1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tình hình tội phạm trên địa bàn quận 9, thành phố hồ chí minh

88 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình Hình Tội Phạm Trên Địa Bàn Quận 9, Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Trần Vũ Thủy
Người hướng dẫn GS. TS. Nguyễn Ngọc Anh
Trường học Học viện khoa học xã hội
Chuyên ngành Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 813,37 KB

Cấu trúc

  • Chương 1 NH Ữ NG V ẤN ĐỀ LÝ LU Ậ N V Ề TÌNH HÌNH T Ộ I PH Ạ M 7 1.1. Khái ni ệm, đặc điểm, ý nghĩa củ a tình hình t ộ i ph ạ m (13)
    • 1.2. Tình hình t ộ i ph ạ m hi ệ n (rõ) (18)
    • 1.3. Tình hình tội phạm ẩn (21)
    • 1.4. Các yếu tố tác động đến tình hình tội phạm (25)
    • 1.5. M ố i quan h ệ c ủ a tình hình t ộ i ph ạ m v ới nguyên nhân và điề u ki ệ n c ủ a tình hình t ộ i ph ạ m (28)
  • Chương 2 TH Ự C TI Ễ N TÌNH HÌNH T Ộ I PH ẠM TRÊN ĐỊ A BÀN (31)
    • 2.1. Khái quát v ề tình hình t ộ i ph ạm trên đị a bàn Qu ậ n 9, Thành ph ố H ồ Chí Minh (31)
    • 2.2. Thực trạng tình hình tội phạm hiện (rõ) trên địa bàn quận 9, Thành phố (31)
    • 2.3. Th ự c ti ễ n tình hình t ộ i ph ạ m ẩn trên đị a bàn qu ậ n 9, Thành ph ố H ồ Chí (47)
    • 2.4. Dự báo tình hình tội phạm trên địa bàn quận 9, Thành phố Hồ Chí (49)
  • Chương 3 CÁC GI Ả I PHÁP PHÒNG NG Ừ A TÌNH HÌNH T Ộ I PH Ạ M TRÊN ĐỊ A BÀN QU Ậ N 9, THÀNH PH Ố H Ồ CHÍ MINH (56)
    • 3.1. Nâng cao nhận thức về tình hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện (56)
    • 3.2. Hoàn thi ệ n pháp lu ậ t và các gi ả i pháp khác phòng ng ừ a tình hình t ộ i (67)

Nội dung

NH Ữ NG V ẤN ĐỀ LÝ LU Ậ N V Ề TÌNH HÌNH T Ộ I PH Ạ M 7 1.1 Khái ni ệm, đặc điểm, ý nghĩa củ a tình hình t ộ i ph ạ m

Tình hình t ộ i ph ạ m hi ệ n (rõ)

Khi nghiên cứu tình hình tội phạm, Kakx Mác cho rằng con người có khả năng nhận thức chân lý khách quan một cách tương đối, điều này ám chỉ rằng nhận thức về tội phạm luôn tồn tại hai phần: phần ẩn và phần hiện Tình hình tội phạm, dù là chung hay cụ thể, đều ở trạng thái này tại mọi thời điểm và không gian Do đó, khi nghiên cứu thực trạng tội phạm, cần phải tập trung vào phần hiện của hiện tượng để có cái nhìn đầy đủ và chính xác.

1.2.1 Thực trạng (mức độ) của tình hình tộiphạm

Thực trạng tội phạm là một trong hai chỉ số quan trọng phản ánh tình hình tội phạm, bao gồm tổng số các tội phạm cụ thể đã xảy ra và số lượng người thực hiện các tội phạm này trong một khu vực và khoảng thời gian nhất định Thực trạng tội phạm được chia thành hai phần: phần tội phạm hiện (rõ) và phần tội phạm ẩn.

Phần tội phạm hiện là tổng số tội phạm và người phạm tội đã được phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử, đồng thời được đưa vào thống kê hình sự Ngược lại, phần tội phạm ẩn bao gồm những tội phạm đã xảy ra nhưng chưa được phát hiện, xử lý hình sự và chưa được ghi nhận trong thống kê hình sự.

Chúng ta cần xem xét cả tội phạm rõ và tội phạm ẩn, vì không phải mọi tội phạm đều được phát hiện và xử lý kịp thời Điều này ảnh hưởng đến việc thống kê và hiểu rõ thực trạng tội phạm trong xã hội Để nắm bắt tình hình tội phạm, chúng ta phải dựa vào tội phạm rõ và một số cơ sở khác để suy ra tội phạm ẩn.

Để có được hệ thống số liệu tội phạm đầy đủ, cần thu thập có hệ thống hai loại dữ liệu: loại cơ bản, bao gồm số tổng, số nhóm và số hành vi, cùng với loại số liệu chuyên biệt.

Tình trạng tội phạm tại quận 9 vẫn tồn tại do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, dẫn đến việc một số tội phạm chưa được phát hiện Do đó, cần tiến hành nghiên cứu để làm rõ các khía cạnh rõ ràng và ẩn giấu của tình hình tội phạm, từ đó có cái nhìn khách quan và toàn diện về thực trạng diễn biến tội phạm trong khu vực này.

1.2.2 Diễn biến (động thái) của tình hình tội phạm

Động thái của tình hình tội phạm phản ánh sự thay đổi về thực trạng, cơ cấu và mức độ tội phạm trong một khoảng thời gian nhất định, có thể là một năm, ba năm, năm năm hoặc mười năm.

Diễn biến của tội phạm là yếu tố quan trọng trong việc phân tích tình hình tội phạm, giúp dự đoán xu hướng phát triển trong tương lai Việc so sánh cơ cấu tội phạm với thời gian gốc cho phép xác định sự thay đổi thông qua tỷ lệ tăng hoặc giảm so với năm trước, từ đó nắm bắt được thực trạng tội phạm hiện tại.

Nghiên cứu tình hình tội phạm trong một khoảng thời gian cho phép xác định xu hướng và mức độ vận động của tội phạm, từ đó giúp xây dựng các chương trình, kế hoạch và phương pháp phòng chống tội phạm hiệu quả Kết quả nghiên cứu về diễn biến tội phạm là cơ sở quan trọng cho việc dự báo tình hình tội phạm trong tương lai Do đó, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là pháp luật hình sự, là cần thiết để nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tội phạm.

14 riêng về tình hình tội phạm các nhà làm luật cũng dựa vào cơ cở nghiên cứu trên

1.2.3 Cơ cấu của tình hình tội phạm hiện

Cơ cấu tình hình tội phạm bao gồm tỷ trọng và mối tương quan giữa các nhóm tội phạm, loại tội trong một tổng thể các vụ án đã xảy ra tại một địa bàn cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định.

Tình hình tội phạm có tính nguy hiểm cao đối với xã hội, với các chỉ số đặc trưng về lượng và chất rõ ràng Việc tổ chức phòng ngừa và áp dụng các biện pháp pháp luật hình sự là những yếu tố quan trọng trong việc quản lý tình hình tội phạm Để đấu tranh hiệu quả với tội phạm, cần xác định rõ hướng đi, tập trung vào các loại tội phạm cụ thể dựa trên cơ cấu của tình hình tội phạm hiện tại.

Cơ cấu tình hình tội phạm được phân chia thành hai loại chính: cơ cấu chỉ số cơ bản và cơ cấu chỉ số chuyên biệt Cơ cấu chỉ số cơ bản được đánh giá dựa trên các hành vi phạm tội và các nhóm tội, thể hiện qua các tội danh, điều khoản và chương trong các văn bản pháp luật cũng như Bộ Luật hình sự.

Cơ cấu chỉ số chuyên biệt là hệ thống thống kê được thiết lập để phân tích tình hình tội phạm dựa trên các tiêu chí đặc biệt như độ tuổi, giới tính và hình phạt Hệ thống này giúp cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phân bố và đặc điểm của tội phạm trong xã hội.

Tình hình tội phạm có sự khác biệt rõ rệt giữa thành phố và nông thôn, cũng như giữa các vùng lãnh thổ khác nhau Sự khác biệt này được giải thích bởi các điều kiện xã hội đặc trưng, lối sống của cư dân, và các truyền thống, tập tục, thói quen đa dạng.

1.2.4 Tính chất của tình hình tội phạm

Tình hình tội phạm có thể được phân tích dựa trên cơ cấu và các tiêu thức nhất định để rút ra những đặc điểm về tính chất và mức độ nguy hiểm của nó Mỗi khu vực và thời gian khác nhau sẽ thể hiện mức độ nghiêm trọng khác nhau, thông qua tỷ lệ giữa các thành phần của tội phạm, như tỷ lệ giữa tội nghiêm trọng và tội ít nghiêm trọng, hay giữa tội cố ý và tội vô ý Do đó, việc đánh giá cơ cấu, động thái và mức độ của tình hình tội phạm chính là kết quả phản ánh thực trạng của tội phạm trong xã hội.

Tình hình tội phạm ẩn

Tội phạm được xử lý hình sự được coi là tội phạm hiện hữu khi được phản ánh trong thống kê tội phạm Tuy nhiên, còn tồn tại những tội phạm đã xảy ra nhưng không được ghi nhận trong thống kê này Các tội phạm không được thể hiện trong thống kê vẫn là một vấn đề nghiêm trọng cần được chú ý.

Tội phạm ẩn được định nghĩa là những hành vi vi phạm pháp luật không được phát hiện hoặc ghi nhận Việc nghiên cứu tình hình tội phạm rõ ràng và tội phạm ẩn giúp cung cấp thông tin quan trọng về trạng thái thực tế của các hành vi phạm tội đã xảy ra, từ đó hiểu rõ hơn về diễn biến và mức độ nghiêm trọng của tội phạm trong xã hội.

Để nghiên cứu tình hình tội phạm một cách hiệu quả, cần đánh giá đúng đặc tính về lượng của tội phạm hiện và tội phạm ẩn, vì chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Tội phạm ẩn bao gồm nhiều loại khác nhau, với sự khác biệt về thời gian, lý do, mức độ và tỷ lệ ẩn Nhiều hành vi phạm tội không được phát hiện hoặc đã được phát hiện nhưng chưa được xử lý hình sự, hoặc đã xử lý nhưng chưa dứt điểm, dẫn đến việc không được đưa vào thống kê hình sự Tình hình tội phạm ẩn thể hiện qua những hành vi phạm tội đã xảy ra nhưng không được phát hiện theo quy định pháp luật hình sự và không có trong các báo cáo thống kê.

1.3.1 Phân loại của tình hình tội phạm ẩn

Tội phạm không được xử lý hình sự xuất phát từ lỗi chủ quan của cá nhân và cơ quan có trách nhiệm, cũng như từ nhiều nguyên nhân khách quan khác Tội phạm ẩn được chia thành hai loại: tội phạm ẩn chủ quan và tội phạm ẩn khách quan Tội phạm ẩn khách quan là những vụ án đã xảy ra nhưng không có chứng cứ để khởi tố, trong khi tội phạm ẩn chủ quan là những tội phạm đã được phát hiện nhưng không bị xử lý do nhiều lý do khác nhau Tóm lại, tội phạm ẩn là những vụ việc chưa được thống kê, xử lý hình sự và chưa bị các cơ quan chức năng phát hiện.

Trong quá trình thống kê tình hình tội phạm, có 17 hành vi phạm tội thực tế đã diễn ra, mỗi loại tội phạm đều có tỷ lệ ẩn khác nhau Không tồn tại một tỷ lệ tội phạm ẩn chung cho tất cả các loại tội phạm, và tỷ lệ này cũng thay đổi theo thời gian và không gian.

Tội phạm ẩn tự nhiên, hay còn gọi là tội phạm ẩn khách quan, phát sinh từ mối quan hệ giữa công dân và các yếu tố khách quan như nhận thức, bạn bè và họ hàng Những hành vi phạm tội này xảy ra trong thực tiễn nhưng không được cơ quan thực thi pháp luật biết đến hoặc phát hiện do thiếu chứng cứ đầy đủ để khởi tố vụ án Kết quả là, thông tin về tội phạm không được chuyển đến cơ quan có thẩm quyền, dẫn đến việc tội phạm không bị phát hiện và xử lý theo quy định pháp luật.

Tội phạm ẩn nhân tạo (tội phạm ẩn chủ quan) là tình huống mà hành vi phạm tội đã xảy ra và được các cơ quan chức năng tiếp nhận thụ lý, nhưng vẫn chưa được xử lý công khai Nguyên nhân có thể do các cơ quan này không khởi tố vụ án vì lo ngại về trách nhiệm bồi thường, ảnh hưởng đến thành tích cá nhân hoặc tập thể, hoặc sử dụng các lý do theo luật định để đình chỉ điều tra mà không phục hồi Thêm vào đó, sự hạn chế và yếu kém của cơ quan bảo vệ pháp luật và cán bộ tư pháp trong việc phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử hình sự cũng góp phần làm cho tội phạm bị bỏ sót và không được xử lý kịp thời.

Tội phạm ẩn thống kê là tình trạng một số hành vi phạm tội đã được xử lý nhưng không được ghi nhận trong thống kê chính thức Việc này xảy ra do nguyên nhân chủ quan từ phía cán bộ pháp luật, những người có thể chủ động không đưa các vụ việc vào thống kê, cũng như do các yếu tố khách quan khác.

Tội phạm ẩn thống kê không chỉ là kết quả của sai số do cập nhật không chính xác, mà còn phản ánh những thiếu sót trong quy trình thống kê và những hạn chế của kỹ thuật thống kê hiện tại.

1.3.2 Nguyên nhân của tình hình tội phạm ẩn

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến độ ẩn của tình hình tội phạm nhưng có thể khái quát các nguyên nhân sau:

Các cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết vụ án hình sự, bao gồm khởi tố, điều tra và xét xử, thường không nhận được tố giác từ công dân, bao gồm cả nạn nhân và những người biết về tội phạm nhưng không báo cáo Ngoài ra, thông tin từ các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc các phương tiện thông tin đại chúng cũng không được cung cấp.

- Người phạm tội không ra tự thú hoặc tự thú nhưng không xử lý hình sự vì lý do khách quan hay chủ quan

Các cơ quan pháp luật có thẩm quyền như Thanh tra, Hải quan, Kiểm lâm, Công an điều tra và Viện kiểm sát khi giải quyết vụ án theo thủ tục tố tụng hình sự sẽ ban hành các quyết định như không khởi tố, đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án hoặc không phục hồi vụ án Những quyết định này có thể do nhiều lý do, bao gồm việc bị cáo đã chết, theo yêu cầu của người bị hại, có tội nhưng được đình chỉ và miễn trách nhiệm hình sự, hoặc có sự thay đổi về pháp luật hình sự.

Một số người tham gia tố tụng lo ngại về trách nhiệm bồi thường do oan sai, điều này có thể ảnh hưởng đến địa vị cá nhân và thành tích tập thể của họ Vì vậy, họ thường dễ dàng bỏ qua tội phạm và ngần ngại khởi tố khi chứng cứ buộc tội không rõ ràng.

Các quy định pháp luật hiện nay đang gặp phải tình trạng chồng chéo và bất cập, không theo kịp với sự phát triển của nền kinh tế, văn hóa xã hội và khoa học kỹ thuật Điều này cho thấy rằng các cơ quan chức năng có thể chưa thực sự chủ động và tích cực trong việc thực hiện trách nhiệm của mình.

19 giao trong công việc phát hiện tội phạm, cũng như sự yếu kém về chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ trực tiếp thụ lý hồ sơ vụ án.

Các yếu tố tác động đến tình hình tội phạm

Các yếu tố tác động đến tình hình tội phạm, có thể được chia thành các nhóm sau:

1.4.1 Về kinh tế-xã hội

Tình hình tội phạm phản ánh rõ ràng những biến động trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, với sự thay đổi về cơ cấu và tính chất của tội phạm luôn gắn liền với thực trạng hiện tại.

Nhóm yếu tố này ảnh hưởng đến các hiện tượng xã hội có nội dung kinh tế, phát sinh trong tổ chức sản xuất, lưu thông, quản lý và phân phối Chúng tác động đến các hoạch định và chính sách phát triển kinh tế - xã hội Những yếu tố này liên quan đến nhiều nhóm tội phạm, đặc biệt là các tội xâm phạm sở hữu, tội xâm phạm kinh tế, hối lộ, tham nhũng, lạm dụng chức vụ quyền hạn, đầu cơ tiền tệ và buôn lậu.

1.4.2 Về chính trị xã hội

Tình hình tội phạm có mối quan hệ chặt chẽ với sự phát triển chính trị và xã hội qua các thời kỳ, ảnh hưởng lớn đến cấu trúc xã hội Các giai cấp và tầng lớp trong xã hội thường xuyên xảy ra mâu thuẫn về lợi ích chính trị và xã hội, dẫn đến sự xuất hiện của nhiều loại tội phạm Đặc biệt, các tội phạm xâm phạm trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc gia như cướp tài sản, giết người, trộm cắp tài sản và gián điệp đang gia tăng, phản ánh những xung đột lợi ích trong xã hội.

1.4.3 Về tâm lý – văn hóa xã hội

Các hiện tượng tâm lý xã hội có ảnh hưởng đáng kể đến tình hình tội phạm, xuất phát từ mâu thuẫn giữa phong tục tập quán, xu hướng văn hóa và tâm lý tiểu tư sản Những biến dạng trong ý thức nhóm và cá nhân, cùng với động cơ trái ngược với hệ thống tư tưởng hiện tại, dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật và đạo đức Tâm lý và văn hóa xã hội tác động đến nhân cách con người, gây ra các hành vi tội phạm như xâm phạm tự do bầu cử, tự do ngôn luận, quyền tự do dân chủ, chế độ hôn nhân gia đình và trật tự công cộng.

1.4.4 Về tổ chức, quản lý xã hội

Những yếu tố này xuất phát từ tàn dư lạc hậu của chế độ cũ, bao gồm phong tục tập quán lạc hậu, tâm lý tư hữu và cá nhân tư lợi trong suy nghĩ và hành động của người dân Sự mâu thuẫn giữa quan điểm bảo thủ và cấp tiến dẫn đến hành vi không phù hợp với chuẩn mực và quy định pháp luật Thiếu kinh nghiệm và chuyên môn trong quản lý nhà nước, xã hội và con người, cùng với việc quản lý tổ chức còn hình thức và thiếu sự phối hợp chặt chẽ từ các cơ quan nhà nước, đã tạo ra môi trường thuận lợi cho tội phạm Đặc biệt, nhóm đối tượng chủ yếu là người chưa thành niên và những người có trình độ văn hóa thấp, thường liên quan đến các tội phạm chức vụ và tội phạm tái phạm.

1.4.5 Về pháp luật và công tác phòng chống tội phạm

Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý xã hội và thúc đẩy sự phát triển thông qua các chính sách và hệ thống pháp luật Khi chính sách và pháp luật được triển khai hiệu quả, chúng tạo ra nền tảng vững chắc cho sự tiến bộ của xã hội.

Nếu các chính sách và pháp luật được ban hành kịp thời, chúng sẽ trở thành yếu tố tích cực thúc đẩy sự phát triển xã hội Ngược lại, nếu các quy định này chậm trễ, thiếu thực tế, chúng có thể trở thành rào cản nguy hiểm cho sự tiến bộ xã hội và thậm chí là nguyên nhân gia tăng tội phạm Nguyên nhân chủ yếu là do sự thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ của nhà nước và quản lý xã hội, dẫn đến những tiêu cực phát sinh.

Hệ thống pháp luật hiện nay đang gặp phải tình trạng chồng chéo, bất cập và mâu thuẫn, dẫn đến nhiều sơ hở và xung đột Cụ thể, có sự mâu thuẫn giữa các quy định của luật này và luật khác khi xử lý các vấn đề liên quan, gây khó khăn trong việc áp dụng và thực thi pháp luật.

Pháp luật hiện tại chưa đủ để điều chỉnh tất cả các quan hệ và tình hình tội phạm cần thiết, dẫn đến việc còn tồn tại những khoảng trống chưa được luật hóa trong xã hội Điều này cho thấy rằng văn bản luật không theo kịp sự phát triển của quan hệ xã hội; khi văn bản có hiệu lực, nhiều hiện tượng tiêu cực đã chuyển biến theo những cách khác Thời gian ban hành văn bản luật không kịp thời và không phù hợp với thực tiễn, tạo cơ hội cho một số cá nhân và nhóm lợi ích lợi dụng những lỗ hổng trong luật để trục lợi, gây thiệt hại cho xã hội.

Trong thời gian dài, các cơ quan chuyên môn chưa chú trọng nghiên cứu về phòng ngừa tội phạm, dẫn đến việc thiếu chương trình và cơ chế hoàn chỉnh trong công tác đấu tranh chống tội phạm Hoạt động phòng, chống tội phạm thường mang tính hình thức, không thường xuyên và chỉ tập trung vào các phong trào nhất thời, làm giảm hiệu quả và giá trị thực tế Phương pháp hiện tại chủ yếu dựa vào giải pháp trấn áp mà chưa có biện pháp phòng ngừa xã hội căn cơ, lâu dài, và thiếu chiến lược rõ ràng trong việc ngăn chặn tội phạm.

Chúng ta chưa hoàn toàn chủ động trong việc phòng ngừa tội phạm, điều này tạo cơ hội cho kẻ xấu lợi dụng để thực hiện hành vi phạm tội và trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật.

M ố i quan h ệ c ủ a tình hình t ộ i ph ạ m v ới nguyên nhân và điề u ki ệ n c ủ a tình hình t ộ i ph ạ m

Từ góc độ của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng được hiểu là sự tương tác khách quan giữa nguyên nhân và hậu quả trong những điều kiện nhất định Các điều kiện này phụ thuộc vào sự tác động lẫn nhau, tạo ra môi trường cho sự phát triển và xuất hiện của hậu quả Để xảy ra một hậu quả, cần có sự hội tụ đầy đủ các điều kiện và nguyên nhân trong một hệ thống tác động thống nhất Mỗi cơ chế nhân quả có sự khác biệt do vị trí của các nguyên nhân và điều kiện, trong đó điều kiện không sinh ra hậu quả mà chỉ tạo điều kiện cho chúng xảy ra Sự đồng thời hoạt động của nguyên nhân và điều kiện là yếu tố quyết định dẫn đến các hiện tượng, như tình hình tội phạm, bắt nguồn từ tổng thể các nguyên nhân và điều kiện.

Các biểu hiện có khả năng phát sinh tình hình tội phạm thường xuất phát từ nguyên nhân và điều kiện của tội phạm, là những hiện tượng xã hội tồn tại trước tội phạm Nhân tố trực tiếp gây ra tình hình tội phạm trong xã hội chính là nguyên nhân của nó Trong khi đó, điều kiện hoạt động như chất xúc tác, tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển và phát sinh của tội phạm, nhưng không trực tiếp dẫn đến tội phạm.

Nhân thân của người phạm tội bao gồm những đặc điểm và dấu hiệu đặc trưng nhất, phản ánh bản chất của họ và ảnh hưởng đến hành vi phạm tội trong các tình huống, hoàn cảnh khác nhau Các yếu tố này có thể là đặc điểm sinh học như giới tính và lứa tuổi, cũng như các đặc điểm xã hội như hoàn cảnh gia đình, nhu cầu, hứng thú, ý thức đạo đức và môi trường làm việc.

Nghiên cứu tiền đề xác định nguyên nhân và điều kiện của tội phạm giúp hiểu rõ nhân thân người phạm tội, bao gồm các đặc điểm như nhu cầu, lợi ích, quan điểm sống và hoàn cảnh sống Những yếu tố này tác động lẫn nhau và quyết định động cơ thực hiện tội phạm Khi phân tích sự thay đổi trong đặc điểm nhân thân, chúng ta có thể dự đoán phương thức và thủ đoạn phạm tội mới, từ đó đưa ra các biện pháp phòng ngừa hiệu quả nhằm đối phó với tình hình tội phạm trong tương lai.

Tình hình tội phạm có thể trở thành nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm trong xã hội, thể hiện mối quan hệ giữa tình hình tội phạm và các yếu tố gây ra nó Sự biến động của tình hình tội phạm diễn ra liên tục qua các giai đoạn phát triển khác nhau, chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện kinh tế - xã hội Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm cũng thay đổi liên tục theo thời gian, phản ánh sự phát triển lịch sử của xã hội.

Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội pháp lý - hình sự, có tính lịch sử và biến đổi theo thời gian Nó phản ánh các hành vi trái pháp luật hình sự và mang tính giai cấp, bao gồm tổng thể các tội phạm diễn ra trong một xã hội (quốc gia) nhất định và trong một khoảng thời gian cụ thể.

Nghiên cứu tình hình tội phạm bao gồm cả tội phạm hiện và tội phạm ẩn, với các đặc điểm hành vi phạm tội và chủ thể bị xử lý theo quy định pháp luật Tình hình tội phạm không chỉ phản ánh những hành vi đã được phát hiện mà còn cả những hành vi chưa được phát hiện hoặc xử lý Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần tập trung vào việc xác định tỷ lệ, nguyên nhân và điều kiện của tội phạm ẩn để đề xuất các giải pháp phòng ngừa hiệu quả Việc hiểu rõ nguyên nhân của tình hình tội phạm sẽ giúp dự đoán xu hướng tội phạm trong tương lai, từ đó tạo cơ sở cho các biện pháp phòng ngừa tội phạm.

TH Ự C TI Ễ N TÌNH HÌNH T Ộ I PH ẠM TRÊN ĐỊ A BÀN

Khái quát v ề tình hình t ộ i ph ạm trên đị a bàn Qu ậ n 9, Thành ph ố H ồ Chí Minh

Trong quận 9, tình hình tội phạm diễn biến phức tạp với nhiều vụ án khó khăn Theo thống kê của Tòa án nhân dân quận 9 trong 5 năm qua, năm 2013, Tòa án đã thụ lý 205 vụ án với 340 bị cáo; năm 2014 thụ lý 204 vụ án với 273 bị cáo; và năm 2015 thụ lý 229 vụ án với 338 bị cáo.

Trong giai đoạn từ năm 2013 đến 2017, tổng số vụ án được thụ lý là 206 với 339 bị cáo, trong đó năm 2017 ghi nhận 160 vụ án và 205 bị cáo Tội phạm chủ yếu bị truy tố là “Trộm cắp tài sản”, với số vụ án và bị cáo tăng dần qua các năm: 80 vụ (2013), 125 vụ (2014), 114 vụ (2015), 76 vụ (2016) và 90 vụ (2017) Tiếp theo là tội phạm liên quan đến ma túy, bao gồm tàng trữ, vận chuyển và mua bán ma túy, với số vụ và bị cáo cũng tăng qua các năm.

Từ năm 2015 đến 2017, tình hình tội phạm tại các phường Trường Thạnh, Hiệp Phú, Phước Long A, Phước Long B và Tăng Nhơn Phú B có sự biến động rõ rệt, với 84 vụ và 98 bị cáo vào năm 2015, giảm còn 46 vụ và 76 bị cáo năm 2016, và 40 vụ với 62 bị cáo năm 2017 Các khu vực này có hệ thống giao thông phức tạp, bao gồm bến xe, chợ và khu nhà trọ, thu hút nhiều dân nhập cư từ nơi khác đến sinh sống và làm việc, dẫn đến sự gia tăng các loại tội phạm.

Thực trạng tình hình tội phạm hiện (rõ) trên địa bàn quận 9, Thành phố

Trong quận 9, tình hình tội phạm diễn biến phức tạp với nhiều vụ án khó Theo thống kê từ Tòa án nhân dân quận 9 trong 5 năm qua, năm 2013 có 205 vụ án với 340 bị cáo; năm 2014 có 204 vụ án với 273 bị cáo; và năm 2015 thụ lý 229 vụ án với 338 bị cáo.

Trong giai đoạn từ 2013 đến 2017, số lượng vụ án hình sự đã có sự biến động rõ rệt, với 206 vụ án và 339 bị cáo trong năm 2017, trong khi năm 2017 thụ lý 160 vụ án với 205 bị cáo Tội phạm phổ biến nhất được truy tố là “Trộm cắp tài sản”, với số vụ án và bị cáo tăng dần qua các năm, cụ thể năm 2013 có 80 vụ với 167 bị cáo, năm 2014 có 125 vụ với 265 bị cáo, năm 2015 có 114 vụ với 216 bị cáo, năm 2016 có 76 vụ với 145 bị cáo, và năm 2017 có 90 vụ với 182 bị cáo Tiếp theo là tội phạm liên quan đến ma túy, bao gồm tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma túy, với số vụ án và bị cáo cũng tăng theo thời gian, như năm 2013 có 60 vụ và 85 bị cáo, năm 2014 có 95 vụ và 105 bị cáo.

Từ năm 2015 đến 2017, địa bàn phường Trường Thạnh, Hiệp Phú, Phước Long A, Phước Long B và Tăng Nhơn Phú B ghi nhận sự gia tăng tội phạm với 84 vụ và 98 bị cáo năm 2015; 46 vụ và 76 bị cáo năm 2016; 40 vụ và 62 bị cáo năm 2017 Những khu vực này có hệ thống giao thông phức tạp, bến xe, chợ và khu nhà trọ, thu hút đông đảo dân nhập cư làm công nhân và buôn bán nhỏ, tạo điều kiện cho các loại tội phạm phát sinh.

2.2 Thực trạng tình hình tội phạm hiện (rõ) trên địa bàn quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh

Phần tội phạm hiện tại bao gồm toàn bộ số tội phạm và người phạm tội đã được phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử hình sự, được ghi nhận trong thống kê hình sự Luận văn sử dụng số liệu thống kê từ cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân quận 9 để phân tích tình hình tội phạm.

2.2.1 Thực trạng (mức độ) của thực tiễn tình hình tội phạm hiện (rõ)

Bài viết này tổng quan về tình hình tội phạm tại quận 9, tập trung vào các đặc điểm lượng của tội phạm trong giai đoạn từ năm 2012 đến 2017 Luận văn sử dụng số liệu thống kê từ các cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân quận 9 để làm tài liệu nghiên cứu, nhằm phân tích và đánh giá xu hướng tội phạm trong khu vực.

Mức độ tổng quan dưới đây thống kê số liệu trong giai đoạn từ năm

2012 đến năm 2017, hàng năm có các vụ và bị cáo phạm tội trên địa bàn quận

9 Dựa trên số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân quận 9, mức độ tổng quan được minh họa tại Bảng 2.1 và Bảng 2.2:

Bảng 2.1 Số vụ và số bị can, bị cáo qua các giai đoạn tố tụng trên địa bàn quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2013 đến năm 2017

Khởi tố mới Truy tố Xét xử

Số vụ án Số bị cáo Số vụ án Số bị cáo Số vụ án Số bị cáo

(Nguồn: Số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh)

Số bị cáo Dân số Cơ số tội phạm

Từ ngày 01/01/2013 đến 31/12/2017, quận 9 ghi nhận 1.004 vụ án với 1.495 bị cáo Năm 2015 là năm có số vụ án cao nhất với 229 vụ và 338 bị cáo, trong khi năm 2017 ghi nhận ít nhất với 160 vụ án và 205 bị cáo Trung bình, mỗi năm Tòa án xét xử hơn 200 vụ án.

Trong tổng số 299 bị cáo, con số này phản ánh tổng số vụ án cùng với số người phạm tội đã được đưa ra xét xử Tòa án đã tuyên án buộc tội, thể hiện phần hiện của tội phạm trong hệ thống tư pháp.

Số lượng vụ án và bị cáo từ giai đoạn khởi tố đến truy tố và xét xử đã giảm, như thể hiện trong Bảng 2.1 Sự giảm này cho thấy hoạt động điều tra chưa đạt hiệu quả cao, dẫn đến nhiều vụ án vẫn còn bỏ sót tội phạm.

Biểu đồ 2.1: Thực trạng của tình hình tội phạm trên địa bàn quận 9,

Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2013 – 2017

(Nguồn: Số liệu thống kê của Tòa án nhân dân quận 9,Thành phố Hồ Chí Minh)

Bảng 2.2 Cơ số tội phạm so với dân số ở quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2012-2017

Năm Số bị cáo Dân số Cơ số tội phạm

(Nguồn: Viện kiểm sát nhân dân quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh và Cục Thống kê dân số Thành phố Hồ Chí Minh

Kết quả thống kê tại Bảng trên cho thấy hệ số tội phạm: 106,42 người phạm tội bị xét xử trên 100.000 dân quận 9, nghĩa là 01 người phạm tội trên

941 người dân sinh sống tại quận 9

Bảng 2.3 Tình hình tội phạm của quận 9so với Thành phố Hồ Chí

Năm Quận 9 TP Hồ Chí Minh Tỷ lệ

Số vụ án Số bị cáo Số vụ án Số bị cáo Số vụ án Số bị cáo

(Nguồn số liệu thống kê của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Tòa án nhân dân quận 9)

Theo thống kê, tình hình tội phạm trên toàn thành phố tăng, nhưng tại Quận 9, tội phạm lại giảm, mặc dù dân số nơi đây tăng Điều này cho thấy các biện pháp phòng ngừa và chống tội phạm của các cơ quan chức năng tại Quận 9 đang phát huy hiệu quả.

Bảng 2.4 Mức độ các loại tội phạm tại địa bàn quận 9, Thành phố

Hồ Chí Minh từ năm 2012 đến năm 2017

Tội danh Số vụ án Tỷ lệ

2013 2014 2015 2016 2017 Tổng Tội trộm cắp tài sản 80 125 114 76 90 485 48,3 Tội cướp giật tài sản 16 14 13 18 05 66 6,57

Tội cưỡng đoạt tài sản 02 05 03 02 00 12 1,19 Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản 02 04 02 02 00 10 0,99

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 06 03 02 04 08 23 2,29

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán, chất ma túy

Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản 01 01 00 02 00 04 0,39 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe người khác

Tội hiếp dâm trẻ em 02 00 01 02 02 07 0,69 Tội dâm ô đối với trẻ em 01 00 00 01 01 03 0,29

Tội giao cấu với trẻ em 01 01 05 02 02 11 1,14

Tội bắt giữ hoặc giam người trái pháp luật 00 02 00 00 01 03 1,09 Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc 05 15 7 8 5 40 3,98

Tội môi giới mại dâm 03 04 02 02 01 12 1,19 Tội truyền bá văn hóa phạm đồi trụy 01 00 02 00 01 04 0,39

Tội chống người thi hành công vụ 01 02 01 03 02 09 0,89

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc

Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm

Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

Tội vi phạm quy định về quản lý nhà ở 01 01 00 00 00 02 0,19

Tội chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

(Nguồn: Số liệu thống kê của Tòa án nhân dân quận 9, TPHCM)

Theo Bảng 2.4, tội trộm cắp tài sản chiếm tỷ lệ cao nhất với 48,3%, tiếp theo là tội phạm về ma túy với 32,3%, và tội đánh bạc đứng thứ ba với 13,1% Sự gia tăng tội trộm cắp và tội phạm ma túy tại quận 9 đang gây lo ngại, tạo ra sự bất an cho người lao động và kéo theo nhiều người khác vào con đường phạm pháp Điều này dẫn đến tình hình an ninh ngày càng phức tạp hơn Vì vậy, cần có những biện pháp phòng ngừa và đấu tranh mạnh mẽ, liên tục đối với các loại tội phạm này.

2.2.2 Diễn biến (động thái) của tình hình tội phạm hiện (rõ)

Diễn biến và động thái của tình hình tội phạm phản ánh sự thay đổi về mức độ và cơ cấu của tội phạm Những thay đổi này thể hiện rõ ràng qua các trạng thái khác nhau của tình hình tội phạm.

Biểu đồ 2.2 Diễn biến (động thái) của tình hình tội phạm hiện

(Nguồn: Thống kê của Viện kiểm sát nhân dân quận 9,Thành phố Hồ Chí Minh)

Trên biểu đồ 2.2, ta có thể thấy được tình hình phạm tội từ năm 2013 đến năm 2017 có xu hướng giảm nhẹ xuất phát nhiều nguyên nhân khác nhau

Năm 2013, quận 9 tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 14/10/2006 nhằm tăng cường lãnh đạo công tác bảo đảm an ninh quốc gia trong bối cảnh mới Đồng thời, quận cũng triển khai Chỉ thị số 48/CT-TW ngày 22/10/2010 để nâng cao hiệu quả công tác này.

Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 86/KL-TW vào ngày 05/11/2010, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo an ninh trật tự trong bối cảnh các sự kiện lớn diễn ra tại Thành phố và cả nước Công an quận 9 đã triển khai nhiều đợt tấn công nhằm trấn áp tội phạm, phối hợp chặt chẽ với Đảng ủy và chính quyền địa phương để duy trì an toàn xã hội Lãnh đạo Công an quận 9 đã chủ động tham mưu và phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền để khuyến khích người dân tham gia bảo vệ trật tự an ninh Các biện pháp như lắp đặt camera an ninh và thiết lập đường dây nóng đã được thực hiện nhằm kịp thời ngăn chặn và tố giác tội phạm.

2.2.3 Cơ cấu của tình hình tội phạm hiện (rõ)

Tình hình tội phạm ở quận 9 cho thấy một bức tranh tổng quan về nhân thân người phạm tội và phương thức thực hiện tội phạm Các yếu tố này cấu thành cơ cấu của tình hình tội phạm, theo cách hiểu của tội phạm học.

- Cơ cấu đặc điểm nhân thân người phạm tội

Hành vi phạm tội thường xuất phát từ những yếu tố cụ thể liên quan đến con người và môi trường xã hội Để hiểu rõ nguyên nhân phạm tội, cần nghiên cứu nhân thân người phạm tội từ góc độ tội phạm học, nhằm xác định các yếu tố tác động đến hành vi của họ Việc này không chỉ giúp phát hiện những đặc điểm sai lệch trong nhân cách mà còn đề xuất các biện pháp phòng ngừa hiệu quả, giáo dục cải tạo người phạm tội và ngăn ngừa tái phạm Nghiên cứu này đóng vai trò quan trọng trong việc làm sáng tỏ bản chất bên trong của người phạm tội.

Th ự c ti ễ n tình hình t ộ i ph ạ m ẩn trên đị a bàn qu ậ n 9, Thành ph ố H ồ Chí

Thực tiễn từ bản án và số liệu thống kê xét xử, cùng với việc phân tích tội phạm ẩn, giúp đánh giá chính xác tình hình tội phạm và đặc điểm về lượng của nó.

Theo quy định pháp luật, mọi người đều bình đẳng và các hành vi phạm tội cần được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh Tuy nhiên, hiện nay, một số cơ quan tư pháp chưa thực hiện công tác thống kê đầy đủ về số vụ khởi tố, truy tố và xét xử, dẫn đến thông tin không chính xác về tình hình tội phạm Điều này khiến cho một số tội phạm vẫn chưa được phát hiện và xử lý, được gọi là tội phạm ẩn trong lĩnh vực khoa học pháp lý.

Số liệu thống kê về tình hình tội phạm quận 9 đã được so sánh và phân tích dựa trên các bản án trong Bảng 1.1 Qua việc đối chiếu trực tiếp với các Kiểm sát viên và Điều tra viên tại quận 9, nhận thấy rằng vẫn còn nhiều số liệu chưa được thống kê do một số nguyên nhân nhất định.

Các yếu tố tiêu cực từ phía người phạm tội có thể ảnh hưởng đáng kể đến hành vi phạm tội của họ Những yếu tố này bao gồm các nguyên nhân xã hội và tâm lý, có thể dẫn đến việc hình thành tội phạm Việc hiểu rõ những nhân tố này là cần thiết để nhận diện và ngăn chặn các hành vi phạm tội trong cộng đồng.

Người phạm tội thường sử dụng các phương thức và thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt để che giấu hành vi phạm tội của mình Họ luôn tìm cách ẩn giấu tội phạm trong suốt quá trình thực hiện và cả sau khi hoàn tất hành vi đó, thể hiện đặc tính tâm lý chung của những người vi phạm pháp luật.

Tình hình tội phạm ẩn thường xuất phát từ phía nạn nhân, khi họ có tâm lý sợ hãi về việc bị phát hiện và đối diện với dư luận xã hội Nạn nhân lo lắng về uy tín và danh dự của bản thân, cũng như sợ hãi những hậu quả từ việc báo cáo tội phạm, đặc biệt khi người thân có liên quan Họ cũng có thể cảm thấy xấu hổ hoặc mất mặt khi phải thừa nhận mình là nạn nhân của các tội phạm như trộm cắp, lừa đảo hay hiếp dâm Thêm vào đó, trong một số trường hợp, nạn nhân nôn nóng muốn lấy lại tài sản và không thông qua cơ quan pháp luật, dẫn đến việc họ thuê các dịch vụ đòi nợ không chính thức Hành động này khiến cơ quan bảo vệ pháp luật không nắm bắt được tình hình tội phạm thực tế và không thể thống kê đầy đủ số liệu liên quan.

Môi trường sống của cá nhân, bao gồm gia đình, nơi làm việc và khu vực cư trú, có thể chứa đựng nhiều tệ nạn xã hội, từ đó dẫn đến sự gia tăng tội phạm Những yếu tố này ảnh hưởng đáng kể đến tình hình tội phạm trong xã hội.

Người chứng kiến hành vi phạm tội thường phải trải qua nhiều lần đi lại tại cơ quan Công an để thực hiện thủ tục hành chính Họ lo ngại về việc bị trả thù cá nhân, ảnh hưởng đến công việc hàng ngày và lo lắng về chi phí phát sinh.

Thủ tục phát hiện, điều tra, truy tố và xử lý tội phạm hiện nay gặp nhiều khó khăn do năng lực chuyên môn hạn chế của các cơ quan bảo vệ pháp luật Cán bộ điều tra thường e ngại về việc ảnh hưởng đến uy tín cá nhân và tập thể, dẫn đến việc điều tra không chính xác và khởi tố vụ án không đúng thực tế Điều này tạo ra sự thiếu nghiêm minh và công bằng trong xử lý tội phạm Để hiểu rõ qui luật vận động của tội phạm, cần phải nghiên cứu tình hình tội phạm trong một khoảng thời gian và không gian nhất định.

Nghiên cứu qui luật vận động của tình hình tội phạm là cơ sở quan trọng để dự báo tình hình tội phạm trong việc xây dựng chương trình và kế hoạch tương lai, đồng thời góp phần hoàn thiện văn bản pháp luật trong công tác phòng ngừa và phòng chống tội phạm.

Dự báo tình hình tội phạm trên địa bàn quận 9, Thành phố Hồ Chí

Tội phạm học là ngành khoa học nghiên cứu tình hình tội phạm, coi tội phạm như một hiện tượng xã hội Bản chất của tội phạm không chỉ phản ánh mức độ phát triển của nó mà còn đáp ứng nhu cầu thực tiễn cấp bách trong việc bảo vệ pháp luật và duy trì trật tự, an toàn xã hội Dự báo tội phạm đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các cơ quan chức năng trong công tác phòng ngừa và xử lý tội phạm.

Dự báo tình hình tội phạm là quá trình phán đoán về thực trạng, diễn biến và tính chất của tội phạm có thể xảy ra trong tương lai Điều này bao gồm việc phân tích nguyên nhân, điều kiện và khả năng phòng chống tội phạm trong từng giai đoạn cụ thể Việc dự báo này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tình hình tội phạm mà còn hỗ trợ trong việc xây dựng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

44 và việc đánh giá về chất và lượng của những thay đổi trong tình hình tội phạm, các nguyên nhân và điều kiện của nó [41, tr.178]

Dự báo tình hình tội phạm cần được thực hiện ở nhiều mức độ khác nhau về không gian và thời gian, với dự báo ngắn hạn hoặc dài hạn tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu Việc dự báo chính xác giúp xây dựng kế hoạch phòng chống tội phạm hiệu quả, xác định mục tiêu và các chương trình cụ thể Mục tiêu chính của dự báo là xác định các số liệu tổng quát về diễn biến tội phạm trong tương lai, từ đó phát hiện các xu hướng và quy luật tiêu cực, nhằm đề xuất các phương án cải thiện tình hình tội phạm, hỗ trợ cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

Dự báo tình hình tội phạm là yếu tố quan trọng giúp triển khai các biện pháp phòng ngừa tích cực và chủ động tấn công tội phạm, từ đó hạn chế hậu quả và thiệt hại Kết quả dự báo cần phù hợp với thực tế để tổ chức đấu tranh hiệu quả, cho phép lựa chọn phương pháp tối ưu trong công tác phòng chống tội phạm Để đạt được điều này, cán bộ chuyên môn cần có trình độ giỏi nghiệp vụ nhằm đánh giá chính xác tình hình tội phạm hiện tại, đồng thời số liệu thống kê và tài liệu dự báo về kinh tế, chính trị, xã hội cũng phải chính xác.

Theo thống kê và phân tích tình hình tội phạm tại quận 9, có thể dự báo xu hướng tội phạm trong khu vực này từ năm 2017 trở đi.

- Về thực trạng (mức độ) và diễn biến (động thái) của tình hình tội phạm.

Tình hình tội phạm tại quận 9 trong 5 năm qua có xu hướng giảm, nhưng không đáng kể, trong bối cảnh dân số tăng và xã hội ngày càng phức tạp Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ cao tại Việt Nam đã dẫn đến việc sử dụng Internet cho giao dịch và quảng cáo, khiến một số người thay đổi lối sống truyền thống, coi thường đạo đức và pháp luật Bên cạnh đó, nền kinh tế gặp khó khăn với tình trạng lạm phát gia tăng, cơ cấu kinh tế thay đổi, hợp nhất ngân hàng yếu kém và sáp nhập doanh nghiệp, dẫn đến thu hẹp sản xuất và gia tăng tỷ lệ thất nghiệp.

Quận 9, trước đây là vùng ven ngoại thành với kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, đã trở thành một khu vực phát triển mạnh mẽ sau khi tách ra từ quận Thủ Đức Hiện tại, quận 9 sở hữu khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh và đang hình thành nhiều khu đô thị mới như Singa City và Tăng Long River View Hệ thống giao thông cũng được nâng cấp với các dự án như đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành - Dầu Giây, Bến xe miền Đông mới, và tuyến Metro Tuy nhiên, sự tăng trưởng kinh tế và đô thị hóa nhanh chóng dẫn đến hiện tượng nhập cư, gia tăng tội phạm và sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội ngày càng rõ rệt.

Tình hình an sinh và phúc lợi xã hội tại quận 9 còn nhiều hạn chế, dẫn đến sự gia tăng các tệ nạn như nghiện ngập, cờ bạc, trộm cắp và cướp giật Dữ liệu thống kê từ năm 2012 đến 2017 cho thấy tội phạm diễn biến phức tạp với thủ đoạn tinh vi hơn, cùng với sự thờ ơ của người chứng kiến và tâm lý sợ rắc rối của nạn nhân Những biến động về dân số, kinh tế và tâm lý xã hội, cùng với việc quản lý lãnh đạo không chặt chẽ, đã làm gia tăng tranh chấp và khiếu kiện, gây mất an ninh trật tự và lòng tin của người dân Hiệu quả phát hiện tội phạm của lực lượng công an còn hạn chế, dẫn đến tình hình tội phạm vẫn diễn biến theo xu thế tương tự trong 5 năm qua, với các loại tội phạm như trộm cắp tài sản, cướp giật và mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy chiếm tỷ lệ cao.

Quận 9, vùng ven ngoại thành với phong cách nông thôn Nam Bộ, đang đối mặt với tình trạng mất cân bằng giới tính do tư duy phong kiến trọng nam khinh nữ, dẫn đến tỷ lệ bé trai sinh ra cao hơn bé gái Thống kê cho thấy nam giới phạm tội nhiều hơn nữ giới, cho thấy sự chênh lệch rõ rệt Mỗi năm, quận 9 ghi nhận sự gia tăng dân số cơ học, trong đó dân số nam tăng nhanh hơn nữ, làm gia tăng nguy cơ tội phạm, đặc biệt là các hành vi bạo lực Tình hình trật tự an ninh trở nên phức tạp, đòi hỏi công tác dự báo và phòng chống tội phạm cần được cải thiện hơn nữa.

- Dự báo về nạn nhân

Nạn nhân của tội phạm bao gồm cá nhân và tổ chức bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tinh thần, tình cảm, tài sản và các quyền lợi hợp pháp khác do hành vi phạm tội gây ra.

Nạn nhân của tội phạm có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau phục vụ cho nghiên cứu Các căn cứ phân loại nạn nhân bao gồm: địa vị pháp lý của nạn nhân, cơ chế tác động của hành vi phạm tội đến nạn nhân, và vai trò của nạn nhân trong cơ chế hành vi phạm tội.

Theo thống kê tại Bảng 2.4 cho ta thấy được nạn nhân của địa bàn quận

Tội phạm trộm cắp tài sản chiếm tỷ lệ cao nhất với 48,3%, tiếp theo là tội phạm ma túy với 32,3% và tội phạm đánh bạc, gá bạc với 13,1% Dựa trên những số liệu này, có thể dự báo rằng tình hình tội phạm sẽ gia tăng, đặc biệt là các loại tội phạm liên quan đến an ninh trật tự, tệ nạn xã hội và quyền sở hữu tài sản.

- Dự báo về thủ đoạn, tính chất và phương thức của hành vi phạm tội nguy hiểm tại địa bàn quận 9

Phương thức và thủ đoạn phạm tội tại quận 9 đang trở nên tinh vi và phức tạp, đặc biệt là tội xâm phạm sở hữu sử dụng công nghệ cao như trộm cắp, lừa đảo thẻ tín dụng, và phát tán virus tấn công vào mạng lưới tổ chức Tội phạm chủ yếu xảy ra ở các khu dân cư lao động, nơi có nhiều kênh rạch phức tạp, tạo điều kiện thuận lợi cho tội phạm lẩn trốn Tình trạng dân số nhập cư đông và biến động cũng làm cho việc quản lý trở nên khó khăn Đặc biệt, tính chất nguy hiểm của các hành vi phạm tội gia tăng do sử dụng phương tiện hiện đại và vũ khí để thực hiện các hành vi phạm pháp.

48 tội danh liên quan đến việc tẩu thoát khi bị phát hiện có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng và tinh thần của nạn nhân cũng như những người chứng kiến.

- Dự báo về ngườiphạm tội

Tại quận 9, nam giới chiếm tới 95,98% tổng số người phạm tội, với độ tuổi chủ yếu từ 30 trở lên chiếm 20,06% Khu vực này, trước đây là vùng sâu, nay đã trải qua quá trình đô thị hóa, dẫn đến việc người phạm tội thường có trình độ học vấn thấp Tuy nhiên, cũng có một số ít người có trình độ học vấn cao, mặc dù họ chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng lại có khả năng thực hiện và che giấu hành vi phạm tội một cách tinh vi Đặc điểm sống tại vùng nông thôn và tình hình địa bàn phức tạp đã tạo ra nhiều thách thức trong công tác phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm.

- Dự báo khả năng phòng, chống tội phạm của các cơ quan bảo vệ pháp luật

CÁC GI Ả I PHÁP PHÒNG NG Ừ A TÌNH HÌNH T Ộ I PH Ạ M TRÊN ĐỊ A BÀN QU Ậ N 9, THÀNH PH Ố H Ồ CHÍ MINH

Ngày đăng: 25/07/2021, 21:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Bộ Công an (2005), Từ điển Bách khoa Công an nhân dân, Nxb Công an nhân dân , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa Công an nhân dân
Tác giả: Bộ Công an
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2005
6. Bộ Công an, Tổng cục Cảnh sát nhân dân (1994), Tội phạm ở Việt Nam thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, Đề tài nghiên cứu khoa học, mã số KX.04.14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm ở Việt Nam thực trạng, nguyên nhân và giải pháp
Tác giả: Bộ Công an, Tổng cục Cảnh sát nhân dân
Năm: 1994
7. Lê Cảm ( 2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
8. Nguyễn Văn Cảnh cùng tập thể tác giả (2010), Tội phạm học, Tổng cục xây dựng lực lượng Công an Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm học
Tác giả: Nguyễn Văn Cảnh cùng tập thể tác giả
Năm: 2010
11. Đỗ Bá Cở (2000), Giáo trình Cảnh sát nhân dân làm việc với trẻ em làm trái pháp luật, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Cảnh sát nhân dân làm việc với trẻ em làm trái pháp luật
Tác giả: Đỗ Bá Cở
Năm: 2000
12. Đỗ Bá Cở (2000), Hoạt động của lực lượng Cồn an nhân dân trong phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội trong tình hình hiện nay, Luận án Tiến sỹ Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của lực lượng Cồn an nhân dân trong phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội trong tình hình hiện nay
Tác giả: Đỗ Bá Cở
Năm: 2000
14. Học viện Cảnh sát nhân dân (2003), Giáo trình Phương pháp điều tra các loại tội phạm cụ thể, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phương pháp điều tra các loại tội phạm cụ thể
Tác giả: Học viện Cảnh sát nhân dân
Năm: 2003
15. Liên hợp quốc (1997), Công ước về Quyền trẻ em, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước về Quyền trẻ em
Tác giả: Liên hợp quốc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
16. Hồ Chí Minh (1972), Bàn về công tác giáo dục, Nxb Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về công tác giáo dục
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1972
17. Hồ Chí Minh (1960), Tuyển tập Hồ Chí Minh, Nxb Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Hồ Chí Minh
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1960
18. Đỗ Ngọc Quang (2008), Giáo trình Tội phạm học, Đại học C ảnh sát nhân dân , Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tội phạm học
Tác giả: Đỗ Ngọc Quang
Năm: 2008
19. Đỗ Ngọc Quang (2003), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Đỗ Ngọc Quang
Năm: 2003
20. Đinh Văn Quế (2006), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự nước Cộng hoà XHCN Việt Nam , Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự nước Cộng hoà XHCN Việt Nam
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
21. Đinh Văn Quế (1998), Bình luận án, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận án
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1998
22. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2009), Bộ luật hình sự nước Cộng hoà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự nước Cộng hoà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
23. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004), Bộ luật Tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
24. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004), Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
26. Thủ tướng chính phủ (1998), Quyết định số 138/1998/QĐ - TTg Phê duyệt chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm ngày 31 tháng 7 năm 1998 ; 27. Ngô Ngọc Thúy cùng tập thể tác giả (2009), Tội phạm học , Nxb Công annhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 138/1998/QĐ-TTg Phê duyệt chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm ngày 31 tháng 7 năm 1998"; 27. Ngô Ngọc Thúy cùng tập thể tác giả (2009), "Tội phạm học
Tác giả: Thủ tướng chính phủ (1998), Quyết định số 138/1998/QĐ - TTg Phê duyệt chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm ngày 31 tháng 7 năm 1998 ; 27. Ngô Ngọc Thúy cùng tập thể tác giả
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2009
28. Phạm Văn Tỉnh (2007), Một số vấn đề lý luận về tình hình tội phạm ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận về tình hình tội phạm ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Văn Tỉnh
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2007
29. Phạm Văn Tỉnh (1996), Cơ chế hành vi phạm tội cơ sở để xác định nguyên nhân và biện pháp phòng ngừa, Tạp chí kiểm sát , (số 1), tr.30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế hành vi phạm tội cơ sở để xác định nguyên nhân và biện pháp phòng ngừa
Tác giả: Phạm Văn Tỉnh
Năm: 1996

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w