1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp.

104 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt Động Của Doanh Nghiệp Xã Hội Ở Việt Nam: Thực Trạng Và Giải Pháp
Tác giả Tăng Thị Thanh Hằng
Người hướng dẫn GS. TS. Nguyễn Thị Mơ
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 2,28 MB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA (17)
    • 1.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại doanh nghiệp xã hội (17)
      • 1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp xã hội (17)
      • 1.1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam (19)
      • 1.1.3. Phân loại doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam (20)
        • 1.1.3.1. Dựa trên tình trạng pháp lý của doanh nghiệp xã hội (20)
        • 1.1.3.2. Dựa trên lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp xã hội (22)
      • 1.1.4. Vai trò của doanh nghiệp xã hội (23)
    • 1.2. Tổng quan về hoạt động của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam (25)
      • 1.2.1. Cơ sở pháp lý (25)
      • 1.2.2. Các loại hình hoạt động của doanh nghiệp xã hội (25)
        • 1.2.2.1. Công ty trách nhiệm xã hội một thành viên (26)
        • 1.2.2.2. Công ty trách nhiệm xã hội hai thành viên trở lên (27)
        • 1.2.2.3. Công ty cổ phần (28)
      • 1.2.3. Các mô hình hoạt động của doanh nghiệp xã hội (29)
        • 1.2.3.1. Hợp tác xã (29)
        • 1.2.3.2. Doanh nghiệp xã hội được điều hành bởi các doanh nhân xã hội19 1.2.3.3. Doanh nghiệp xã hội được ươm tạo từ những vườn ươm (30)
        • 1.2.3.4. Doanh nghiệp xã hội chuyển đổi từ các tổ chức phi chính phủ địa phương. 23 (34)
      • 1.2.4. Một số tổ chức có khả năng chuyển đổi sang doanh nghiệp xã hội 24 (35)
        • 1.2.4.1. Doanh nghiệp nhà nước thực hiện nhiệm vụ công ích (35)
        • 1.2.4.2. Cơ sở ngoài công lập (36)
        • 1.2.4.3. Đơn vị sự nghiệp công lập và Tổ chức khoa học và công nghệ công lập 26 (37)
    • 1.3. Nghiên cứu kinh nghiệm từ nước ngoài (38)
      • 1.3.1. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ (38)
        • 1.3.1.1. Cách hiểu về doanh nghiệp xã hội (38)
        • 1.3.1.2. Môi trường thể chế của doanh nghiệp xã hội (39)
        • 1.3.1.3. Những khó khăn đối với doanh nghiệp xã hội (39)
        • 1.3.1.4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam (40)
      • 1.3.2. Kinh nghiệm của Liên minh Châu Âu (41)
        • 1.3.2.1. Sự hình thành và phát triển doanh nghiệp xã hội (41)
        • 1.3.2.2. Môi trường thể chế của doanh nghiệp xã hội (42)
        • 1.3.2.3. Những khó khăn đối với doanh nghiệp xã hội (43)
        • 1.3.2.4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam (43)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP XÃ HỘI Ở VIỆT NAM (45)
    • 2.1. Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam (45)
      • 2.1.1. Giai đoạn trước Đổi mới (1986) (45)
      • 2.1.2. Từ 1986 đến 2010 (46)
        • 2.1.2.1. Chính sách mở cửa thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế (46)
        • 2.1.2.2. Hoạt động của doanh nghiệp xã hội được tác động của Chính sách 37 (48)
      • 2.1.3. Giai đoạn từ 2010 đến nay (49)
        • 2.1.3.1. Thực trạng về mô hình hoạt động của doanh nghiệp xã hội (49)
        • 2.1.3.2. Tình hình hoạt động chung (52)
        • 2.1.3.3. Thực trạng về các lãnh đạo của doanh nghiệp xã hội (53)
        • 2.1.3.4. Thực trạng về hình thức pháp lý của doanh nghiệp xã hội (56)
        • 2.1.3.5. Các mục tiêu và ngành nghề hoạt động của doanh nghiệp xã hội (57)
        • 2.1.3.6. Hoạt động của doanh nghiệp xã hội trong giai đoạn dịch bệnh Covid-19. 50 (61)
      • 2.2.1. Trung tâm dậy nghề nhân đạo KOTO (63)
        • 2.2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển (63)
        • 2.2.1.2. Cách thức hoạt động (64)
        • 2.2.1.3. Mô hình kinh doanh (65)
      • 2.2.2. Công ty cổ phần Tò he (66)
        • 2.2.2.1. Sự hình thành và phát triển (66)
        • 2.2.2.2. Cách thức hoạt động (67)
        • 2.2.2.3. Mô hình kinh doanh (68)
    • 2.3. Nhận xét về hoạt động của doanh nghiệp xã hội trong thời gian qua .58 (69)
      • 2.3.1. Những kết quả đạt được (69)
      • 2.3.2. Các khó khăn/ rào cản mà doanh nghiệp xã hội gặp phải (71)
        • 2.3.2.1. Các khó khăn từ nội tại doanh nghiệp xã hội (71)
        • 2.3.2.2. Các rào cản từ bên ngoài (76)
      • 2.3.3. Những yếu kém và nguyên nhân (78)
        • 2.3.3.1. Doanh nghiệp xã hội chưa đăng ký tư cách pháp nhân theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014. 67 (78)
        • 2.3.3.2. Doanh nghiệp xã hội chưa khai thác hiệu quả các chính sách của Nhà nước về phát triển doanh nghiệp xã hội. 68 (79)
        • 2.3.3.3. Doanh nghiệp xã hội chưa phát huy được hết vai trò của mình do nhận thức của cơ quan quản lý nhà nước về doanh nghiệp xã hội còn hạn chế 68 (79)
  • CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI (81)
    • 3.1. Phân tích về tiềm năng phát triển của các doanh nghiệp xã hội ở Việt (81)
      • 3.1.2. Các vấn đề về xã hội và nguồn lực xã hội ở Việt Nam đang phát triển theo hướng có lợi cho doanh nghiệp xã hội 71 (82)
        • 3.1.2.1. Các vấn đề xã hội phát triển theo hướng tích cực (82)
        • 3.1.2.2. Nguồn lực xã hội cũng là tiềm năng để doanh nghiệp xã hội Việt (86)
    • 3.2. Nhóm giải pháp và kiến nghị thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới (89)
      • 3.2.1. Giải pháp đối với doanh nghiệp xã hội (89)
        • 3.2.1.1. Doanh nghiệp xã hội Việt Nam cần xây dựng chiến lược kinh (89)
        • 3.2.1.2. Doanh nghiệp xã hội cần đảm bảo nguồn vốn và tìm kiếm được các hỗ trợ tài chính cần thiết 79 (90)
        • 3.2.1.3. Các doanh nghiệp xã hội Việt Nam tập trung vào chất lượng sản phẩm và dịch vụ 79 (90)
        • 3.2.1.4. Các doanh nghiệp xã hội nâng cao năng lực quản trị của mình (91)
      • 3.2.2. Các kiến nghị đối với Nhà nước (93)
        • 3.2.2.1. Hoàn thiện, xây dựng khung pháp lý điều chỉnh hoạt động của (93)
        • 3.2.2.2. Thành lập một bộ phận, cơ quan chuyên trách thực hiện quản lý nhà nước về doanh nghiệp xã hội thúc đẩy, hỗ trợ doanh nghiệp xã hội. 84 (95)
        • 3.2.2.3. Nhà nước cần tăng cường hợp tác quốc tế về phát triển doanh nghiệp xã hội. 85 (96)
      • 3.2.3. Các kiến nghị khác (96)

Nội dung

Hoạt động của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam Thực trạng và giải pháp.Hoạt động của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam Thực trạng và giải pháp.Hoạt động của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam Thực trạng và giải pháp.Hoạt động của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam Thực trạng và giải pháp.Hoạt động của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam Thực trạng và giải pháp.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA

Khái niệm, đặc điểm và phân loại doanh nghiệp xã hội

1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp xã hội

Doanh nghiệp xã hội (DNXH) ra đời lần đầu tiên tại London vào năm 1665 khi Thomas Firmin thành lập một doanh nghiệp cá nhân nhằm hỗ trợ khoảng 2000 công nhân thất nghiệp, với toàn bộ lợi nhuận được chuyển vào quỹ từ thiện Đến năm 1979, DNXH trở thành một phong trào quan trọng tại Anh và toàn cầu khi Thủ tướng Margaret Thatcher thúc đẩy việc giảm vai trò của Nhà nước và khuyến khích khu vực xã hội dân sự tham gia giải quyết các vấn đề xã hội Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về doanh nghiệp xã hội.

Doanh nghiệp xã hội (DNXH) được định nghĩa theo Luật Công ty năm 2006 của Vương Quốc Anh là mô hình kinh doanh nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội, sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư cho cộng đồng thay vì tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông DNXH không nhất thiết phải hoạt động dưới hình thức công ty, mà có thể là một tổ chức với mục tiêu mang lại lợi ích cho xã hội Định nghĩa này nhấn mạnh vai trò của DNXH trong việc phục vụ cộng đồng và phân phối lợi nhuận cho xã hội thay vì cho cá nhân hay nhóm sở hữu doanh nghiệp.

Theo định nghĩa của OCED, Doanh nghiệp Xã hội (DNXH) là những tổ chức hoạt động dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau, kết hợp tinh thần doanh nhân để đạt được đồng thời mục tiêu xã hội và kinh tế DNXH thường cung cấp các dịch vụ xã hội và tạo ra việc làm cho cộng đồng.

Định nghĩa về Doanh nghiệp Xã hội (DNXH) nhấn mạnh mục tiêu xã hội và kinh tế song song, với sự chú trọng đặc biệt đến nghĩa vụ trong giáo dục, văn hóa và môi trường Tuy nhiên, khái niệm này chưa làm nổi bật vai trò xã hội của DNXH như một sứ mệnh hoạt động Đồng thời, nó dễ bị nhầm lẫn với các doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội (CSR) tốt, mà thực tế nhiều doanh nghiệp chỉ thực hiện trách nhiệm này sau khi đã thành công, dẫn đến khả năng bỏ qua các hoạt động này nếu không mang lại lợi ích cho họ.

Theo CSIP, DNXH (doanh nghiệp xã hội) là hoạt động của các doanh nhân xã hội với nhiều hình thức khác nhau, nhằm mục đích xã hội và kinh tế Khái niệm này rộng rãi, giúp phát triển DNXH, nhấn mạnh vai trò của người sáng lập là những doanh nhân kết hợp sáng kiến xã hội và tinh thần doanh nhân Định nghĩa của CSIP không giới hạn về hình thức tổ chức hay địa lý, phù hợp với sự đa dạng của các tổ chức hỗ trợ xã hội tại Việt Nam DNXH cần theo đuổi cả hai mục tiêu xã hội và kinh tế, tuy nhiên, vấn đề phân bổ lợi nhuận chưa được làm rõ, đây là điểm yếu so với khái niệm của Chính phủ Anh.

Từ những phân tích ở trên, người viết cho rằng DNXH là DN hoạt động không vì lợi nhuận mà vì lợi ích của xã hội, của cộng đồng.

3 https://www.oecd.org/cfe/leed/socialenterprises.htm, truy cập ngày 30/3/2020

1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam

Từ định nghĩa về DNXH ở trên, có thể thấy, DNXH có 3 đặc điểm cơ bản sau đây:

Doanh nghiệp xã hội (DNXH) đặt lợi ích cộng đồng và xã hội lên hàng đầu, với sứ mệnh mang lại giá trị tốt đẹp cho xã hội ngay từ khi thành lập Đây là lý do tồn tại và là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của DNXH Khác với doanh nghiệp truyền thống, DNXH sử dụng hình thức kinh doanh như một công cụ để phục vụ lợi ích xã hội, không chỉ nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho chủ sở hữu.

Nguồn: tác giả tự tổng hợp

Biểu đồ 1.1 Sự khác biệt của DN truyền thống và DN xã hội

Doanh nghiệp xã hội (DNXH) cần có hoạt động kinh doanh để tồn tại và phát triển Khác với các tổ chức phi chính phủ hay phi lợi nhuận chỉ dựa vào tài trợ, DNXH phải cạnh tranh công bằng với doanh nghiệp truyền thống bằng cách cung cấp sản phẩm và dịch vụ chất lượng Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh của DNXH không đặt lợi nhuận lên hàng đầu mà ưu tiên lợi ích xã hội.

Doanh nghiệp xã hội (DNXH) có đặc điểm nổi bật là hoạt động vì lợi ích cộng đồng, không chỉ tập trung vào lợi nhuận cho các cổ đông Phần lớn lợi nhuận của DNXH được tái đầu tư nhằm phục vụ các mục tiêu xã hội, khẳng định sứ mệnh và chức năng của tổ chức này trong việc cải thiện đời sống và phát triển bền vững cho xã hội.

DNXH được phân bổ lại cho các hoạt động doanh nghiệp và cộng đồng, giúp làm rõ sự khác biệt giữa mục tiêu "vì lợi nhuận" và "vì xã hội" của các doanh nghiệp truyền thống và doanh nghiệp xã hội.

1.1.3 Phân loại doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam

Tại Việt Nam, mô hình doanh nghiệp xã hội (DNXH) có thể được phân loại theo tình trạng pháp lý và quá trình hình thành, phát triển qua các thời kỳ DNXH hoạt động đa dạng trong nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, tùy thuộc vào mục đích hoạt động của từng doanh nghiệp Dựa vào các tiêu chí cụ thể, có bốn loại hình DNXH chính được xác định.

1.1.3.1 Dựa trên tình trạng pháp lý của doanh nghiệp xã hội

DNXH ở Việt Nam được phân thành ba nhóm chính dựa trên tình trạng pháp lý: DNXH phi lợi nhuận, DNXH phục vụ công ích và DNXH hoạt động có lợi nhuận Trong đó, DNXH phi lợi nhuận là những tổ chức không nhằm mục đích kiếm lời, tập trung vào việc phục vụ lợi ích cộng đồng và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân.

Các doanh nghiệp xã hội phi lợi nhuận thường hoạt động dưới các hình thức như trung tâm, hội, quỹ, câu lạc bộ và nhóm tự nguyện, phục vụ cho những đối tượng như người khuyết tật, người sống chung với HIV/AIDS, và phụ nữ bị bạo hành Chúng được phát triển từ các tổ chức phi lợi nhuận (NGO) hoặc được hình thành với mô hình riêng ngay từ đầu Điểm khác biệt của các doanh nghiệp xã hội này là khả năng đưa ra giải pháp sáng tạo cho các vấn đề xã hội, từ đó thu hút được vốn đầu tư từ cá nhân và tổ chức có mục tiêu tác động xã hội Các doanh nghiệp này, do các tổ chức xã hội sáng lập, xác định rõ sự kết hợp giữa sứ mệnh xã hội và mục tiêu kinh tế, với mục tiêu kinh tế là phương tiện để phát triển xã hội Họ có nguồn thu bền vững từ hoạt động kinh doanh, và lợi nhuận thu được sẽ được tái đầu tư để mở rộng tác động xã hội Ví dụ, Công ty phục vụ năng lượng mặt trời (Solar Serve) có nguồn thu từ sản phẩm, dịch vụ tư vấn và tài trợ.

Trong năm 2014, nguồn thu của doanh nghiệp bao gồm 50% từ tư vấn, 20% từ bán hàng và 30% từ tài trợ Đến năm 2015, tỷ lệ này thay đổi với 30% từ tư vấn, 40% từ bán hàng và 30% từ tài trợ (Hội đồng Anh, CIEM, Đại học Kinh tế quốc dân, 2016, tr.11) Doanh nghiệp xã hội (DNXH) nổi bật với việc áp dụng các giải pháp sáng tạo và đòn bẩy thị trường để giải quyết các vấn đề xã hội và thách thức môi trường, khác biệt so với các tổ chức từ thiện hay doanh nghiệp thông thường Họ xây dựng kế hoạch kinh doanh cụ thể nhằm thu hút đầu tư từ các nhà đầu tư xã hội, tập trung vào việc tạo ra giá trị lợi ích cho cộng đồng thông qua các sản phẩm và dịch vụ nhân văn Việc hoạt động như một công ty với nguồn thu ổn định cho phép DNXH tự tái đầu tư vào các dự án khác hoặc hỗ trợ cộng đồng, mang lại sự đa dạng trong cơ hội kinh doanh mà không phụ thuộc vào lòng hảo tâm của cá nhân hay tổ chức khác.

Doanh nghiệp xã hội có sứ mệnh tạo ra thay đổi xã hội tích cực, đồng thời cung cấp cổ tức cho cổ đông và chia sẻ sứ mệnh xã hội với họ Chúng thường hoạt động dưới hình thức công ty TNHH hoặc tổ chức tài chính vi mô Tuy nhiên, việc phân loại các mô hình doanh nghiệp xã hội có lợi nhuận gặp khó khăn do thiếu minh bạch trong hồ sơ tài chính và báo cáo Thông tin về lợi nhuận thường không được kiểm toán và công bố một cách rõ ràng.

Khác với các mô hình doanh nghiệp xã hội phi lợi nhuận, doanh nghiệp xã hội có định hướng lợi nhuận ngay từ đầu đã nhận diện cơ hội và quyết tâm phát triển thành những doanh nghiệp có lợi nhuận Sứ mệnh của họ là tạo ra động lực cho những thay đổi tích cực trong xã hội và bảo vệ môi trường.

Tổng quan về hoạt động của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam

Khoản 1 Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Doanh nghiệp xã hội phải đáp ứng các tiêu chí sau đây: a) Là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật này; b) Mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng; c) Sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký.”

Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, doanh nghiệp xã hội được xác định là một loại hình doanh nghiệp, mặc dù mục tiêu chính của nó là thực hiện các nhiệm vụ và mục tiêu xã hội.

Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định bốn loại hình doanh nghiệp cơ bản, bao gồm Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh, Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổ phần Trong đó, Công ty hợp danh có chế độ trách nhiệm tài sản vô hạn cho các chủ sở hữu, trong khi Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổ phần áp dụng chế độ trách nhiệm tài sản hữu hạn cho các thành viên và cổ đông.

Chủ sở hữu khi thành lập doanh nghiệp xã hội cần lựa chọn một trong bốn mô hình đã được quy định và thực hiện đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh tương tự như các doanh nghiệp thông thường.

Doanh nghiệp xã hội (DNXH) là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, được thành lập với mục đích thể hiện trách nhiệm xã hội, bao gồm việc bảo vệ môi trường, bảo vệ lợi ích cộng đồng và giải quyết các vấn đề xã hội.

1.2.2 Các loại hình hoạt động của doanh nghiệp xã hội

Doanh nghiệp xã hội (DNXH) tại Việt Nam được thành lập theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, bao gồm ba loại hình chính: Công ty TNHH một thành viên, Công ty TNHH hai thành viên trở lên, và Công ty cổ phần.

Doanh nghiệp xã hội (DNXH) cần bổ sung các cam kết về mục tiêu xã hội và môi trường bên cạnh hồ sơ thành lập công ty thông thường Các cam kết này bao gồm: i) Các vấn đề xã hội hoặc môi trường mà DNXH sẽ giải quyết; ii) Phương pháp giải quyết các vấn đề đó; iii) Thời gian dự kiến để thực hiện các mục tiêu; iv) Tỷ lệ lợi nhuận hàng năm sẽ được tái đầu tư vào các hoạt động xã hội hoặc môi trường; v) Nguyên tắc sử dụng các khoản đóng góp và quy định về việc xử lý các khoản đóng góp trong trường hợp DNXH giải thể hoặc tái cấu trúc, cùng với các nghĩa vụ và hạn chế liên quan đến việc chuyển nhượng phần vốn góp.

1.2.2.1 Công ty trách nhiệm xã hội một thành viên

Doanh nghiệp xã hội (DNXH) là loại hình doanh nghiệp thuộc sở hữu của một tổ chức hoặc cá nhân, có quyền và nghĩa vụ như một công ty TNHH một thành viên Chủ sở hữu DNXH chịu trách nhiệm về tất cả các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản trong phạm vi vốn điều lệ DNXH chỉ được phép giảm vốn điều lệ trong những trường hợp nhất định.

Doanh nghiệp có thể hoàn trả một phần vốn góp của chủ sở hữu từ vốn điều lệ, nhưng phải đảm bảo đã hoạt động kinh doanh liên tục trên hai năm kể từ ngày đăng ký Ngoài ra, doanh nghiệp cần thanh toán đầy đủ tất cả các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác trước khi tiến hành hoàn trả vốn cho chủ sở hữu.

• Vốn điều lệ không được chủ sở hữu thanh toán đầy đủ và đúng hạn theo yêu cầu.

Chủ sở hữu doanh nghiệp xã hội chỉ được chuyển nhượng phần vốn góp cho các tổ chức hoặc cá nhân có khả năng tiếp tục thực hiện các hoạt động vì mục tiêu xã hội hoặc môi trường Đồng thời, họ cũng phải hoàn trả các ưu đãi, viện trợ và hỗ trợ đã nhận, cũng như bồi thường thiệt hại nếu vi phạm cam kết doanh nghiệp xã hội.

Doanh nghiệp xã hội (DNXH) có thể có một hoặc nhiều đại diện ủy quyền Nếu chỉ có một người được bổ nhiệm, người đó sẽ giữ chức vụ chủ tịch và doanh nghiệp sẽ được quản lý bởi chủ tịch, tổng giám đốc và thanh tra viên Trong trường hợp có hai hoặc nhiều người được chỉ định, DNXH sẽ được quản lý bởi hội đồng thành viên, tổng giám đốc và thanh tra viên hoặc ủy ban kiểm tra Công ty TNHH cần có ít nhất hai thành viên trở lên.

1.2.2.2 Công ty trách nhiệm xã hội hai thành viên trở lên

Doanh nghiệp xã hội dưới hình thức Công ty TNHH hai thành viên trở lên là một loại hình doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhiều cá nhân hoặc tổ chức Doanh nghiệp này có thể có tối đa 50 thành viên, và mỗi thành viên chỉ chịu trách nhiệm về nợ nần và nghĩa vụ tài sản trong phạm vi vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp.

DNXH có thể giảm vốn điều lệ trong các trường hợp sau:

Doanh nghiệp có thể hoàn trả một phần vốn góp cho thành viên từ vốn điều lệ, nhưng chỉ khi doanh nghiệp xã hội đã hoạt động kinh doanh liên tục trên hai năm kể từ ngày đăng ký Đồng thời, doanh nghiệp phải đảm bảo thanh toán đầy đủ tất cả các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác trước khi thực hiện việc hoàn trả vốn cho thành viên.

• Doanh nghiệp mua lại phần vốn góp của thành viên trong một số trường hợp được quy định theo Luật Doanh nghiệp;

• Vốn điều lệ không được các thành viên thanh toán đầy đủ và đúng hạn theo yêu cầu.

DNXH cần có một hội đồng thành viên, một chủ tịch và một giám đốc hoặc tổng giám đốc Hội đồng thành viên là cơ quan quyết định cao nhất, bao gồm tất cả các thành viên của doanh nghiệp Theo quy định, doanh nghiệp phải có ít nhất một đại diện pháp lý thường trú tại Việt Nam, mặc dù có thể có nhiều đại diện Doanh nghiệp cũng có thể thành lập ủy ban kiểm tra, bắt buộc nếu có từ 11 thành viên trở lên Các nghị quyết của hội đồng cần được phê chuẩn bởi ít nhất 65% tổng số vốn của các thành viên tham dự, và tỷ lệ cao hơn có thể được quy định trong điều lệ Những quyết định đặc biệt như bán 50% tài sản, sửa đổi điều lệ hoặc giải thể cần có sự phê duyệt của 75% tổng số vốn của các thành viên tham dự.

Doanh nghiệp xã hội có thể được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, trong đó vốn điều lệ được chia thành các cổ phần bằng nhau Cổ đông, bao gồm cả tổ chức và cá nhân, yêu cầu tối thiểu ba người và không giới hạn số lượng tối đa Mỗi cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi vốn đã góp Ngoài một số ngoại lệ, cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình.

Nghiên cứu kinh nghiệm từ nước ngoài

1.3.1 Kinh nghiệm của Hoa Kỳ

1.3.1.1 Cách hiểu về doanh nghiệp xã hội

Doanh nghiệp xã hội ở Hoa Kỳ được hiểu rộng rãi hơn, tập trung vào việc tạo doanh thu, bao gồm cả các tổ chức lợi nhuận tham gia hoạt động xã hội và các doanh nghiệp có mục tiêu kép kết hợp lợi nhuận với các mục tiêu xã hội Các tổ chức phi lợi nhuận có thể hoạt động dưới nhiều hình thức như liên doanh thương mại, công ty con vì lợi nhuận và phi lợi nhuận, cũng như quan hệ đối tác với doanh nghiệp để tiếp thị Ngoài ra, các tổ chức phi lợi nhuận tại Mỹ vẫn chú trọng vào việc tạo doanh thu bên cạnh các hoạt động tư vấn và học thuật trong lĩnh vực doanh nghiệp xã hội.

Doanh nghiệp xã hội do các tổ chức phi lợi nhuận thành lập có thể hoạt động dưới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm liên doanh thương mại nội bộ, công ty con vì lợi nhuận và phi lợi nhuận, cũng như các quan hệ đối tác trong lĩnh vực tiếp thị Bên cạnh đó, các công ty tư vấn và học thuật về doanh nghiệp xã hội tại Hoa Kỳ cũng cho thấy rằng các tổ chức phi lợi nhuận vẫn chú trọng vào việc tạo ra doanh thu.

1.3.1.2 Môi trường thể chế của doanh nghiệp xã hội

Chiến lược phát triển doanh nghiệp xã hội tại Hoa Kỳ bắt đầu từ những năm 1980-1990, với sự hỗ trợ từ các quỹ như Quỹ Kellogg, Quỹ Kauffman và Quỹ Rockefeller nhằm thu thập thông tin và tạo ra quỹ hỗ trợ Một số quỹ khác, như Quỹ phát triển doanh nghiệp Roberts và Quỹ Goldman Sachs, tập trung vào khởi nghiệp và tổ chức các cuộc thi cho doanh nghiệp xã hội Các tổ chức phi lợi nhuận, mặc dù ít về số lượng, đã cung cấp tư vấn, tài trợ hạt giống và kết nối với các bên liên quan trong cộng đồng doanh nghiệp xã hội Đội ngũ đa dạng của họ giúp thúc đẩy sự kết nối trong cộng đồng, và nhiều công ty tư vấn sẵn sàng hỗ trợ các doanh nghiệp xã hội về hoạt động và kinh doanh.

Từ những năm 1950, chính phủ liên bang Hoa Kỳ đã áp dụng Thuế thu nhập doanh nghiệp không liên quan (UBIT) để đánh thuế doanh thu phi lợi nhuận không liên quan đến các tổ chức miễn thuế nhằm đáp ứng các mục tiêu cụ thể Theo IRS, thuế thu nhập doanh nghiệp không liên quan được định nghĩa là thu nhập từ các hoạt động thương mại hoặc doanh nghiệp thường xuyên, không liên quan đáng kể đến hiệu suất hoạt động của tổ chức, ngoại trừ việc tổ chức cần lợi nhuận từ các hoạt động này.

1.3.1.3 Những khó khăn đối với doanh nghiệp xã hội Ở Hoa Kỳ, mặc dù DNXH đang có sự tăng trưởng nhanh nhưng DNXH gặp nhiều khó khăn thách thức từ việc loại trừ các nhóm cụ thể, sự suy yếu của kinh tế xã hội và thiếu sự quan tâm của chính phủ.

Các doanh nghiệp xã hội có thể gặp phải tình huống ngoài ý muốn dẫn đến việc loại trừ các nhóm thiệt thòi Chẳng hạn, việc thu phí dịch vụ để tạo doanh thu có thể khiến những người không đủ khả năng chi trả bị loại ra khỏi dịch vụ Hơn nữa, khi các hoạt động của doanh nghiệp xã hội tập trung vào việc tạo ra lợi nhuận hoặc ưu tiên các hoạt động mang lại giá trị cao hơn, nhóm dễ bị tổn thương lại càng dễ bị bỏ rơi.

Các tổ chức phi lợi nhuận hiện nay đang ngày càng chú trọng vào việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng cá nhân, thay vì tập trung vào những người thiệt thòi thông qua cung cấp hàng hóa công cộng Điều này khiến doanh nghiệp xã hội ở Mỹ lo ngại rằng xu hướng thị trường hóa của các tổ chức phi lợi nhuận có thể làm lệch lạc mục tiêu xã hội ban đầu của họ.

1.3.1.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Chủ nghĩa cá nhân tại Hoa Kỳ cao hơn đáng kể so với Việt Nam, với người dân được khuyến khích phát triển đam mê cá nhân và tự do hành động Doanh nghiệp xã hội (DNXH) tại Hoa Kỳ thường đặt mục tiêu vật chất cao hơn, nhưng cũng đối mặt với sự không chắc chắn trong hoạt động kinh doanh Ngược lại, Việt Nam có chủ nghĩa cá nhân thấp và chưa khuyến khích phát triển đam mê cá nhân, trong khi văn hóa Việt Nam chú trọng vào giá trị cuộc sống hơn là giá trị vật chất Chính phủ Hoa Kỳ chưa quy định rõ ràng về DNXH, dẫn đến việc doanh nghiệp tập trung vào lợi nhuận mà không nhất thiết phải đóng góp cho xã hội Nhu cầu về định nghĩa pháp lý rõ ràng cho các tổ chức phi lợi nhuận tham gia vào hoạt động tạo doanh thu đang là một rào cản Nếu Chính phủ Mỹ quan tâm hơn đến DNXH, sẽ có nhiều cơ hội phát triển cho lĩnh vực này Trong khi đó, Việt Nam đã có quy định về DNXH nhưng chưa có chính sách thuế hỗ trợ như Hoa Kỳ, điều này tạo ra bài học cho Việt Nam trong việc xây dựng quy định và áp dụng chính sách ưu đãi thuế cho DNXH, nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động và phát triển bền vững.

1.3.2 Kinh nghiệm của Liên minh Châu Âu

1.3.2.1 Sự hình thành và phát triển doanh nghiệp xã hội Ở EU, các doanh nghiệp xã hội có nhiều hình thức bao gồm ủy thác phát triển nhân viên, công ty xã hội, tổ chức thị trường lao động trung gian, doanh nghiệp cộng đồng hoặc tổ chức giao dịch từ thiện. Ở EU, doanh nghiệp xã hội xuất hiện muộn hơn ở Hoa Kỳ và tập trung vào phát triển đồng thời các dịch vụ và đa dạng hóa việc tạo doanh thu trong khu vực người thiệt thòi và không thể tìm được việc làm trong các doanh nghiệp thông thường Với sự sụt giảm trong tăng trưởng kinh tế và thất nghiệp gia tăng bắt đầu từ cuối những năm 1970 và tiếp tục vào những năm 1990, nhiều quốc gia phúc lợi EU đã rơi vào khủng hoảng khi nhiều quốc gia trong EU đã trải qua sự gia tăng tỷ lệ thất nghiệp từ 3% hoặc 4% lên hơn 10% (Jacques Defourny, 2008,tr.202-tr.228).Trong những năm 1990, hơn 40% người thất nghiệp ở châu Ầu (không có việc làm trong hơn một năm) cao hơn rất nhiều so với 12% ở Hoa Kỳ và 15% ở Nhật Bản(Jacques Defourny, 2016) Do tình trạng thất nghiệp ngày càng tăng, một số nhu cầu dịch vụ xã hội đã nảy sinh mà không có các chương trình chính sách công phù hợp.Các doanh nghiệp xã hội, , bắt đầu đáp ứng các nhu cầu như giải quyết các vấn đề nhà ở của các nhóm người thiệt thòi, dịch vụ chăm sóc trẻ em để đáp ứng nhu cầu mới do thay đổi kinh tế xã hội, dịch vụ mới cho người già do dân số già hóa nhanh chóng và những thay đổi trong cấu trúc gia đình, các sáng kiến tái tạo đô thị, các chương trình việc làm cho những người thất nghiệp dài hạn, Hầu hết các doanh nghiệp xã hội tiên phong ở EU được thành lập vào những năm 1980 bởi các cá nhân, các tác nhân xã hội: nhân viên xã hội, các chiến binh liên kết và đại diện của các tổ chức dành cho người thiệt thòi, đôi khi với chính là những người lao động thất nghiệp dài hạn Do đó, các loại dịch vụ được hỗ trợ bởi doanh nghiệp xã hội ở

So với Mỹ, EU có sự hỗ trợ hạn chế hơn cho doanh nghiệp xã hội, vì các doanh nghiệp này thường tập trung vào những lĩnh vực cụ thể mà nhà nước phúc lợi không thể đáp ứng nhu cầu.

1.3.2.2 Môi trường thể chế của doanh nghiệp xã hội

Môi trường thể chế hỗ trợ doanh nghiệp xã hội (DNXH) ngày càng gắn bó với sự hỗ trợ từ Chính phủ và EU Mặc dù làn sóng DNXH đầu tiên ở EU ra đời mà không có sự hỗ trợ cụ thể, nhưng những năm 1990 đã chứng kiến sự phát triển của các chương trình công cộng tại nhiều quốc gia Ở Vương quốc Anh, Bộ Thương mại và Công nghiệp đã thành lập Đơn vị Doanh nghiệp Xã hội để thực hiện chương trình hỗ trợ DNXH nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp này Tại Ireland, chính phủ đã bắt đầu hỗ trợ DNXH từ những năm 1980 để chống lại tình trạng thất nghiệp, thông qua chương trình Doanh nghiệp Cộng đồng quốc gia Ở Phần Lan, Bộ Lao động đã hợp tác với Viện Nghiên cứu Hợp tác tại Đại học Helsinki để phát triển tài liệu hướng dẫn về việc thành lập hợp tác xã Tuy nhiên, các DNXH thường phụ thuộc vào các khoản trợ cấp công cộng, chủ yếu là tạm thời, nhằm khởi động các sáng kiến và hỗ trợ người lao động trong thời gian thất nghiệp.

1.3.2.3 Những khó khăn đối với doanh nghiệp xã hội

Doanh nghiệp xã hội ở EU đang đối mặt với nhiều thách thức do sự đa dạng trong cách tiếp cận Trước hết, số lượng dịch vụ mà các doanh nghiệp xã hội cung cấp còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào việc hỗ trợ người thiệt thòi mà chưa mở rộng sang các lĩnh vực như môi trường và văn hóa Hơn nữa, các doanh nghiệp xã hội cũng gặp khó khăn trong việc tham gia vào các hoạt động tiếp thị và kinh doanh sản phẩm, điều này cản trở sự tăng trưởng bền vững của họ.

Nhiều quốc gia Tây Âu, tương tự như Hoa Kỳ, đang đối mặt với sự thiếu hụt khung pháp lý rõ ràng cho doanh nghiệp xã hội (DNXH) Chính phủ chỉ công nhận và quy định pháp lý cho DNXH cùng với các chính sách xã hội liên quan đến tiềm năng giải quyết nạn thất nghiệp và cung cấp dịch vụ đa dạng Hiện tại, một số nước EU đã bắt đầu điều chỉnh pháp luật để đáp ứng nhu cầu này, và nhiều địa phương đang yêu cầu chính phủ hạn chế cung cấp hàng hóa và dịch vụ trong một số lĩnh vực, nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động của DNXH.

1.3.2.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

So với châu Âu, doanh nghiệp xã hội (DNXH) tại Việt Nam được pháp luật công nhận và hoạt động đa dạng trong nhiều lĩnh vực, mở ra nhiều tiềm năng phát triển Tuy nhiên, các cơ quan nhà nước cần giao thêm dịch vụ và sản phẩm công cho DNXH nhằm giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước và tăng cường nhu cầu sử dụng sản phẩm của DNXH, đây là bài học kinh nghiệm quý giá từ EU.

Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam hiện nay được xem là mô hình kết hợp giữa tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận và doanh nghiệp tư nhân Các hình thức pháp lý của doanh nghiệp xã hội có thể đa dạng, bao gồm NGO, công ty TNHH, công ty cổ phần, hợp tác xã, quỹ và hiệp hội.

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI

Ngày đăng: 04/08/2021, 16:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Lưu Minh Đức, 2008, Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Thế nào là đủ?, NXB Trẻ thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Thế nào là đủ
Nhà XB: NXB Trẻ thành phố Hồ Chí Minh
6. Nguyễn Thường Lạng, 2012, Tiềm năng phát triển doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam, NXB Thông tin và Truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiềm năng phát triển doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam
Nhà XB: NXB Thông tin và Truyền thông
10. Catherine Phương, 2019, Báo cáo tại Hội nghị “Doanh nghiệp xã hội và phát trển bền vững” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại Hội nghị “Doanh nghiệp xã hội và phát trển bền vững
15. Nguyễn Hải Hữu , 2011, Những vấn đề cơ bản của Chương trình bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015”, truy cập ngày 23/5/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của Chương trình bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015”
16. Lê Thi, 2012, Xu hướng già hóa dân số ở Việt Nam hiện nay và việc phát huy vai trò tích cực của người cao tuổi” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng già hóa dân số ở Việt Nam hiện nay và việc phát huyvai trò tích cực của người cao tuổi
24. Jacques Defourny, 2008, Social enterprise in Europe: Recent trends and developments in Social Enterprise Journal4(3), tr.202-tr.228 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social enterprise in Europe: Recent trends and developments in Social Enterprise Journal4(3)
25. Harri Kostilainen, 2019, Social Enterprises and their ecosystems in Europe III. Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social Enterprises and their ecosystems in Europe
26. Luật định vai trò của doanh nghiệp xã hội,https://dangkykinhdoanh.gov.vn/vn/tin-tuc/598/3514/luat-dinh-vai-tro-cua-doanh-nghiep-xa-hoi.aspx, truy cập ngày 2/2/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật định vai trò của doanh nghiệp xã hội
27. Hội đồng Anh, 2018, Doanh nhân xã hội tại Việt Namhttp://www.britishcouncil.vn/doanh-nhan-xa-hoi-tai-viet-nam-ban-tin-thang-11 , truy cập ngày 20/4/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nhân xã hội tại Việt Nam
28. Hoàng Ngọc Hải, Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tếhttp://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/trach-nhiem-xa-hoi-cua-doanh- nghiep-viet-nam-trong-boi-canh-hoi-nhap-quoc-te-310809.html, truy cập ngày 30/4/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
29. 5 điều cần biết về các doanh nghiệp xã hội Hàn Quốchttps://www.innov8social.com/2015/01/social-enterprise-in-south-korea-5-facts, truy cập ngày 16/5/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 5 điều cần biết về các doanh nghiệp xã hội Hàn Quốc
30. Trung tâm Spark, 2010, Untapped Market Social Enterprise in the health and agriculture sectors in Viet Nam,http://spark.org.vn/wp-content/uploads/2010/08/Untapped_Market_Social- Enterprises_in_the_health_and_agriculture_sectors_in_vietnam.pdf, truy cập ngày 18/5/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Untapped Market Social Enterprise in the health and agriculture sectors in Viet Nam
2. Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ quy định định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp Khác
3. Nghị định số 93/2019/NĐ-CP ngày 25 tháng 11 năm 2019 của Chỉnh phủ quy định về tổ chức, hoạt động của Quỹ xã hội, Quỹ từ thiện Khác
7. CSIP, Hội đồng Anh Việt Nam, Trung tâm Spark, 2011, Báo cáo Kết quả Khảo sát Doanh nghiệp Xã hội Việt Nam Khác
8. CSIP – Invest Consults - MSD, 2010, Cẩm nang pháp lý cho Doanh nhân và Doanh nghiệp xã hội Khác
9. CIEM, Hội đồng Anh Việt Nam, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 2016, Điển hình doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam Khác
11. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, UNDP, 2018, Thúc đẩy Phát triển khu vực doanh nghiệp tạo tác động xã hội tại Việt Nam Khác
12. CSIP, 2020, Báo cáo khảo sát tác động của đại dịch Covid-19 tới các doanh nghiệp tạo tác động xã hội Khác
13. Đại học Kinh tế quốc dân, 2017, Kỷ yếu hội thỏa quốc tế về tinh thần kinh doanh vì xã hội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w