnh tranh trong cùng quốc gia, được gọi là trung lập nước ngoài Các công ty MNE thường ủng hộ cách tiếp cận thứ hai vì nó nhấn mạnh tính cạnh tranh của từng công ty trong các thị trường riêng lẻ.

Vấn đề bình đẳng thuế rất phức tạp và khó đo lường Theo lý thuyết, thuế công bằng áp dụng gánh nặng thuế như nhau cho tất cả người nộp thuế có vị trí tương tự trong cùng một khu vực tài phán Bộ Tài chính Hoa Kỳ cho rằng, do nguyên tắc quốc tịch được áp dụng trong quyền tài phán thuế, các công ty con nước ngoài do Hoa Kỳ sở hữu nên chịu mức thuế tương tự như các công ty con trong nước Vì vậy, thu nhập từ hoạt động ở nước ngoài cần được đánh thuế với tỷ lệ giống như thu nhập từ hoạt động trong nước.

MÔI TRƯỜNG THUẾ QUỐC GIA

Các quốc gia có cơ cấu thuế và thuế suất khác nhau, cùng với các hiệp ước thuế và thông lệ riêng nhằm đáp ứng yêu cầu của chính phủ Do đó, các công ty đa quốc gia cần áp dụng các chiến lược quản lý thuế toàn cầu khác nhau khi hoạt động tại nhiều quốc gia Các ưu đãi thuế, chính sách thuế và sự thay đổi thuế suất có thể ảnh hưởng đáng kể đến quyết định đầu tư và kinh doanh của các công ty này.

Các quốc gia thiết lập cấu trúc thuế dựa trên hai cách tiếp cận chính: tiếp cận toàn cầu và tiếp cận theo lãnh thổ Mục tiêu của cả hai phương pháp là xác định công ty hoặc thu nhập nào, thuộc về nước ngoài hay trong nước, phải chịu thuế từ cơ quan thuế địa phương Phương pháp tiếp cận toàn cầu đánh thuế thu nhập toàn cầu của các công ty, bất kể nguồn gốc của thu nhập là ở đâu.

Cách tiếp cận toàn cầu, hay còn gọi là tiếp cận theo nơi cư trú, áp dụng việc đánh thuế đối với thu nhập của các công ty được thành lập tại quốc gia đó, bất kể nguồn gốc thu nhập là trong nước hay nước ngoài.

Hoa Kỳ áp dụng phương pháp đánh thuế toàn cầu, trong đó các công ty có trụ sở tại Hoa Kỳ phải chịu thuế cho tất cả thu nhập, dù là trong nước hay nước ngoài Tuy nhiên, thu nhập từ nước ngoài chỉ bị đánh thuế khi được chuyển về công ty mẹ Một vấn đề lớn của phương pháp này là nó không xử lý thu nhập của các công ty nước ngoài hoạt động tại Hoa Kỳ, như các sản phẩm nhập khẩu từ công ty nước ngoài không có trụ sở tại Hoa Kỳ sẽ không bị đánh thuế Do đó, Hoa Kỳ áp dụng nguyên tắc đánh thuế theo lãnh thổ đối với các công ty nước ngoài, đánh thuế tất cả thu nhập mà họ kiếm được trong phạm vi lãnh thổ của mình.

Cách tiếp cận theo lãnh thổ, hay còn gọi là cách tiếp cận nguồn, tập trung vào việc phân tích thu nhập mà các công ty tạo ra trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia sở tại Phương pháp này nhấn mạnh quyền hạn pháp lý của quốc gia nơi công ty hoạt động, thay vì quốc gia nơi công ty được thành lập.

Đức áp dụng thuế như nhau cho doanh nghiệp nước ngoài và trong nước đối với thu nhập kiếm được trong nước, nhưng không áp dụng cho thu nhập bên ngoài Điều này dẫn đến việc một công ty tại Đức có thể xuất khẩu sang Hoa Kỳ mà không bị đánh thuế từ cả hai quốc gia, vì Hoa Kỳ không đánh thuế doanh nghiệp không thành lập tại đây và Đức không đánh thuế thu nhập bên ngoài lãnh thổ Tuy nhiên, Hoa Kỳ quyết định thu thuế đối với thu nhập phát sinh trong quyền hạn của mình, do đó thu nhập tại Hoa Kỳ vẫn bị đánh thuế Trong trường hợp này, cơ quan thuế Đức mở rộng phạm vi đánh thuế đối với thu nhập ở nước ngoài nếu thu nhập đó không thuộc quản lý thuế nước ngoài Việc kết hợp hai cách tiếp cận thuế là cần thiết để bao phủ toàn bộ thu nhập.

Hoa Kỳ là một trong năm quốc gia của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) áp dụng hệ thống thuế toàn cầu, như được minh họa trong Phụ lục 15.1 Trong 10 năm qua, hệ thống thuế theo lãnh thổ đã trở nên phổ biến, với hơn một nửa các quốc gia OECD chuyển đổi từ hệ thống thuế toàn cầu Đặc biệt, vào năm 2009, Nhật Bản và Vương quốc Anh đã thay đổi từ hệ thống thuế toàn cầu sang hệ thống thuế lãnh thổ.

Nếu áp dụng cách tiếp cận toàn cầu về thuế quốc tế đúng nguyên tắc, nhiều MNE sẽ không còn đặc quyền hoãn thuế Các công ty con nước ngoài của MNE thường nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tại quốc gia sở tại, nhưng nhiều công ty mẹ lại trì hoãn việc yêu cầu thuế thu nhập bổ sung cho đến khi thu nhập từ nước ngoài được chuyển về Chẳng hạn, thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ đối với một số loại thu nhập từ nước ngoài của các công ty con sẽ bị hoãn cho đến khi chuyển về công ty mẹ Tuy nhiên, khả năng hoãn thuế này đã bị hạn chế và chịu tác động của nhiều thay đổi luật thuế trong ba thập kỷ qua Đặc quyền trì hoãn thuế cũng đã trở thành chủ đề tranh luận trong các cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ.

Gần đây, nhiều ứng cử viên đã chỉ ra rằng việc hoãn thuế có thể khuyến khích các công ty Hoa Kỳ chuyển giao hoạt động sản xuất và dịch vụ ra nước ngoài Sự lo ngại về khả năng mất việc làm cho người lao động Mỹ gia tăng, trong khi việc giảm thu thuế có thể làm trầm trọng thêm thâm hụt tài chính của chính phủ Hoa Kỳ, vốn đã ở mức cao.

HIỆP ƯỚC THUẾ

Công ty A tại Hoa Kỳ xuất khẩu sang Đức, nhưng phải đối mặt với việc đánh thuế hai lần do Hoa Kỳ áp dụng thuế toàn cầu và Đức áp dụng thuế lãnh thổ Điều này dẫn đến gánh nặng thuế lớn cho công ty A, gây khó khăn trong việc cạnh tranh và có thể khiến công ty không tiếp tục xuất khẩu sang Đức Để giải quyết vấn đề này, Hoa Kỳ và Đức đã ký hiệp ước thuế nhằm xác định quyền đánh thuế đối với khoản thu nhập từ hoạt động xuất khẩu, đảm bảo rằng việc đánh thuế sẽ được phân chia hợp lý giữa hai quốc gia.

Các hiệp ước thuế song phương rất quan trọng cho các công ty chủ yếu xuất khẩu, vì chúng xác định khái niệm "cơ sở thường trú" và quy định các hạn chế thuế Những hiệp ước này thường dẫn đến việc giảm thuế suất giữa hai quốc gia ký kết và tạo cơ hội cho việc mở rộng mối quan hệ kinh doanh thông qua các cuộc đàm phán.

CÁC LOẠI THUẾ

Thuế được phân loại thành hai loại chính: thuế trực thu, áp dụng trực tiếp vào thu nhập, và thuế gián thu, dựa trên các hoạt động có thể đo lường của doanh nghiệp Phụ lục 15.2 cung cấp hình ảnh về nhiều loại thuế thu nhập doanh nghiệp hiện nay trên toàn cầu.

Hầu hết các chính phủ phụ thuộc vào thuế thu nhập cá nhân và doanh nghiệp như nguồn thu chính Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp khác nhau trên toàn cầu, với nhiều hình thức khác nhau Một số quốc gia áp dụng mức thuế khác nhau cho thu nhập phân phối và chưa phân phối, khuyến khích các công ty phân phối nhiều hơn cho chủ sở hữu Năm 2011, thuế doanh nghiệp dao động từ 0% ở các thiên đường thuế như Bahamas và Cayman Islands, 10% ở Paraguay và Qatar, 19% ở Ba Lan, đến 40% ở Hoa Kỳ và 40,69% ở Nhật Bản.

Môi trường thuế toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng, với thuế thu nhập doanh nghiệp giảm mạnh trong thập kỷ qua, đặc biệt ở các quốc gia không thuộc OECD Các nước công nghiệp hóa đã miễn cưỡng giảm thuế suất như các quốc gia thị trường mới nổi Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp hiện nay trở thành yếu tố cạnh tranh quan trọng nhằm thu hút đầu tư nước ngoài Năm 2011, thuế suất thu nhập doanh nghiệp bình quân toàn cầu lần đầu tiên giảm xuống dưới 23% trong 50 năm qua.

Khi nhà đầu tư A ở Hoa Kỳ đầu tư vào công ty B tại Đức, việc chi trả cổ tức từ công ty B cho A không có sự hỗ trợ khai thuế từ phía A đối với chính phủ Đức Điều này khiến chính phủ Đức gặp khó khăn trong việc thu thuế từ nhà đầu tư A Để giải quyết vấn đề này, Đức đã áp dụng thuế nhà thầu, yêu cầu công ty B phải trích một khoản thuế từ cổ tức trước khi chuyển cho A Sau khi trừ đi khoản thuế nhà thầu, A sẽ nhận được phần cổ tức còn lại.

Thu nhập thụ động như cổ tức, tiền lãi và tiền bản quyền, khi một cá nhân cư trú tại quốc gia thứ nhất kiếm được tại quốc gia thứ hai, thường phải chịu thuế nhà thầu tại quốc gia thứ hai Chính phủ áp dụng thuế khấu lưu nhằm đảm bảo thu được thuế tối thiểu từ các nhà đầu tư quốc tế, những người thường không khai thuế tại mỗi quốc gia mà họ đầu tư Các khoản thuế này được công ty giữ lại từ khoản thanh toán cho nhà đầu tư và sau đó chuyển cho cơ quan chính phủ Thuế nhà thầu là một phần quan trọng trong các hiệp ước thuế song phương, với mức thuế thường dao động từ 0 đến 25%.

Thuế giá trị gia tăng (VAT) là một loại thuế tiêu thụ quốc gia đánh vào từng giai đoạn sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, dựa trên giá trị gia tăng tại mỗi giai đoạn Các mặt hàng sản xuất như máy móc và thiết bị thường không chịu thuế VAT, trong khi một số nhu cầu thiết yếu như thuốc men, giáo dục và dịch vụ bưu chính có thể được miễn hoặc áp dụng mức thuế thấp hơn VAT là nguồn thu chính từ thuế gián thu tại nhiều quốc gia, bao gồm tất cả các thành viên của Liên minh châu Âu, hầu hết các nước Tây Âu, một số quốc gia Mỹ Latinh, Canada và nhiều nước khác Ví dụ cụ thể về cách tính thuế giá trị gia tăng được trình bày trong Phụ lục 15.4.

Phụ lục 15.4 quy định về việc áp dụng thuế giá trị gia tăng 10% đối với việc bán hàng rào bằng gỗ Ví dụ này minh họa cách thức đánh thuế giá trị gia tăng trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng rào gỗ.

Một ví dụ về việc đánh thuế giá trị gia tăng (VAT) 10% đối với trụ hàng rào bằng gỗ trong quá trình sản xuất và bán hàng.

 Bước 2 Nhà máy gỗ chế biến cây thành các trụ hàng rào và bán mỗi trụ với giá

Giá trị gỗ bán buôn là $0,40, trong khi nhà máy gỗ đã tăng thêm $0,20 giá trị thông qua chế biến Chủ nhà máy phải trả $0,02 cho thuế giá trị gia tăng, trong khi nghĩa vụ thuế có thể được tính là 10% của $0,40, tức là $0,04, với khoản khấu trừ $0,02 cho thuế mà chủ sở hữu cây đã trả.

Người bán buôn và bán lẻ gỗ xẻ tăng giá trị cho cột hàng rào thông qua hoạt động bán và phân phối, với mức định giá lần lượt là $0,01 và $0,03 Điều này dẫn đến thuế giá trị gia tăng tích lũy mà chính phủ thu là $0,08, tương đương 10% giá bán cuối cùng Ngoài ra, còn có các loại thuế quốc gia khác cần được xem xét.

Có nhiều loại thuế quốc gia với mức độ quan trọng khác nhau, bao gồm thuế doanh thu, thuế tài sản và thuế thừa kế, nhằm phân phối lại thu nhập và của cải cũng như tăng doanh thu cho ngân sách nhà nước Các loại phí hành chính cho dịch vụ công cộng cũng được coi là thuế người dùng Ngoài ra, giao dịch mua bán ngoại hối có thể chứa thuế ẩn, tạo ra doanh thu cho chính phủ Để tránh đánh thuế hai lần, hầu hết các quốc gia cấp tín dụng thuế cho các khoản thuế thu nhập đã trả tại nước ngoài, cho phép doanh nghiệp giảm bớt gánh nặng thuế khi chuyển khoản thu nhập về quốc gia sở tại.

Tín dụng thuế là chính sách của Nhà nước cho phép các doanh nghiệp sản xuất giữ lại tiền thuế phải nộp để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh Điều này tương đương với việc Nhà nước cung cấp vốn vay trực tiếp cho doanh nghiệp mà không yêu cầu tài sản thế chấp và không tính lãi suất Chính sách này tạo điều kiện thuận lợi về vốn, giúp doanh nghiệp đầu tư phát triển và phục hồi tăng trưởng kinh tế.

Các quốc gia áp dụng các phương pháp khác nhau để tính toán khoản tín dụng thuế nước ngoài và quy định các giới hạn về số tiền được yêu cầu Thông thường, tín dụng thuế nước ngoài có thể được áp dụng để khấu trừ thuế đã trả cho các quốc gia khác đối với cổ tức, tiền bản quyền, tiền lãi và các khoản thu nhập khác chuyển cho công ty mẹ Tuy nhiên, thuế giá trị gia tăng và các loại thuế bán hàng khác không được khấu trừ thuế nước ngoài, mà thường được khấu trừ từ thu nhập trước thuế như một khoản chi phí.

Tín dụng thuế là một khoản giảm trực tiếp các khoản thuế, khác với chi phí được trừ, giúp giảm thu nhập chịu thuế trước khi áp dụng thuế suất Ví dụ, một khoản khấu trừ thuế $100 làm giảm số thuế phải nộp $100, trong khi một chi phí được khấu trừ $100 chỉ giảm thu nhập chịu thuế $100, dẫn đến số thuế phải nộp là $100 nhân với thuế suất t Do đó, các khoản tín dụng thuế có giá trị cao hơn so với các khoản chi phí được khấu trừ.

Nếu không có tín dụng cho các khoản thuế nước ngoài, việc đánh thuế từ cả chính phủ sở tại và chính phủ nội địa có thể dẫn đến mức thuế tích lũy cao Ví dụ, một công ty con nước ngoài thuộc sở hữu hoàn toàn của MNE có thu nhập trước thuế là $10.000 và trả cổ tức bằng toàn bộ thu nhập sau thuế Với thuế suất thuế thu nhập của nước sở tại là 30% và thuế suất nội địa của công ty mẹ là 35%, tổng số thuế sẽ rất đáng kể, như được trình bày trong Phụ lục 15.5.

GIÁ CHUYỂN NHƯỢNG

Việc định giá hàng hóa, dịch vụ và công nghệ chuyển nhượng cho công ty con nước ngoài từ công ty liên kết là phương thức quan trọng nhất để chuyển tiền ra nước ngoài Các chi phí này được tính vào giá vốn hàng bán trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty con Đây là vấn đề nhạy cảm đối với doanh nghiệp đa quốc gia, và ngay cả doanh nghiệp trong nước cũng gặp khó khăn trong việc đạt thỏa thuận về phương pháp định giá cho các giao dịch giữa các đơn vị liên quan Đối với các công ty đa quốc gia, các nhà quản lý cần cân nhắc giữa định vị quỹ và thuế thu nhập để đảm bảo hiệu quả tài chính.

Hiệu ứng Định vị Quỹ (Fund Positioning Effect) cho phép công ty mẹ tính giá cao hơn cho hàng hóa bán cho công ty con ở quốc gia có quy định cho phép, nhằm chuyển tiền ra khỏi quốc gia đó Ngược lại, công ty con có thể hạ giá chuyển nhượng để được cấp vốn Việc thanh toán của công ty con cho hàng nhập khẩu từ công ty mẹ giúp chuyển tiền ra khỏi công ty con, trong khi giá chuyển nhượng cao hơn giúp tích lũy tiền tại quốc gia bán Ngoài ra, chuyển nhượng cũng có thể được sử dụng để chuyển tiền giữa các công ty con thành viên Ảnh hưởng thuế thu nhập là một yếu tố quan trọng trong định giá chuyển nhượng, vì việc ấn định giá này có thể giúp giảm thiểu thu nhập chịu thuế ở quốc gia có thuế suất cao và tối đa hóa thu nhập ở quốc gia có thuế suất thấp Công ty mẹ có thể ấn định giá chuyển nhượng cao hơn để tăng chi phí của công ty con, từ đó giảm thu nhập chịu thuế.

Tác động của thuế thu nhập được thể hiện qua ví dụ giả định trong Phụ lục 15.6, trong đó Trident Châu Âu hoạt động trong môi trường thuế cao với thuế suất doanh nghiệp tại Đức là 45% Ngược lại, Trident Hoa Kỳ hoạt động trong môi trường thuế thấp hơn nhiều với thuế suất 35%, điều này dẫn đến việc Trident tính giá chuyển nhượng cao hơn cho hàng hóa sản xuất tại Hoa Kỳ khi bán cho Trident Châu Âu.

Trong tình huống giả định này, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ được cho là thấp hơn so với Đức Theo thông tin đã trình bày trong Phụ lục 15.2, gánh nặng thuế thu nhập doanh nghiệp thực tế ở Hoa Kỳ là 40%, trong khi ở Đức là 29%.

Nếu Tập đoàn Trident thực hiện chính sách đánh dấu cao bằng cách bán hàng hóa với giá nội bộ 1.700.000 đô la, thu nhập hợp nhất trước thuế sẽ được phân bổ nhiều hơn cho Trident Hoa Kỳ với thuế thấp và ít hơn cho Trident Châu Âu với thuế cao Chính Trident Corporation, công ty mẹ, cần áp dụng chính sách ưu đãi chuyển nhượng giá trực tiếp để điều chỉnh lợi nhuận của từng công ty con Kết quả là tổng số thuế giảm 30.000 đô la và thu nhập ròng hợp nhất tăng 30.000 đô la lên 500.000 đô la, trong khi tổng doanh số vẫn giữ nguyên.

Trident đương nhiên sẽ thích chính sách đánh dấu cao cho các đợt bán hàng từ Hoa

Khi đến Châu Âu, đặc biệt là Đức, các cơ quan thuế nhận thức rõ về việc thao túng giá chuyển nhượng có thể dẫn đến biến dạng thu nhập Có nhiều quy định và trường hợp pháp lý liên quan đến tính hợp lý của giá chuyển nhượng, bao gồm phí, tiền bản quyền và giá hàng hóa Nếu giá chuyển nhượng không được cơ quan thuế chấp nhận, thu nhập chịu thuế của công ty sẽ bị coi là cao hơn, dẫn đến việc tăng thuế phải nộp.

Mục 482 của Bộ luật Thuế vụ Hoa Kỳ quy định quyền tự do đặt giá chuyển nhượng, cho phép IRS phân bổ lại thu nhập, khấu trừ, tín dụng hoặc phụ cấp giữa các công ty liên quan nhằm ngăn chặn trốn thuế và phản ánh việc phân bổ thu nhập hợp lý Theo đó, công ty đóng thuế phải chứng minh rằng IRS đã hành động tùy tiện trong việc phân bổ lại thu nhập, tạo ra áp lực cho các doanh nghiệp đa quốc gia (MNE) trong việc duy trì hồ sơ minh bạch về giá chuyển nhượng Nguyên tắc "giá chính xác" yêu cầu giá phản ánh giá của một nhánh, tức là giá bán hàng hóa hoặc dịch vụ cho khách hàng không liên quan phải có thể so sánh.

Các quy định của IRS quy định ba phương pháp thiết lập giá thuận mua vừa bán, bao gồm giá so sánh không được kiểm soát, giá bán lại và tính toán cộng thêm chi phí Tổ chức Hợp tác Kinh tế (OECD) khuyến nghị các phương pháp này cho các nước thành viên trong vấn đề tài khóa Trong một số trường hợp, có thể sử dụng sự kết hợp của cả ba phương pháp này.

KHUYẾN KHÍCH QUẢN LÝ VÀ ĐÁNH GIÁ

Khi một công ty tập trung vào lợi nhuận phi tập trung, việc chuyển giá giữa các trung tâm có thể ảnh hưởng đến việc đánh giá hiệu quả hoạt động của quản lý Vấn đề này không chỉ tồn tại ở các tập đoàn đa quốc gia mà còn là chủ đề gây tranh cãi trong cuộc tranh luận về "tập trung hóa so với phân quyền" trong các công ty nội địa Tuy nhiên, ở cấp độ công ty, một phương thức phối hợp có thể giảm thiểu những méo mó xảy ra khi các trung tâm lợi nhuận tối ưu hóa lợi nhuận cho riêng mình Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, công ty có thể nộp một tờ khai thuế tổng hợp cho quốc gia, khiến vấn đề phân bổ chi phí giữa các chi nhánh không còn là mối quan tâm lớn về mặt thuế.

Trong môi trường đa quốc gia, sự phối hợp thường gặp khó khăn do các kênh kém hiệu quả, đòi hỏi phải xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến định giá quốc tế và thuế Ngay cả với ý định tốt, nhà quản lý tại một quốc gia cũng khó xác định lợi ích tốt nhất cho toàn công ty khi thương thảo giá với các công ty liên quan ở quốc gia khác Khi giá chuyển nhượng và lựa chọn cung ứng được thiết lập từ trụ sở công ty, động lực hành động vì lợi ích của quản lý địa phương sẽ bị suy giảm Ví dụ, theo Phụ lục 15.6, khi giá chuyển nhượng tăng, thu nhập toàn cầu của Trident Corporation tăng 195.000 đô la, trong khi thu nhập tại Trident Châu Âu giảm 165.000 đô la, dẫn đến lãi ròng chỉ 30.000 đô la Điều này đặt ra câu hỏi liệu các nhà quản lý công ty con ở Châu Âu có nên chịu thiệt hại về tiền thưởng hoặc công việc của họ do thành tích không đạt yêu cầu.

Tiền thưởng thường được xác định dựa trên lợi nhuận của các công ty con, nhưng Trident Europe đã "hy sinh" vì lợi ích chung Việc tự ý thay đổi giá chuyển nhượng có thể gây ra những vấn đề trong việc đo lường hiệu quả.

Việc chuyển lợi nhuận từ Trident Europe, nơi có mức thuế cao, sang Trident Corporation tại Hoa Kỳ với mức thuế thấp sẽ tạo ra những thay đổi quan trọng cho một hoặc cả hai công ty.

Thuế nhập khẩu phải trả (chỉ nhà nhập khẩu) và do đó thay đổi mức lợi nhuận

Đo lường mức độ rủi ro ngoại hối là rất quan trọng, bao gồm việc xem xét số lượng tài sản có giá trị ròng bị ảnh hưởng bởi sự biến động của lượng tiền mặt và các khoản phải thu.

Kiểm tra tính thanh khoản, chẳng hạn như hệ số thanh toán hiện hành, vòng quay các khoản phải thu và vòng quay hàng tồn kho

Hiệu quả hoạt động, được đo bằng tỷ lệ lợi nhuận gộp trên doanh thu hoặc tổng tài sản

Thanh toán thuế thu nhập

Khả năng sinh lời, được đo bằng tỷ lệ thu nhập ròng trên doanh thu bán hàng hoặc vốn đầu tư

Tỷ lệ chi trả cổ tức sẽ thay đổi theo thu nhập ròng, trong khi cổ tức không đổi Điều này có nghĩa là nếu tỷ lệ chi trả giữ nguyên, số lượng cổ tức sẽ biến động do sự thay đổi của giá chuyển nhượng.

Tỷ lệ tăng trưởng nội bộ, được đo bằng tỷ lệ giữa lợi nhuận giữ lại trên vốn chủ sở hữu hiện có

ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁC ĐỐI TÁC LIÊN DOANH

Các liên doanh tạo ra thách thức đặc biệt trong vấn đề chuyển giá, vì việc tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông địa phương có thể không tương thích với lợi ích tổng thể của tập đoàn đa quốc gia (MNE) Thường thì, các lợi ích này xung đột và khó có thể hòa giải Đối tác liên doanh địa phương có thể trở thành "con ngựa thành Troy" nếu họ khiếu nại với chính quyền địa phương về chính sách chuyển giá của MNE.

QUẢN LÝ THUẾ TẠI TRIDENT

Phụ lục 15.7 tóm tắt vấn đề quản lý thuế quan trọng đối với Trident khi chuyển thu nhập cổ tức về Hoa Kỳ từ Trident Đức và Trident Brazil.

Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại Đức (40%) cao hơn so với Hoa Kỳ (35%), dẫn đến việc cổ tức chuyển về công ty mẹ ở Hoa Kỳ tạo ra tín dụng thuế nước ngoài vượt quá Các khoản thuế khấu lưu hiện hành giữa Đức và Hoa Kỳ chỉ làm gia tăng số tiền tín dụng vượt quá này.

Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại Brazil là 25%, thấp hơn so với 35% ở Hoa Kỳ, dẫn đến việc cổ tức chuyển cho công ty mẹ tại Hoa Kỳ tạo ra thâm hụt tín dụng thuế nước ngoài Mặc dù Brazil áp dụng các khoản thuế khấu lưu đối với tiền lãi chuyển về Hoa Kỳ, điều này chỉ giảm thiểu thâm hụt mà không thể loại bỏ hoàn toàn.

Ban quản lý của Trident đang tìm cách điều chỉnh hai khoản chuyển tiền cổ tức để cân đối với khoản thâm hụt tín dụng Phương pháp hiệu quả nhất là điều chỉnh số cổ tức từ các công ty con nước ngoài, nhằm đảm bảo rằng các khoản tín dụng thuế nước ngoài từ Trident Đức khớp với thâm hụt thuế từ Trident Brazil sau khi tính toán các khoản thuế hiện hành Ngoài ra, còn có nhiều phương pháp khác để quản lý nghĩa vụ thuế toàn cầu của Trident, được phân tích chi tiết trong Chương 19.

Phụ lục 15.7 Quản lý thuế thu nhập từ nguồn nước ngoài của Trident;

NHỮNG CÔNG TY CON THIÊN ĐƯỜNG THUẾ VÀ TRUNG TÂM TÀI CHÍNH HẢI NGOẠI QUỐC TẾ

Nhiều doanh nghiệp đa quốc gia (MNE) thiết lập các công ty con ở nước ngoài như những thiên đường thuế cho các quỹ công ty đang chờ tái đầu tư hoặc hồi hương Các công ty con này, thường được gọi là Các Trung tâm Tài chính Hải ngoại Quốc tế, xuất phát từ các chính sách hoãn thuế đối với thu nhập nước ngoài mà một số quốc gia mẹ cho phép Những công ty con thiên đường thuế thường được thành lập tại các quốc gia đáp ứng các yêu cầu nhất định.

Thuế thấp đối với đầu tư nước ngoài và thu nhập từ bán hàng của các công ty cư trú, cùng với mức thuế nhà thầu cổ tức ưu đãi cho cổ tức trả cho công ty mẹ, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp quốc tế.

Một loại tiền tệ ổn định giúp dễ dàng chuyển đổi giữa tiền tệ nội địa và quốc tế, và điều này có thể được thực hiện thông qua việc cho phép và khuyến khích sử dụng Đồng tiền châu Âu.

Các phương tiện hỗ trợ dịch vụ tài chính bao gồm thông tin liên lạc hiệu quả, đội ngũ nhân viên văn phòng có chuyên môn cao và các dịch vụ ngân hàng uy tín.

 Một chính phủ ổn định khuyến khích thành lập các cơ sở tài chính và dịch vụ thuộc sở hữu nước ngoài trong biên giới của mình.

Phụ lục 15.8 cung cấp bản đồ các trung tâm tài chính hải ngoại lớn trên thế giới, nơi mà các công ty con thiên đường thuế thường sở hữu cổ phiếu phổ thông của các công ty con nước ngoài Những công ty con này có thể nằm rải rác khắp nơi và thường do công ty mẹ sở hữu 100% Tất cả các khoản chuyển tiền, bao gồm cổ tức và tài trợ vốn, có thể diễn ra qua các công ty con này, giúp hoãn thuế cho công ty mẹ cho đến khi cổ tức được công bố Việc hoãn thuế có thể kéo dài vô thời hạn nếu các hoạt động ở nước ngoài tiếp tục phát triển và cần nguồn tài chính từ công ty con Điều này cho phép các MNE hoạt động mà không cần chuyển thu nhập về nước qua hệ thống thuế của quốc gia mẹ Đối với các MNE của Hoa Kỳ, việc hoãn thuế thông qua công ty con nước ngoài không phải là lỗ hổng thuế, mà là chính sách được chính phủ cho phép để cạnh tranh với các đối thủ quốc tế Phụ lục 15.9 cung cấp bảng phân loại các hoạt động chính của các trung tâm tài chính hải ngoại.

Phụ lục 15.9 Hoạt động của các Trung tâm Tài chính Hải ngoại

Các trung tâm tài chính hải ngoại cung cấp dịch vụ quản lý tài chính cho người dùng nước ngoài, mang lại thu nhập ngoại hối Khách hàng được hưởng nhiều lợi thế như thuế suất thấp, thủ tục hành chính tối thiểu, và tính bảo mật cao Môi trường này giúp khách hàng quốc tế giàu có giảm thiểu trách nhiệm thuế và bảo vệ tài sản khỏi rủi ro chính trị, tài khóa và pháp lý Dịch vụ tài chính ra nước ngoài được cung cấp qua nhiều phương tiện khác nhau.

Ngân hàng nước ngoài có khả năng thực hiện các giao dịch ngoại hối cho các tập đoàn và ngân hàng, giúp họ tối ưu hóa hoạt động tài chính Những giao dịch này được miễn các loại thuế như thuế vốn, thuế tập đoàn, thuế lãi vốn, thuế cổ tức và thuế lãi suất, đồng thời không bị áp dụng cho việc trao đổi quyền kiểm soát.

Các tập đoàn kinh doanh quốc tế, thường là các công ty trách nhiệm hữu hạn, được miễn thuế và sử dụng để điều hành doanh nghiệp hoặc huy động vốn thông qua việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ tài chính khác.

 Các công ty bảo hiểm nước ngoài, được thành lập để giảm thiểu thuế và quản lý rủi ro.

Quản lý và bảo vệ tài sản là rất quan trọng, đặc biệt cho các cá nhân và tập đoàn ở những quốc gia có hệ thống ngân hàng yếu kém hoặc chính trị không ổn định Việc giữ tài sản ở nước ngoài giúp bảo vệ khỏi nguy cơ sụp đổ của tiền tệ và ngân hàng trong nước.

Lập kế hoạch thuế cho phép các công ty đa quốc gia tối ưu hóa thuế bằng cách định tuyến giao dịch qua các trung tâm hải ngoại thông qua giá chuyển nhượng Đồng thời, cá nhân cũng có thể hưởng lợi từ các chế độ thuế ưu đãi mà các trung tâm hải ngoại cung cấp thông qua quỹ tín thác và quỹ đầu tư.

Các ưu đãi thuế và bí mật từ các trung tâm tài chính hải ngoại có thể phục vụ cho nhiều mục đích hợp pháp, nhưng cũng dễ bị lạm dụng cho các hoạt động bất hợp pháp như rửa tiền và trốn thuế.

Một số công ty Hoa Kỳ đã biến việc hoãn thuế thành tránh thuế bằng cách gian lận giá chuyển nhượng hàng hóa và dịch vụ với các công ty con có liên quan Họ đã điều chỉnh quyền sở hữu hợp pháp để chuyển toàn bộ thu nhập từ giao dịch vào các công ty con ở thiên đường thuế, mặc dù hàng hóa hoặc dịch vụ chưa bao giờ thực sự đến quốc gia đó Hệ quả là, cơ quan thuế của cả nước xuất khẩu và nhập khẩu đều thất vọng vì thiếu hụt thu nhập chịu thuế từ các giao dịch này.

Đạo luật Thuế vụ Hoa Kỳ năm 1962 nhằm loại bỏ lợi thế thuế của các công ty nước ngoài mà không ảnh hưởng đến quyền hoãn thuế của các công ty con sản xuất và bán hàng nước ngoài, nếu chúng được thành lập vì lý do kinh doanh và kinh tế Mặc dù động cơ thuế đã bị loại bỏ, nhiều công ty vẫn tìm thấy giá trị ở các công ty con này như là các trung tâm kiểm soát tài chính cho hoạt động quốc tế, như được minh họa trong Tài chính Toàn cầu trong Thực tiễn 15.2.

TÀI CHÍNH TOÀN CẦU TRONG THỰC TIỄN 15.2:

Chiến lược thuế toàn cầu Hai người Ireland và bánh kẹp Hà Lan của Google:

Google, công cụ tìm kiếm hàng đầu trên Internet, đã trở thành tâm điểm chú ý về chiến lược thuế toàn cầu trong những năm gần đây, mặc dù nổi tiếng với quy tắc ứng xử "Không làm điều xấu" Năm 2010, thuế suất hiệu dụng ở nước ngoài của Google chỉ là 2,4% trên doanh thu hơn 13 tỷ đô la Trong khi đó, thuế suất tổng thể của công ty đã đạt trung bình khoảng 22% trong những năm gần đây Chiến lược thuế của Google được thực hiện thông qua một cấu trúc phức tạp, như được trình bày trong phụ lục.

Chiến lược thuế toàn cầu của Google: Hai người Ireland và bánh kẹp Hà Lan:

Hai người Ireland Google đặt gần 90% doanh số bán hàng ngoài Hoa Kỳ thông qua

Google Ireland, sau đó trả hàng tỷ USD tiền bản quyền cho Google Ireland Holdings - công ty có trung tâm quản lý hiệu quả tại Bermuda.

Bánh kẹp Hà Lan là một chiến lược tài chính nhằm tránh thuế nhà thầu cho các khoản thanh toán từ Ireland đến Bermuda Tiền được chuyển qua Hà Lan để tận dụng các hiệp ước thuế nội Châu Âu Điều này giúp Google Bermuda không phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ nguồn nước ngoài kiếm được tại đây.

Ngày nay, cấu trúc của Google được vô số công ty đa quốc gia của Hoa Kỳ sử dụng.

Ngày đăng: 07/08/2021, 13:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w