1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải Pháp Phát Triển Hoạt Động Kinh Doanh Thẻ Tại Ngân Hàng Thương

95 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Phát Triển Hoạt Động Kinh Doanh Thẻ Tại Ngân Hàng Thương
Tác giả Phạm Kim Thông
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Đăng Dờn
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Tp.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài Chính - Ngân Hàng
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2010
Thành phố Tp.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 0,99 MB

Cấu trúc

  • BÌA

  • MỤC LỤC

  • DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HÌNH VÀ SƠ ĐỒ

  • LỜI MỞ ĐẦU

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠIVÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ CỦA NGÂN HÀNGTHƯƠNG MẠI

    • 1.1 Tổng quan về thẻ ngân hàng

    • 1.2 Nội dung hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng thương mại

    • 1.3 Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàngthương mại

    • 1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng

  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNGKINH DOANH THẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔPHẦN XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM

    • 2.1 Giới thiệu chung về Eximbank

    • 2.2 Thực trạng chung về hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng thương mạiở Việt Nam

    • 2.3 Thực trạng phát triển hoạt động kinh doanh thẻ của Eximbank trong giaiđoạn 2008-2010

  • CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THẺTẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẨN XUẤT NHẬPKHẨU VIỆT NAM

    • 3.1 Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh thẻ của Eximbank từ nay đếnnăm 2015

    • 3.2 Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh thẻ tại Eximbank

  • KẾT LUẬN CHUNG

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tổng quan về thẻ ngân hàng

Thẻ ngân hàng xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào đầu thế kỷ 20 Nó ra đời năm

Vào năm 1914, Tổng công ty xăng dầu California đã cấp thẻ cho nhân viên và khách hàng nhằm khuyến khích bán sản phẩm Thẻ ngân hàng đầu tiên xuất hiện vào năm 1945 với Charge-It của ngân hàng John Biggins, cho phép khách hàng mua hàng tại các cửa hàng bán lẻ Năm 1951, ngân hàng Franklin National phát hành thẻ tín dụng đầu tiên, tiếp theo là sự ra đời của nhiều loại thẻ mới ở Mỹ vào năm 1955 Năm 1958, American Express giới thiệu thẻ Card Balanche, chiếm lĩnh thị trường, và năm 1960, Bank of America phát hành thẻ Bank Americard Đến năm 1966, Hiệp hội thẻ liên ngân hàng quốc tế (ICA) được thành lập, cho ra đời thẻ Master Charge Năm 1977, Bank America đổi tên thành Visa USA, trở thành tổ chức thẻ quốc tế lớn nhất Năm 1979, Master Charge đổi tên thành MasterCard, trở thành đối thủ chính của Visa Hiện nay, Visa và MasterCard là hai tổ chức thẻ quốc tế lớn nhất, cùng với AMEX và JCB, cung cấp nhiều sản phẩm thẻ đa dạng trên toàn cầu.

1.1.2 Khái niệm, cấu trúc, phân loại thẻ ngân hàng

1.1.2.1 Khái niệm về thẻ ngân hàng:

Theo Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng được ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/05/2007, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam định nghĩa thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ cung cấp để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản đã được các bên thỏa thuận.

1.1.2.2 Cấu trúc của thẻ ngân hàng:

Hình 1.1 Cấu trúc thẻ ngân hàng

Hầu hết thẻ hiện nay có hình chữ nhật với bốn góc tròn, được sản xuất từ nhựa ABC hoặc PC Chúng được cấu tạo bởi ba lớp được ép chặt với kỹ thuật cao, có kích thước chuẩn là 85mm x 54mm x 0,76mm.

Mặt trước: thường bao gồm các yếu tố cơ bản sau:

Tên và biểu tượng của ngân hàng phát hành thẻ, bao gồm huy hiệu và logo, được thiết kế với công nghệ tiên tiến nhằm ngăn chặn tình trạng giả mạo.

Bộ nhớ điện tử, thường được gọi là "chip", là thành phần quan trọng trong các thẻ thông minh, nơi lưu trữ các dữ liệu liên quan đến chủ thẻ.

Số thẻ là tài khoản riêng biệt cho từng chủ thẻ, thường được dập nổi trên thẻ và in trên hóa đơn khi thanh toán Mỗi loại thẻ có số lượng chữ số và cấu trúc phân nhóm khác nhau.

Tên của chủ thẻ được in nổi trên thẻ thanh toán, không thể chuyển đổi giữa các thẻ Đối với thẻ cá nhân, tên in trên thẻ là của người sở hữu, trong khi thẻ công ty sẽ hiển thị tên của doanh nghiệp.

Thẻ ngân hàng có thời hạn hiệu lực từ 6 đến 36 tháng, tùy thuộc vào chính sách của từng ngân hàng phát hành Khi thẻ hết hạn, chủ thẻ cần thực hiện thủ tục gia hạn để tiếp tục sử dụng.

Mặt sau: Bao gồm các yếu tố cơ bản sau:

Dãy băng từ trên thẻ có khả năng lưu trữ thông tin mã hóa như số thẻ, tên chủ thẻ, tên ngân hàng phát hành và mã số cá nhân Khi quét qua máy rút tiền tự động (ATM) hoặc máy cấp phép tự động (POS), dữ liệu này sẽ được đọc và chuyển về trung tâm thẻ qua mạng thông tin Đối với thẻ quốc tế, thông tin sẽ được truyền về ngân hàng phát hành qua hệ thống thông tin của hiệp hội phát hành thẻ quốc tế, chẳng hạn như hệ thống BASE-1 của VisaCard hoặc INAS của MasterCard.

Băng chữ ký của chủ thẻ là một dải giấy nằm ngay dưới dãy băng từ, chứa chữ ký của chủ thẻ Khi thực hiện thanh toán tại các cơ sở chấp nhận thẻ, nhân viên sẽ đối chiếu chữ ký trên hóa đơn với chữ ký mẫu trên băng chữ ký và kiểm tra thông tin tên, địa chỉ của ngân hàng phát hành.

1.1.2.3 Phân loại thẻ ngân hàng:

Thẻ ngân hàng rất đa dạng và phục vụ nhiều mục đích khác nhau Để hiểu rõ hơn về tính năng và lợi ích của thẻ, chúng ta có thể phân loại thẻ theo các tiêu chí nhất định.

 Xét theo công nghệ sản xuất: thẻ có 3 loại:

Thẻ khắc chữ nổi, loại thẻ sơ khai ban đầu, được sản xuất bằng kỹ thuật khắc chữ nổi với thông tin cần thiết trên bề mặt Tuy nhiên, hiện nay loại thẻ này đã không còn được sử dụng do kỹ thuật sản xuất thô sơ, tính bảo mật kém và dễ bị làm giả.

Thẻ băng từ (magnetic stripe) là loại thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật thư tín, với bề mặt phủ một băng từ chứa 2 hoặc 3 rãnh để ghi các thông tin đã được mã hóa Những thông tin này thường bao gồm dữ liệu cố định về chủ thẻ và số liệu kết nối Thẻ băng từ hiện đang được sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực.

Trong 20 năm qua, thẻ từ đã bộc lộ một số nhược điểm trong bối cảnh công nghệ phát triển, bao gồm khả năng bị lợi dụng cao do thông tin trên thẻ không được mã hóa, dễ dàng bị đọc bởi thiết bị kết nối máy tính Thẻ từ chỉ chứa thông tin cố định với khu vực lưu trữ hạn chế, không áp dụng các kỹ thuật mã hóa an toàn Những yếu điểm này đã dẫn đến việc thẻ từ bị lợi dụng để lấy cắp tiền trong những năm gần đây.

Thẻ thông minh, hay còn gọi là thẻ chip, là loại thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật vi xử lý, với một chip điện tử hoạt động như một máy tính nhỏ để lưu trữ dữ liệu và thông tin khách hàng Thẻ này có nhiều loại với dung lượng bộ nhớ chip khác nhau, đại diện cho thế hệ mới nhất trong công nghệ thanh toán Thẻ thông minh khắc phục nhiều nhược điểm của thẻ khắc chữ nổi và thẻ băng từ, giúp giảm thiểu rủi ro giả mạo và nâng cao tính an toàn Tuy nhiên, chi phí đầu tư để phát triển hệ thống thẻ thông minh là khá cao.

 Xét theo phạm vi sử dụng: có 2 loại thẻ:

Nội dung hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng thương mại

Việc phát hành và thanh toán thẻ cần tuân thủ các quy định pháp luật của nhà nước nơi thẻ được phát hành, bao gồm các quy chế do Ngân hàng Nhà nước ban hành Đối với thẻ quốc tế, ngân hàng phải có sự đồng ý của tổ chức thẻ quốc tế thông qua hợp đồng ký kết và phải tuân thủ các luật lệ cùng quy định hiện hành của các tổ chức này.

1.2.1.2 Các chủ thể tham gia thị trường thẻ

Trong nghiệp vụ phát hành và thanh toán thẻ gồm nhiều đối tượng tham gia nhưng cơ bản có các chủ thể sau:

Ngân hàng phát hành là tổ chức được Ngân hàng Nhà nước cấp phép phát hành thẻ, và nếu là thẻ quốc tế, ngân hàng phải là thành viên chính thức của các tổ chức thẻ quốc tế Để đảm bảo hiệu quả kinh tế từ việc phát hành thẻ, ngân hàng cần phải có uy tín cao cả trong nước lẫn quốc tế.

 Ngân hàng thanh toán và ngân hàng đại lý:

Ngân hàng thanh toán thẻ là các ngân hàng được ủy quyền bởi ngân hàng phát hành thẻ để thực hiện giao dịch thanh toán thẻ Để chấp nhận thanh toán thẻ quốc tế, ngân hàng này cần phải là thành viên chính thức hoặc có liên kết với tổ chức thẻ quốc tế.

Ngân hàng đại lý thanh toán thẻ là ngân hàng được ủy quyền bởi ngân hàng phát hành thẻ để thực hiện các dịch vụ chấp nhận thanh toán thẻ, dựa trên hợp đồng ngân hàng đại lý.

Cơ sở chấp nhận thẻ là các tổ chức hoặc cá nhân cung cấp hàng hóa và dịch vụ, đồng thời chấp nhận thẻ như phương tiện thanh toán Sau khi ký hợp đồng, các cơ sở này phải tuân thủ các quy định về thanh toán thẻ do ngân hàng thanh toán đặt ra.

 Chủ thẻ: là người được ngân hàng phát hành cấp thẻ để sử dụng

Chủ thể là người duy nhất có quyền sử dụng thẻ của mình, với mỗi thẻ được ngân hàng phát hành kèm theo một số PIN riêng Chủ thể có thể sử dụng thẻ để thanh toán cho hàng hóa và dịch vụ tại các cơ sở chấp nhận thẻ, cũng như rút tiền mặt tại ATM hoặc các điểm rút tiền khác.

Người chịu trách nhiệm thanh toán là cá nhân hoặc tổ chức liên quan đến việc phát hành và thanh toán thẻ tín dụng Đối với thẻ cá nhân, đó là chủ thẻ chính, còn đối với thẻ doanh nghiệp, là công ty cấp thẻ cho cá nhân sử dụng Người này có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ các khoản chi tiêu phát sinh từ việc sử dụng thẻ tín dụng.

Trung tâm thẻ là cơ quan quản lý trung ương, đại diện cho các ngân hàng trong quan hệ quốc tế về phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ Trung tâm này chịu trách nhiệm điều hành các hoạt động phát hành, cấp phép, tra soát và thanh toán thẻ, đồng thời quản lý rủi ro Ngoài ra, trung tâm còn đóng vai trò là cầu nối trong việc phát hành và thanh toán thẻ giữa các chi nhánh trong hệ thống ngân hàng.

Tổ chức thẻ quốc tế là hiệp hội các tổ chức tài chính và tín dụng tham gia vào việc phát hành và thanh toán thẻ quốc tế Hiện nay, các tổ chức này bao gồm Visa, MasterCard, American Express và JCB.

1.2.1.3 Nguyên tắc phát hành và thanh toán thẻ

Thẻ tín dụng được phát hành dựa trên nguyên tắc cho vay ngắn hạn, cung cấp cho khách hàng một tài khoản tín dụng với hạn mức sử dụng trong chu kỳ tín dụng Hạn mức tín dụng của khách hàng nằm trong tổng mức cho vay chung, không vượt quá giới hạn cho vay tối đa của ngân hàng theo quy định pháp luật Khách hàng cần có đảm bảo bằng thế chấp hoặc tín chấp để được phát hành thẻ Nếu sử dụng tín chấp, ngân hàng sẽ xem xét khả năng trả nợ của khách hàng, trong khi thế chấp phải là tài sản có giá trị tương đương với hạn mức tín dụng Tài sản thế chấp thường là tài khoản cá nhân hoặc các khoản tiết kiệm, trong khi thẻ ghi nợ được phát hành dựa trên số dư tiền gửi tại ngân hàng.

Quy trình phát hành thẻ tại ngân hàng bao gồm việc quản lý và triển khai toàn bộ các bước từ phát hành thẻ, sử dụng thẻ cho đến thu hồi nợ của khách hàng, đặc biệt là đối với thẻ tín dụng.

Sơ Đồ 1.1 Quy trình phát hành thẻ

(1) Khách hàng đến ngân hàng đề nghị được phát hành thẻ

Khách hàng Tiếp nhận hồ sơ Thẩm định hồ sơ

Giao nhận thẻ In PIN, thẻ Phân loại khách hàng

Khi khách hàng muốn phát hành thẻ, họ cần đến ngân hàng để thực hiện các thủ tục cần thiết, bao gồm điền vào giấy đề nghị sử dụng thẻ và xuất trình một số giấy tờ như chứng minh thư hoặc hộ chiếu.

Bộ phận thẩm định sẽ xem xét và xác thực hồ sơ khách hàng để quyết định cấp thẻ hoặc từ chối Ngân hàng kiểm tra tính chính xác của hồ sơ, tình hình tài chính của công ty, thu nhập thường xuyên của cá nhân trong trường hợp xin thẻ tín dụng tín chấp, số dư tài khoản khách hàng (đối với thẻ ghi nợ) và lịch sử tín dụng trước đó Sau khi hồ sơ được chấp thuận, ngân hàng sẽ tiến hành ký hợp đồng với khách hàng.

Ngân hàng tiến hành phân loại khách hàng sau khi xác nhận hồ sơ phát hành thẻ hợp lệ Đối với thẻ ghi nợ, quy trình đơn giản hơn vì khách hàng đã có tài khoản tại ngân hàng Trong khi đó, thẻ tín dụng yêu cầu ngân hàng phải xếp loại khách hàng để xây dựng chính sách tín dụng phù hợp.

Trong quy trình dập nổi thẻ và PIN, các ngân hàng sử dụng kỹ thuật riêng để in thông tin cần thiết lên thẻ, bao gồm số thẻ, thời gian hiệu lực và mã số ngân hàng Đồng thời, mã số cá nhân (PIN) cũng được mã hóa và định dạng cho chủ thẻ Sau đó, thẻ và PIN được đóng gói cẩn thận vào từng phong bì để gửi đến các chi nhánh ngân hàng hoặc trực tiếp đến tay chủ thẻ.

Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng

1.4.1.1 Chính sách phát triển kinh doanh thẻ

Hiện nay, các ngân hàng thương mại đang chú trọng phát triển dịch vụ thẻ nhằm tăng lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro Để đạt được điều này, ngân hàng cần xây dựng nền tảng vững chắc cho hoạt động thẻ thông qua việc hoạch định chính sách phát triển kinh doanh, bao gồm đầu tư công nghệ, phát triển nguồn lực cán bộ và xây dựng quy chế, quy trình nghiệp vụ Đồng thời, ngân hàng cũng cần triển khai các chiến lược phát triển thẻ, tập trung vào việc tạo ra giá trị gia tăng, nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm và dịch vụ thẻ, cũng như mở rộng mạng lưới hoạt động để định hướng phát triển bền vững trong tương lai.

Một trong những chính sách quan trọng nhất để thúc đẩy sự phát triển của hoạt động thẻ là công tác PR và Marketing PR và Marketing bao gồm các chương trình tìm kiếm khách hàng, nâng cao thương hiệu ngân hàng và giới thiệu sản phẩm đến tay khách hàng, từ đó giúp họ dễ dàng tiếp cận và lựa chọn hình thức thanh toán thẻ, trở thành khách hàng trung thành Do đó, ngân hàng cần chú trọng xây dựng các chính sách Marketing tổng thể, đẩy mạnh khuyếch trương sản phẩm và chăm sóc khách hàng trước, trong và sau khi bán hàng Những yếu tố này sẽ tạo ra sự khác biệt cho dịch vụ thẻ của ngân hàng, mang lại giá trị gia tăng mà khách hàng mong đợi.

1.4.1.2 Tổ chức và quản lý nguồn lực cho hoạt động kinh doanh thẻ:

Thẻ ngân hàng là một lĩnh vực mới, yêu cầu ứng dụng công nghệ hiện đại trong hệ thống ngân hàng Để đảm bảo hoạt động ổn định, an toàn và hiệu quả cao, đội ngũ nhân viên thẻ cần có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng máy tính và khả năng ngoại ngữ lưu loát.

1.4.1.3 Công nghệ và tiện ích thẻ

Thanh toán thẻ yêu cầu hệ thống máy móc hiện đại như máy chủ tiêu chuẩn quốc tế, máy cà thẻ và máy ATM Nếu hệ thống này gặp sự cố, toàn bộ quy trình sẽ bị ảnh hưởng Do đó, ngân hàng cần đầu tư vào công nghệ thẻ tiên tiến để đảm bảo dịch vụ hoạt động trơn tru và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.

Ngân hàng phát hành thẻ càng có nhiều tiện ích, càng thu hút sự quan tâm của khách hàng Ngoài các chức năng cơ bản như rút tiền và chuyển khoản, nhiều thẻ hiện nay còn cho phép thanh toán hàng hóa Tiện ích của thẻ không chỉ do ngân hàng phát hành tạo ra mà còn phụ thuộc vào việc ngân hàng có tham gia vào các liên minh thẻ hay không, giúp người dùng có thể rút tiền và thanh toán qua máy của ngân hàng khác.

1.4.2 Nhóm nhân tố thuộc về khách hàng 1.4.2.1 Thói quen tiêu dùng tiền mặt của dân cư:

Thói quen tiêu dùng tiền mặt cao làm giảm nhu cầu sử dụng thẻ thanh toán, gây khó khăn cho sự phát triển dịch vụ thẻ ngân hàng Để dịch vụ thẻ mở rộng, thanh toán cần chủ yếu qua hệ thống ngân hàng Tại Việt Nam, việc này gặp thách thức lớn khi tiêu dùng tiền mặt chiếm khoảng 70-75% tổng khả năng thanh toán.

1.4.2.2 Thói quen giao dịch qua ngân hàng: Đây là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của thẻ ngân hàng Niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng tăng lên sẽ thúc đẩy các hoạt động giao dịch, mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng Thẻ lại là một sản phẩm mới, hiện đại được sử dụng để thay thế cho các công cụ thanh toán thô sơ như ủy nhiệm chi, séc… Do đó thẻ sẽ là lựa chọn tất yếu của khách hàng khi khách hàng đã có thói quen và nhu cầu giao dịch qua ngân hàng

1.4.2.3 Thu nhập của người dân:

Thu nhập cao dẫn đến mức sống cao hơn, từ đó nhu cầu chi tiêu, mua sắm và du lịch trở nên đa dạng hơn Con người không chỉ tìm kiếm hàng hóa mà còn mong muốn sự thỏa mãn tối đa trong việc mua sắm Thẻ ngân hàng trở thành công cụ hiệu quả để đáp ứng nhu cầu này Tuy nhiên, chỉ khi có thu nhập ổn định, khách hàng mới đủ điều kiện để ngân hàng phát hành thẻ tín dụng hoặc cho phép thấu chi tài khoản thẻ ghi nợ Ngược lại, với thu nhập thấp, ngân hàng sẽ không thể đáp ứng nhu cầu này dù khách hàng có mong muốn.

Trình độ dân trí được phản ánh qua nhận thức của người dân về thẻ ngân hàng, một công cụ thanh toán an toàn, nhanh chóng và tiện lợi Điều này giúp họ hình thành thói quen sử dụng thẻ để rút tiền và thanh toán cho hàng hóa, dịch vụ.

1.4.3 Nhóm nhân tố thuộc về cơ quan chức năng 1.4.3.1 Môi trường pháp lý:

Môi trường pháp lý đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của thẻ, bởi một hệ thống pháp lý hoàn thiện và chặt chẽ sẽ bảo vệ quyền lợi của tất cả các bên liên quan, bao gồm phát hành, thanh toán và sử dụng thẻ.

Sự phát triển của hoạt động thẻ ngân hàng và các ngành kinh tế khác phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế, với tiền tệ ổn định và thu nhập dân cư tăng lên là những yếu tố then chốt Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng sử dụng thẻ ngân hàng tại mỗi quốc gia Ngược lại, việc gia tăng sử dụng thẻ ngân hàng cũng góp phần vào việc ổn định tiền tệ và thúc đẩy sự phát triển của môi trường kinh tế, cho thấy mối quan hệ nhân quả giữa hai yếu tố này.

Trong lĩnh vực tài chính, rủi ro được định nghĩa là khả năng xảy ra mất mát tài chính cho ngân hàng Mọi hoạt động tài chính đều tiềm ẩn rủi ro, do đó, việc quản lý các giao dịch tài chính một cách hiệu quả là rất quan trọng Nếu ngân hàng không kiểm soát tốt các rủi ro, họ có thể phải gánh chịu những tổn thất lớn.

Rủi ro trong hoạt động thẻ bao gồm các tổn thất vật chất và phi vật chất liên quan đến phát hành và thanh toán thẻ, ảnh hưởng đến ngân hàng, chủ thẻ và cơ sở chấp nhận thẻ Các rủi ro phổ biến trong kinh doanh thẻ của ngân hàng thương mại cần được quản lý chặt chẽ để đảm bảo an toàn và bảo mật cho tất cả các bên liên quan.

Rủi ro giả mạo có thể xảy ra trong toàn bộ quy trình kinh doanh thẻ ngân hàng, bao gồm cả hoạt động phát hành và thanh toán thẻ Các loại giả mạo này cần được nhận diện và xử lý kịp thời để bảo đảm an toàn cho người dùng và ngân hàng.

 Đơn xin phát hành thẻ giả mạo

 Thẻ giả: thẻ trắng, thẻ bị dập nổi lại, thẻ bị mã hóa lại và thẻ bị làm giả hoàn toàn

 Thẻ bị mất cấp, thất lạc

 Tài khoản chủ thẻ bị lợi dụng

 Đơn vị chấp nhận thẻ giả mạo

 Giao dịch bị đòi tiền nhiều lần

 Sao chép và tạo băng từ giả

 Thông tin giao dịch bị sửa đổi

Rủi ro tín dụng xảy ra khi chủ thẻ không thể thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản chi tiêu bằng thẻ tín dụng, dẫn đến ngân hàng bị mất vốn Nếu tình trạng này diễn ra với quy mô lớn, nó có thể gây ra tình trạng vỡ nợ, khiến ngân hàng mất vốn và thậm chí có nguy cơ phá sản, tương tự như trường hợp cho vay không thu hồi được.

Giới thiệu chung về Eximbank

Hình 2.1 Trụ sở chính của Ngân hàng Eximbank Việt Nam

Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Eximbank) được thành lập vào ngày 24 tháng 5 năm 1989, là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên tại Việt Nam Eximbank nổi bật với quy mô hoạt động lớn, năng lực tài chính mạnh mẽ và chất lượng phục vụ hàng đầu.

Eximbank hiện có vốn điều lệ đạt 8.800 tỷ đồng, đứng trong top các ngân hàng thương mại cổ phần lớn nhất tại Việt Nam với tổng vốn chủ sở hữu lên tới 13.627 tỷ đồng.

Năng lực tài chính và khả năng cạnh tranh của Eximbank được củng cố nhờ vào việc lựa chọn các cổ đông chiến lược uy tín trong và ngoài nước, bao gồm cả Sumitomo Mitsui Banking Corporation, một trong những ngân hàng hàng đầu tại Nhật Bản.

Hội sở Eximbank tọa lạc tại Thành Phố Hồ Chí Minh, với mạng lưới hoạt động trải dài trên 124 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc Ngân hàng này cũng duy trì quan hệ đại lý với hơn 750 ngân hàng tại 72 quốc gia.

Eximbank, thành viên của tổ chức Swift từ năm 1995, nổi bật với chất lượng dịch vụ thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại hối, được các ngân hàng toàn cầu công nhận.

Qua hơn 20 năm hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, Eximbank đã đạt được một số thành tựu rất đáng tự hào qua các năm cụ thể như sau:

 Năm 1991 và năm 1992 : Được Ngân hàng Nhà Nước và Bộ Tài

Chính tín nhiệm giao thực hiện một phần chương trình tài trợ không hoàn lại của Thụy Điển cho các đơn vị Việt Nam có nhu cầu nhập khẩu

Năm 1993, Ngân hàng được chọn thực hiện chương trình viện trợ của Chính phủ Thụy Sĩ, đồng thời nhận một phần viện trợ từ chương trình này Ngân hàng cũng tham gia vào hệ thống thanh toán bù trừ điện tử của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Năm 1995, ngân hàng trở thành thành viên của Hiệp hội các định chế tài trợ phát triển khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ADFIAP) và được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chọn làm ngân hàng đầu mối tham gia chương trình hàng đổi hàng với Indonesia theo Bản ghi nhớ giữa Bộ Thương mại Việt Nam và Phòng Thương mại và Công nghiệp Indonesia Đồng thời, ngân hàng cũng được chọn là một trong sáu ngân hàng Việt Nam tham gia thực hiện Dự án hiện đại hóa Ngân hàng (Bank Modernization Project) do Ngân hàng Nhà nước tổ chức, với sự tài trợ của Ngân hàng Thế giới.

 Năm 1998 : Giải thưởng “1998 Best Services Quality Award” do

CHASE MANHATTAN BANK (US) New York trao tặng

 Năm 2003 : Triển khai hệ thống thanh toán nội hàng trực tuyến toàn hệ thống

Năm 2005, sản phẩm hỗ trợ du học trọn gói đã vinh dự nhận Cúp vàng "Top ten sản phẩm uy tín chất lượng", sự kiện được tổ chức bởi Cục sở hữu trí tuệ, Hội sở hữu trí tuệ công nghiệp Việt Nam, Trung tâm Công nghệ thông tin & tư vấn quản lý QVN, cùng báo điện tử Saigon News.

Năm 2006, Ngân hàng Standard Chartered Bank đã trao tặng bằng khen về chất lượng dịch vụ điện thanh toán quốc tế, ghi nhận dịch vụ tốt nhất trong lĩnh vực thanh toán quốc tế qua mạng thanh toán viễn thông liên ngân hàng Đồng thời, ngân hàng cũng nhận cúp vàng Thương hiệu Việt trong cuộc bình chọn CÚP VÀNG TOPTEN THƯƠNG HIỆU VIỆT, được tổ chức bởi Mạng Thương Hiệu Việt và Hội sở hữu công nghiệp Việt Nam Ngoài ra, ngân hàng còn vinh dự nhận giải thưởng “Thương hiệu mạnh Việt Nam 2005”, do độc giả của Thời Báo Kinh tế Việt Nam bình chọn, với quy trình đánh giá được phối hợp cùng Cục xúc tiến Thương Mại.

Năm 2007, Ngân hàng Standard Chartered Bank đã trao tặng bằng khen về chất lượng dịch vụ điện thanh toán quốc tế, ghi nhận đây là dịch vụ tốt nhất trong lĩnh vực thanh toán quốc tế qua mạng thanh toán viễn thông liên Ngân hàng Cùng năm, ngân hàng cũng được độc giả của Thời Báo Kinh Tế Việt Nam bình chọn là “Thương Hiệu Mạnh Việt Nam 2007”, với quy trình đánh giá được phối hợp cùng Cục xúc tiến Thương Mại Ngân hàng chính thức trở thành thành viên của tổ chức IFC (Công ty tài chính Quốc tế toàn cầu) và nhận giải “Top Trade Servicer” từ Báo Thương Mại, vinh danh những thành tựu nổi bật trong quá trình hoạt động.

 Năm 2008 : Bằng khen về Thanh toán Quốc Tế Xuất Sắc do Wachovia

Ngân hàng N.A New York đã trao tặng giải thưởng nhằm ghi nhận sự xuất sắc trong xử lý nghiệp vụ thanh toán tự động nhanh chóng và chuyên nghiệp trong dịch vụ điện thanh toán quốc tế Eximbank vinh dự nhận danh hiệu “Dịch vụ được hài lòng nhất năm 2008” do báo Sài Gòn Tiếp Thị tổ chức, với sự bình chọn từ hàng nghìn người tiêu dùng trên toàn quốc Ngoài ra, ngân hàng cũng được trao danh hiệu “Thương Hiệu Mạnh 2007” bởi báo Kinh Tế Việt Nam và Bộ Thương Mại Trong suốt 4 năm liên tiếp, Eximbank đã được người tiêu dùng bình chọn và vinh danh là “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam” bởi Tạp chí The Banker.

Năm 2009, Eximbank Vietnam đã tăng vốn điều lệ lên 8,800 tỷ đồng và chính thức niêm yết cổ phiếu trên Sở Giao Dịch Chứng khoán Tp.Hồ Chí Minh Ngân hàng cũng vinh dự nhận danh hiệu thương hiệu Việt 2009 do độc giả Tạp Chí Thương Hiệu Việt bình chọn, cùng với giải thưởng thương hiệu Vàng – Golden Brand Awards 2009 từ Hiệp Hội Chống hàng giả và bảo vệ thương hiệu Việt Nam (VATAP).

2.1.2 Các sản phẩm, dịch vụ của Eximbank:

Chúng tôi cung cấp đa dạng sản phẩm tiền gửi, bao gồm tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn bằng VNĐ, ngoại tệ và vàng Các sản phẩm này đi kèm với nhiều kỳ hạn linh hoạt và lãi suất hấp dẫn, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

 Cho vay bổ sung vốn lưu động; cho vay đầu tư các dự án mới, mua máy móc thiết bị…

Các chương trình tài trợ xuất khẩu và nhập khẩu bao gồm nhiều sản phẩm cho vay đặc biệt dành riêng cho ngành xuất khẩu, như tài trợ xuất khẩu trước và sau khi giao hàng, cũng như tài trợ nhập khẩu kết hợp bảo hiểm tỷ giá.

 Bao thanh toán trong nước; cấp hạn mức thấu chi; cho vay tiêu dùng…

 Thanh toán qu ốc tế :

 Chuyển tiền đi bằng điện (T/T), nhận chuyển tiền đến, nhờ thu xuất nhập khẩu, thư tín dụng nhập khẩu

 Cung ứng các dịch vụ xuất nhập khẩu trọn gói

 Chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu theo L/C, D/P, D/A

 Các dịch vụ hỗ trợ khác…

Dịch vụ quản lý tiền mặt bao gồm nhiều giải pháp tài chính như thu hộ, chi hộ, thanh toán lương cho cán bộ công nhân viên, và chuyển tiền thanh toán cả trong nước và quốc tế.

 Kinh doanh ngo ại tệ - Vàng – Ch ứng Khoán :

 Kinh doanh các loại ngoại tệ, tiền mặt hoặc chuyển khoản

 Hình thức giao dịch đa dạng: Giao ngay, Kỳ hạn, Hoán đổi, Quyền chọn (Spot, Forward, Swap, Option)…

 Đầu tư và kinh doanh trái phiếu, cổ phiếu

 Mua, bán và xuất nhập khẩu các loại vàng: SJC, nguyên liệu theo giá trong nước và quốc tế

 Sàn giao dịch vàng SJC – Eximbank

 D ịch vụ du học trọn gói :

 Đáp ứng nhu cầu cho Quý phụ huynh có con em, người thân đang du học hoặc có kế hoạch du học nước ngoài

Thực trạng chung về hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng thương mại ở Việt

Từ năm 1993, Vietcombank đã tiên phong trong việc phát hành thẻ ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam, đánh dấu sự ra đời của thị trường thẻ ngân hàng Với điều kiện phát hành đơn giản và dễ sử dụng, thẻ nội địa đã phát triển mạnh mẽ, phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng Việt Nam.

Connect 24 và triển khai hệ thống VCB – ATM Ngay lập tức các Ngân hàng khác cũng đưa ra những sản phẩm thẻ đầu tiên của mình như Cash Card, tiếp theo là ATM Gold Card, ATM S – Card của Incombank, Thẻ Vạn dặm của BIDV, Thẻ đa năng của Ngân hàng Đông á, Thẻ Fast Access của Ngân hàng Kỹ thương, Sài gon Bank Card của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công thương, ACB e-Card, Citimard của ACB, Vib Values Card của Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế, ATM Lucky của Ngân hàng Phương Đông, Đến nay nhu cầu sử dụng thẻ ngân hàng trong thanh toán hàng hoá, dịch vụ ngày càng gia tăng Lượng thẻ phát hành ra lưu thông hiện tính đến năm 2010 khoảng hơn 29 triệu thẻ năm 2010 so với 21 triệu thẻ năm 2009, 14 triệu thẻ năm 2008 Tốc độ tăng trưởng bình quân của lượng thẻ phát hành ra lưu thông những năm gần đây khoảng 150-300%/năm Đây là dấu hiệu đáng mừng đối với Ngành Ngân hàng vì chứng tỏ dịch vụ thẻ đã đến gần hơn với người dân, bước đầu tạo cho họ thói quen sử dụng Thẻ

Hiện nay, Việt Nam có 40 tổ chức phát hành thẻ, bao gồm 04 ngân hàng thương mại nhà nước, 29 ngân hàng thương mại cổ phần, 06 ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, cùng với 01 tổ chức phát hành thẻ phi ngân hàng Thị trường thẻ hiện có khoảng 150 thương hiệu khác nhau, cung cấp nhiều dịch vụ đa dạng như rút tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán hóa đơn, mua sắm trực tuyến, thấu chi tài khoản thẻ, và nhiều ưu đãi hấp dẫn khác Các dịch vụ này đáp ứng nhu cầu phong phú của chủ thẻ, từ việc kiểm tra tài khoản, in sao kê, đến nhận tiền kiều hối và bảo hiểm tai nạn, cũng như giao dịch qua kênh ngân hàng điện tử.

Ngân hàng và tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đã nhanh chóng nhận ra cơ hội phát triển dịch vụ thẻ, đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng và nhân lực Trong những năm gần đây, số lượng ATM và POS tăng nhanh, với gần 9.500 ATM và hơn 40.000 POS vào năm 2010 Xu hướng này dẫn đến nhu cầu chia sẻ hạ tầng và kỹ thuật, tạo điều kiện cho sự ra đời của các liên minh chuyển mạch thẻ, góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường Tại Việt Nam, ba đơn vị lớn nhất trong lĩnh vực này là Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB), Ngân hàng Đông Á và Công ty cổ phần chuyển mạch tài chính quốc gia (Banknetvn) Banknetvn hiện dẫn đầu với 3.600 ATM, 12.500 POS và hơn 7 triệu thẻ, chiếm 64% thị phần Vấn đề kết nối ATM/POS trở nên cấp thiết sau khi Chính phủ ban hành Chỉ thị số 20/2007/CT-TTg về việc trả lương qua tài khoản, yêu cầu nhanh chóng hình thành mạng lưới ATM/POS rộng khắp để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và phát triển thanh toán bằng thẻ, đồng thời thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế.

Bảng 2.1 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN THẺ QUA CÁC NĂM

Năm Số lượng thẻ phát hành Đơn vị: chiếc

Số máy ATM Đơn vị: chiếc

(Nguồn: Báo cáo của Hiệp hội thẻ ngân hàng Việt Nam qua các năm)

Thị trường thẻ tín dụng Việt Nam đang ngày càng đa dạng với sự xuất hiện của nhiều sản phẩm mới bên cạnh các thẻ quốc tế phổ biến như Visa và Mastercard từ Vietcombank, ACB, Eximbank Nổi bật là thẻ VCB – Amex do Vietcombank phát hành, thẻ tín dụng quốc tế bằng đồng VN từ sự hợp tác giữa HSBC và ACB, cùng với thẻ ghi nợ quốc tế của ACB Ngoài ra, các sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế từ Sacombank, Incombank và VIBBank cũng đã thu hút sự quan tâm của khách hàng nhờ vào những tính năng hấp dẫn như “chi tiêu trước, trả tiền sau” và thời gian miễn lãi linh hoạt.

Trong khoảng thời gian từ 15 đến 45 ngày, chủ thẻ sẽ không phải trả lãi nếu thanh toán toàn bộ dư nợ trước ngày đến hạn Các ngân hàng Việt Nam và tổ chức thẻ quốc tế đang triển khai nhiều chương trình xúc tiến nhằm mở rộng thị phần với mức phí phát hành và phí thường niên thấp Dự báo từ Hội thẻ Ngân hàng Việt Nam cho thấy, trong thời gian tới, số lượng và đối tượng khách hàng sử dụng thẻ quốc tế để thanh toán sẽ có sự tăng trưởng đột biến.

Thực trạng phát triển hoạt động kinh doanh thẻ của Eximbank trong giai đoạn 2008-2010

2.3.1 Sự ra đời và phát triển thẻ của Eximbank

 Eximbank tham gia các hoạt động thanh toán thẻ từ năm 1994

 Năm 1998, Eximbank chính thức trở thành thành viên của MasterCard

 Năm 1999, Eximbank chính thức trở thành thành viên của tổ chức Visa

 Năm 2000, Eximbank nối mạng hệ thống thanh toán thẻ với Visa và MasterCard

 Năm 2001, Eximbank triển khai phát hành thẻ MasterCard

 Năm 2002, Eximbank triển khai phát hành thẻ Visa

 Năm 2003 triển khai hệ thống ATM và phát hành thẻ nội địa

 Tháng 3/2005, kết nối thành công hai hệ thống thanh toán thẻ nội địa Vietcombank – Eximbank

 Năm 2005, Eximbank là ngân hàng đầu tiên Việt Nam phát hành thẻ Visa Debit

 Năm 2008, Eximbank trở thành ngân hàng đầu tiên phát hành thẻ Visa Business (thẻ quốc tế dành cho Doanh nhân của Doanh nghiệp)

 Năm 2009 thanh toán và phát hành thẻ Chip; đẩy mạnh liên kết hợp tác phát hành thẻ Đồng thương hiệu với các đối tác

2.3.2 Cơ sở pháp lý của việc phát hành thẻ tại Eximbank:

Việc phát hành và thanh toán thẻ phải tuân thủ các quy định pháp luật của quốc gia nơi thẻ được phát hành, theo các quy chế do Ngân hàng Nhà nước ban hành Đối với thẻ quốc tế, ngân hàng cần có sự đồng ý của tổ chức thẻ quốc tế thông qua hợp đồng và tuân thủ các quy định của tổ chức đó Mỗi ngân hàng phát hành sẽ thiết lập quy chế riêng về phát hành và thanh toán thẻ, do Tổng Giám đốc ngân hàng quy định.

Văn bản pháp lý quan trọng nhất hiện nay cho hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng là Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN, ban hành ngày 15/5/2007, thay thế Quyết định số 371/1999/QĐ-NHNN Quy chế này quy định chi tiết về phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động thẻ ngân hàng, áp dụng cho các tổ chức và cá nhân liên quan Nó cũng xác định quyền và trách nhiệm của các bên tham gia trong hoạt động thanh toán thẻ và cung cấp dịch vụ hỗ trợ liên quan đến thẻ ngân hàng.

2.3.3 Mô hình tổ chức kinh doanh thẻ tại Eximbank

Sơ đồ 2.1 Mô hình tổ chức kinh doanh thẻ tại Eximbank

Trung tâm thẻ của Eximbank, trực thuộc trụ sở chính tại Thành Phố Hồ Chí Minh, được thành lập theo quyết định của Tổng giám đốc và bao gồm các bộ phận kỹ thuật cùng nghiệp vụ Trung tâm này chịu trách nhiệm tổ chức phát hành, thanh toán và quản lý thẻ cho toàn hệ thống Eximbank, với nhiệm vụ chủ yếu là đảm bảo hoạt động hiệu quả và an toàn trong lĩnh vực thẻ.

Nghiên cứu và phân tích thị trường cùng với khả năng nguồn lực của Eximbank là yếu tố quan trọng để xây dựng chính sách, mục tiêu và kế hoạch phát triển kinh doanh, đặc biệt trong lĩnh vực phát hành và thanh toán thẻ.

CHI NHÁNH CẤP 1 CHI NHÁNH CẤP 1

PHÒNG GIAO DỊCH PHÒNG GIAO DỊCH

Eximbank đã ban hành các văn bản hướng dẫn nhằm triển khai công tác phát hành và thanh toán thẻ trong toàn hệ thống Đồng thời, ngân hàng cũng xây dựng quy trình vận hành cho các nghiệp vụ thẻ tại phòng.

Nghiên cứu thị trường thẻ và xây dựng kế hoạch marketing cho dịch vụ thẻ của Eximbank là rất quan trọng Chúng tôi thực hiện các hoạt động marketing trực tiếp và cung cấp dịch vụ hỗ trợ nhằm thu hút khách hàng cũng như các cơ sở chấp nhận thẻ Đồng thời, nghiên cứu các phương án hợp tác với các cơ sở chấp nhận thẻ để cung cấp tiện ích và chính sách khuyến mãi hấp dẫn cho chủ thẻ.

 Thực hiện và kiểm soát các nghiệp vụ phát hành và thanh toán thẻ

Tổ chức quản lý và giám sát hoạt động của các cơ sở chấp nhận thẻ, đồng thời thực hiện các chương trình đào tạo và tập huấn về nghiệp vụ thẻ cho cán bộ tại chi nhánh.

 Tổng hợp các báo cáo về hoạt động phát hành, thanh toán thẻ của các chi nhánh, đại lý, cơ sở chấp nhận thẻ

Quản lý thông tin liên quan đến rủi ro thanh toán và phát hành theo quy định của Eximbank là rất quan trọng, đồng thời cần tuân thủ các quy định của các tổ chức thẻ quốc tế.

Quản lý và vận hành hệ thống máy móc thiết bị liên quan đến hoạt động phát hành và thanh toán thẻ là rất quan trọng Cần xây dựng quy chế phối hợp với các đối tác và chi nhánh để xử lý kịp thời các trục trặc, hỏng hóc, nhằm đảm bảo tính liên tục và ổn định của hệ thống.

 Chi nhánh c ấp 1 : Thực hiện chức năng kinh doanh, điều phối hoạt động của các Phòng giao dịch, Điểm giao dịch mẫu Chi nhánh có trách nhiệm:

Chủ động phát triển hệ thống đại lý phát hành và thanh toán thẻ, đồng thời thực hiện các hoạt động tiếp thị và marketing để thu hút khách hàng trong khu vực chi nhánh quản lý.

 Đầu mối tiếp nhận hồ sơ khách hàng và chuyển tiếp lên Trung tâm thẻ để phát hành thẻ cho khách hàng

 Quản lý và bảo quản máy ATM, thiết bị thanh toán thẻ của các cơ sở chấp nhận thẻ chi nhánh quản lý

Định kỳ, cần đề xuất nhu cầu về số lượng máy ATM, thiết bị thanh toán thẻ và các vật tư liên quan đến hoạt động của những thiết bị này lên Trung tâm thẻ, nhằm xây dựng kế hoạch phát triển tổng thể cho toàn hệ thống Eximbank.

2.3.4 Thực trạng về phát triển hoạt động kinh doanh thẻ tại Eximbank trong giai đoạn 2008-2010

2.3.4.1 Thực trạng phát hành và thanh toán thẻ tại Eximbank

 Thực trạng phát hành thẻ tại Eximbank

 Đối với thẻ ghi nợ:

+ Khái niệm: Thẻ V-TOP là thẻ nội địa do Eximbank phát hành được sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt

Sản phẩm này là một công cụ ngân hàng tự động, cung cấp đầy đủ tính năng tiện ích giúp Quý khách tiết kiệm chi phí và thời gian Số tiền sử dụng được xác định dựa trên số dư có trên tài khoản cá nhân.

+ Đối tượng khách hàng: Cá nhân người Việt Nam đủ năng lực hành vi dân sự; Cá nhân người nước ngoài đang công tác tại Việt Nam

Thẻ Eximbank có phạm vi sử dụng rộng rãi tại Việt Nam, cho phép khách hàng thực hiện giao dịch tại các máy ATM của Eximbank và các ngân hàng trong liên minh Smartlink Ngoài ra, thẻ còn được chấp nhận để thanh toán hàng hóa và dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ của Eximbank trên toàn quốc.

Eximbank cung cấp nhiều tiện ích cho khách hàng, bao gồm thanh toán tiền điện, nước, điện thoại và Internet tại các máy ATM Khách hàng cũng có thể thanh toán hàng hóa và dịch vụ tại các điểm chấp nhận thẻ của Eximbank Ngoài ra, việc rút tiền mặt, xem thông tin tài khoản và chuyển khoản có thể thực hiện dễ dàng tại các máy ATM của Eximbank hoặc các ngân hàng trong liên minh Smartlink.

Để phát hành thẻ V-TOP tại Eximbank, khách hàng chưa có tài khoản cần điền đầy đủ thông tin vào Giấy mở tài khoản kiêm phát hành thẻ V-TOP, kèm theo bản sao CMND hoặc hộ chiếu và thị thực nhập cảnh còn hiệu lực (đối với người nước ngoài) cùng bản chính để đối chiếu, và một ảnh 3x4 mới nhất Đối với khách hàng đã có tài khoản tại Eximbank, chỉ cần điền thông tin vào Giấy đề nghị phát hành thẻ V-TOP và cung cấp một ảnh 3x4 mới nhất.

Bảng 2.2 Thực trạng phát hành thẻ V-TOP qua các năm ĐVT: Thẻ

Số lượng thẻ phát hành mới 55.480 71.528 93.528

Số lượng thẻ đã phát hành 150.861 222.389 315.917

Số lượng thẻ đang lưu hành 123.665 182.298 265.826

Số lượng thẻ tất toán 27.196 40.091 50.091

(Nguồn: Báo Cáo Thường niên của Eximbank năm 2008-2010)

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẨN XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM

Ngày đăng: 03/08/2021, 14:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Huy Hoàng (2007), Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Lao Động Xã Hội. Trường đại học kinh tế TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
Tác giả: Trần Huy Hoàng
Nhà XB: NXB Lao Động Xã Hội. Trường đại học kinh tế TP HCM
Năm: 2007
2. Trương Thị Hồng (2002), Các giải pháp nhằm mở rộng sử dụng thẻ thanh toán tại Việt Nam, Luận án Tiến sĩ kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp nhằm mở rộng sử dụng thẻ thanh toán tại Việt Nam
Tác giả: Trương Thị Hồng
Năm: 2002
3. Trần Tuấn Lộc (2004), Giải pháp cơ bản nhằm phát triển thị trường thẻ Ngân hàng tại Việt Nam, Luận án Tiến sĩ kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp cơ bản nhằm phát triển thị trường thẻ Ngân hàng tại Việt Nam
Tác giả: Trần Tuấn Lộc
Năm: 2004
4. Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, Báo cáo tình hình hoạt động năm 2003-2004, Tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình hoạt động năm 2003-2004
5. Hội thẻ Ngân hàng Việt Nam (2005), Báo cáo tình hình hoạt động năm 2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình hoạt động năm 2004
Tác giả: Hội thẻ Ngân hàng Việt Nam
Năm: 2005
6. Ngân hàng Nhà nước (15/05/2007), Quyết định 20/2007/QĐ-NHNN “Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng
7. Ngân hàng Eximbank Việt Nam (2006), Tài liệu hướng dẫn phát hành và sử dụng thẻ ATM, Tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn phát hành và sử dụng thẻ ATM
Tác giả: Ngân hàng Eximbank Việt Nam
Năm: 2006
8. Ngân hàng Eximbank Việt Nam - Trung tâm Thẻ (2006), Quy chế - quy trình phát hành và sử dụng thẻ ATM, Tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế - quy trình phát hành và sử dụng thẻ ATM
Tác giả: Ngân hàng Eximbank Việt Nam - Trung tâm Thẻ
Năm: 2006
11. Ngân hàng Eximbank Việt Nam - Trung tâm Thẻ (2009), Chính sách tín dụng đối với thẻ tín dụng quốc tế Visa/Master Card, Tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách tín dụng đối với thẻ tín dụng quốc tế Visa/Master Card
Tác giả: Ngân hàng Eximbank Việt Nam - Trung tâm Thẻ
Năm: 2009
12. Ngân hàng Eximbank Việt Nam (2007, 2008, 2009), Báo cáo thường niên 13. Website tham khảo: http://www.eximbank.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w