1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biểu hiện rối nhiễu tâm lý ở lứa tuổi sinh viên

204 47 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biểu hiện rối nhiễu tâm lý ở lứa tuổi sinh viên
Tác giả PGS. TS Lê Thị Hoa, ThS. Lê Khắc Mỹ Phượng, ThS. Lý Mai Anh
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 204
Dung lượng 3,47 MB

Cấu trúc

  • I. PHẦN MỞ ĐẦU (5)
  • II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (11)
  • CHƯƠNG I. (11)
    • 1. Cơ sở lý luận về rối nhiễu tâm lý (11)
    • 2. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi sinh viên (45)
  • CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG RỐI NHIỄU TÂM LÝ CỦA SINH VIÊN LỨA TUỔI TỪ17 – 18 ĐẾN 24 – 25 TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC (57)
    • 1. Tổng quan tình hình thành phố Hồ Chí Minh (57)
    • 2. Khảo sát thực trạng rối nhiễu tâm lý của sinh viên ở một số trường cao đẳng, đại học tại TP Hồ Chí Minh (59)
  • CHƯƠNG III: BIỆN PHÁP NGĂN NGỪA RỐI NHIỄU TÂM LÝ (85)
    • 1. Cơ sở đề xuất biện pháp (85)
    • 2. Các biện pháp ngăn ngừa rối nhiễu tâm lý tuổi sinh viên (86)
  • KẾT LUẬN (89)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (91)

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh, vừa là người sáng tạo ra hoàn cảnh

Hoàn cảnh sống ảnh hưởng sâu sắc đến mỗi con người, thường mang đến nhiều khó khăn và trở ngại trong quá trình phát triển Những tác động từ môi trường tự nhiên như hạn hán, lũ lụt và ô nhiễm, cùng với những thách thức từ môi trường xã hội như chiến tranh và xung đột, tạo ra áp lực lớn Bên cạnh đó, những vấn đề cá nhân như nghiện ngập và bạo lực cũng góp phần làm trầm trọng thêm tình trạng tâm lý Áp lực từ công việc, học hành và các mối quan hệ xã hội dẫn đến sự mất cân bằng tâm lý, gây ra lo âu, căng thẳng và tổn thất tình cảm, làm rạn nứt các mối quan hệ gia đình và xã hội.

Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực cho sự phát triển, với tất cả các nỗ lực xã hội nhằm phục vụ cho con người Mục tiêu phát triển đất nước tập trung vào con người, từ kinh tế, xã hội đến văn hóa giáo dục Khi được giáo dục, con người trở thành nguồn lực chính cho sự phát triển Tốc độ phát triển của xã hội phụ thuộc vào sự phát triển của từng cá nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ, những người quyết định chất lượng phát triển Tuy nhiên, sự phát triển của con người còn phụ thuộc vào hoàn cảnh và điều kiện xã hội, vì bản chất con người là tổng hòa của các quan hệ xã hội.

Sự phát triển kinh tế xã hội đã nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo điều kiện cho mọi người phát triển khả năng của mình Tuy nhiên, áp lực cuộc sống, công việc và học tập ngày càng gia tăng, dẫn đến nhiều khó khăn và thách thức cho cá nhân Những áp lực này có thể gây ra khủng hoảng tinh thần, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tâm lý Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tử vong do nguyên nhân tâm lý cao hơn cả ung thư, điều này đã thu hút sự quan tâm của các nhà tâm lý học và tổ chức y tế trên toàn thế giới Tại Mỹ, tỷ lệ dân số mắc rối loạn tâm lý đã tăng từ 15% năm 1978 lên 20% năm 1991, trong khi ở Đức là 25% Tại Việt Nam, nghiên cứu về tâm lý, đặc biệt là tâm lý thanh niên, vẫn còn mới mẻ Từ năm 1989, BS Nguyễn Khắc Viện đã thành lập trung tâm nghiên cứu trẻ em tại Hà Nội, với sự tham gia của 40 chuyên gia, tiến hành hoạt động khám chữa bệnh tâm lý miễn phí tại ba vùng Năm 1997, đề tài nghiên cứu tâm lý trẻ em đã được nghiệm thu, đánh dấu bước đầu tiên cho chuyên ngành tâm lý lâm sàng tại Việt Nam, với nhận định rằng cuộc sống của trẻ em thường ẩn chứa nhiều nỗi khổ mà không dễ nhận thấy.

Trong những năm qua, Bệnh viện Tâm thần Nhiệt đới TP HCM đã tiếp nhận nhiều trẻ em mắc hội chứng “Rối loạn ám ảnh cưỡng bức”, thể hiện qua những hành vi bất thường và sự thiếu tự chủ, mặc dù các em nhận thức được rằng hành vi của mình là sai trái Hội chứng này thường xuất hiện ở độ tuổi mới lớn, đặc biệt trong giai đoạn đầu tuổi dậy thì (10 – 11 tuổi) và cuối tuổi dậy thì (17 – 18 tuổi).

Năm 2001, bệnh viện nhi đồng 2 TP HCM đã thành lập khoa tâm lý trẻ em theo mô hình của Pháp, đánh dấu bước đầu tiên trong việc chẩn đoán và điều trị tâm lý cho trẻ em tại Việt Nam Bệnh viện đã hỗ trợ hàng ngàn học sinh bị chấn thương tâm lý, dẫn đến các triệu chứng như đau bụng tái diễn, đau đầu, biếng ăn và mất ngủ Qua đó, bệnh viện không chỉ chữa bệnh mà còn mở ra một hướng đi mới trong việc điều trị trẻ em bằng liệu pháp tâm lý trị liệu.

Tại Việt Nam, tư vấn và trị liệu tâm lý vẫn là lĩnh vực mới mẻ và chưa được chú trọng đúng mức Theo thống kê, ngoài các trung tâm tư vấn tâm lý về tình yêu, hôn nhân, gia đình, trẻ em và cha mẹ, cũng như sức khỏe và HIV/AIDS, chỉ có một số ít trung tâm nghiên cứu thuộc bệnh viện tâm thần kết hợp với phương pháp trị liệu tâm lý hiện đại Đội ngũ cán bộ tại các trung tâm này chủ yếu là bác sĩ được đào tạo từ các trường y khoa, trong khi một số ít khác tốt nghiệp từ các khoa tâm lý – giáo dục của các trường đại học sư phạm và khoa học xã hội.

Xã hội phát triển kéo theo nhu cầu tư vấn ngày càng tăng, do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và cơ chế thị trường gây ra xáo trộn trong cuộc sống hàng ngày Xu hướng mở cửa và hội nhập kinh tế, văn hóa, cùng với áp lực trong học tập và thi cử, đã dẫn đến sự gia tăng các vấn đề tâm lý như stress, rối loạn tâm lý, và trầm cảm Tuy nhiên, hiện tại, Việt Nam vẫn chưa có nghiên cứu hệ thống nào về hội chứng này ở người lớn.

Sinh viên là giai đoạn quan trọng trong việc hình thành nhân cách nghề nghiệp, nhưng họ cũng phải đối mặt với áp lực lớn từ xã hội Theo thống kê của phòng khám TUNA, khoảng 15% bệnh nhân mắc rối loạn tâm lý là sinh viên, và số lượng này đang gia tăng TS Lã Thị Bưởi, trưởng phòng khám, cho biết phần lớn rối loạn tâm lý xảy ra ở sinh viên năm nhất, năm hai, hoặc những người đã tốt nghiệp Đáng chú ý, có hơn 300 loại rối loạn liên quan đến sức khỏe tâm thần, và cứ 10 người thì có 2 người biểu hiện các triệu chứng rối loạn ở nhiều cấp độ khác nhau.

Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa và giải tỏa những bức xúc trong học tập, sinh hoạt và hướng nghiệp, nhằm đạt được sự thăng bằng tâm lý và phát triển nhân cách nghề nghiệp Việc chủ động can thiệp để giảm thiểu nguyên nhân gây ra rối nhiễu tâm lý không chỉ mang lại lợi ích cho cá nhân mà còn cho toàn xã hội Chính vì lý do này, chúng tôi đã chọn nghiên cứu về “Biểu hiện rối nhiễu tâm lý ở lứa tuổi sinh viên” làm đề tài chính.

Nghiên cứu về rối nhiễu tâm lý ở sinh viên nhằm xác định nguyên nhân gây ra tình trạng này, từ đó đề xuất các biện pháp ngăn ngừa hiệu quả Mục tiêu là giúp sinh viên duy trì sự cân bằng tâm lý, góp phần vào sự phát triển toàn diện và nâng cao chất lượng cuộc sống của họ.

Biểu hiện rối nhiễu tâm lý

Sinh viên tuổi từ 18 đến 25 đang theo học tại các trường cao đẳng, đại học ở TP

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về rối nhiễu tâm lý ở lứa tuổi sinh viên

Khảo sát nhằm phát hiện thực trạng các loại rối nhiễu tâm lý của sinh viên tại một số trường cao đẳng và đại học ở TP Hồ Chí Minh là rất cần thiết Nghiên cứu này sẽ giúp hiểu rõ hơn về tình hình tâm lý của sinh viên, từ đó đề xuất các giải pháp hỗ trợ phù hợp Việc nắm bắt thông tin về các vấn đề tâm lý phổ biến sẽ góp phần nâng cao chất lượng đời sống tinh thần cho sinh viên.

5.3 Đề xuất biện pháp ngăn ngừa rối nhiễu tâm lý cho sinh viên

Sinh viên năm nhất và năm hai thường gặp rối nhiễu do khó khăn trong mối quan hệ với bạn bè và đồng môn, cũng như trong việc học tập Họ chưa biết cách tự học hiệu quả trong môi trường trường học.

+ Với sinh viên năm cuối rối nhiễu lo âu do lo lắng tìm việc làm để có thể tự lập sau khi tốt nghiệp

+ Sinh viên thiếu tự tin vào bản thân, còn nhút nhát , sợ nói trước đám đông dẫn đến lo âu

Môi trường học tập tại các trường cao đẳng và đại học đòi hỏi sinh viên phải có tính tự giác cao, khác biệt hoàn toàn so với bậc phổ thông Điều này giúp sinh viên phát triển khả năng tự lập và thích nghi tốt hơn trong quá trình học tập.

“bắt nhịp” của sinh viên còn hạn chế cũng là một nguyên nhân góp phần tác động tạo ra stress

Phương pháp nghiên cứu tài liệu bao gồm việc phân tích và tổng hợp các báo cáo khoa học, tạp chí chuyên ngành, sách chuyên ngành (dịch từ tiếng Anh) và thông tin từ internet Mục tiêu của phương pháp này là thu thập các thông tin cơ sở lý thuyết liên quan đến rối nhiễu tâm lý.

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ tổng kết kinh nghiệm thông qua việc phân tích, tổng hợp, so sánh và khái quát các ca tư vấn và trị liệu cho sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh trong vòng 3 năm qua Các phương pháp này giúp làm rõ hiệu quả và xu hướng trong công tác tư vấn, từ đó đưa ra những nhận định giá trị cho các cơ sở tư vấn.

7.3 Phương pháp phỏng vấn sâu: với một số sinh viên có những biểu hiện rối nhiễu ở mức độ khá nặng

7.4 Phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi nhằm tìm hiểu các biểu hiện của các loại rối nhiễu tâm lý và những nguyên nhân gây ra chúng

Cơ sở lý luận về rối nhiễu tâm lý

1.1 Các khái niệm cơ bản:

1.1.1 Nhận dạng: Nhìn hình dáng, đặc điểm bên ngoài nhận ra một vật nào đó (Từ điển tiếng Việt, tr 706)

1.1.2 Rối nhiễu tâm lý (psychological disorder) hay còn gọi là nhiễu tâm:

Nhiễu tâm là một rối loạn tâm lý không làm tan rã nhân cách nhưng gây ra nhiều khó khăn trong cuộc sống hàng ngày Người mắc phải thường trải qua những triệu chứng như sợ hãi vô cớ, ám sợ và ám ảnh, dẫn đến cảm giác "dở hơi" trong suy nghĩ và hành động (Nguyễn Khắc Viện, tr.193).

Rối nhiễu tâm lý, hay còn gọi là rối nhiễu tâm trí hoặc rối nhiễu nhân cách, là những kiểu tri giác, tư duy và hành vi kém thích nghi, cứng nhắc và kéo dài Những rối nhiễu này có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng hoạt động của cá nhân trong các môi trường xã hội và lao động, đồng thời gây ra nỗi khổ tâm đáng kể Thường thì, các rối nhiễu này có thể được nhận diện từ tuổi thanh thiếu niên.

Có rất nhiều dạng rối nhiễu tâm lý nhưng chúng đều có đặc điểm chung sau:

Hành vi rối loạn nhân cách thường bắt đầu xuất hiện trong giai đoạn cuối thời thơ ấu hoặc thanh niên và sẽ tiếp tục kéo dài đến tuổi trưởng thành.

Rối loạn nhân cách ở trẻ em và vị thành niên thường bị nhầm lẫn với hạnh kiểm kém Tuy nhiên, không phải tất cả trẻ em có hạnh kiểm kém đều sẽ phát triển thành rối loạn nhân cách khi trưởng thành.

Người rối loạn nhân cách thường có những thái độ và hành vi gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng cho bản thân và những người xung quanh Những cách họ nhìn nhận cuộc sống, tư duy và tương tác với người khác cũng như trong công việc đều có thể dẫn đến những khó khăn trong mối quan hệ xã hội và sự nghiệp.

 Người được chẩn đoán rối loạn nhân cách có thể không có tính mềm dẻo trong cư xử

 Có tính chất dai dẳng diễn ra trong một thời gian dài

Bài viết này tập trung vào năm loại rối nhiễu tâm lý phổ biến ở sinh viên, bao gồm rối nhiễu nhân cách, rối nhiễu phân ly, rối nhiễu lo âu, rối nhiễu tình cảm và rối nhiễu ăn uống Ngoài ra, sẽ có một phần mô tả ngắn gọn về một số loại rối nhiễu tâm lý khác để cung cấp cái nhìn tổng quan hơn về vấn đề này.

1.1.3 Nhận dạng rối nhiễu tâm lý:

Khi nhận dạng rối nhiễu, cần chú ý:

Tính khách quan trong việc xếp loại một người có rối nhiễu tâm trí là một quá trình xét đoán phức tạp, chịu ảnh hưởng từ các tiêu chuẩn chuyên môn cũng như các yếu tố pháp lý và xã hội Những hành vi không phù hợp với kỳ vọng của một nền văn hóa hay xã hội cụ thể có thể bị gán nhãn tâm bệnh lý, điều này cho thấy sự cần thiết phải xem xét kỹ lưỡng các yếu tố văn hóa khi đánh giá sức khỏe tâm thần.

Ứng xử có thể được phân loại dựa trên nội dung và bối cảnh của nó, vì ý nghĩa của một hành động phụ thuộc vào môi trường diễn ra Một hành động giống nhau có thể mang ý nghĩa khác nhau khi xảy ra trong những tình huống khác nhau.

Chứng bệnh tâm lý được hiểu qua mô hình bối cảnh hoặc sinh thái, trong đó tính khác được xem như kết quả của sự tương tác giữa cá nhân và xã hội Tính khác thường phản ánh sự không phù hợp giữa năng lực cá nhân và các nhu cầu, chuẩn mực xã hội, cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa cá nhân và môi trường xung quanh.

+ Tính “bêu x ấu/l ên án ” (stigma): Một vấn đề khác liên quan đến việc gán cái nhãn

“Tính khác thường” thường bị xem là một cách bêu xấu đối với những người mắc rối nhiễu Để giảm thiểu sự hiểu lầm và thành kiến, xã hội cần được trang bị kiến thức đầy đủ thông qua giáo dục, giúp tạo ra sự công bằng cho những cá nhân này.

Trong nghiên cứu về "nhận dạng rối nhiễu tâm lý", chúng ta xác định các loại rối nhiễu tâm lý phổ biến ở sinh viên từ 18 đến 25 tuổi đang theo học tại các trường cao đẳng và đại học tại thành phố Hồ Chí Minh thông qua các triệu chứng biểu hiện bên ngoài.

1.2 Phương pháp tiếp cận tâm bệnh lý: Đây là những cách tiếp cận giúp cho những nhà trị liệu hiểu được nguyên nhân vì sao rối nhiễu tâm lý xảy ra, nguồn gốc của nó cũng như ảnh hưởng của nó đến nhận thức (đặc biệt là quá trình tư duy), tình cảm (đặc biệt là cảm xúc) và hành động (đặc biệt là ứng xử); từ đó, đi tới con đường mới mẻ, hoàn thiện trong phương pháp tiếp cận điều trị

1.2.1 Phương pháp tiếp cận sinh học : Theo phương pháp tiếp cận này, y học hiện đại giả định rằng những rối nhiễu tâm lý được trực tiếp quy cho những yếu tố sinh học cơ bản, phần lớn gắn với não và hệ thần kinh Não là một cơ quan phức tạp có những nhân tố tương quan với nhau được giữ trong một thế cân bằng tinh tế Những thay đổi trong mô tế bào não hoặc trong các chất dẫn truyền thần kinh có thể có những ảnh hưởng có ý nghĩa Ngòai ra những yếu tố di truyền, tình trạng thương tổn não và nhiễm trùng là một trong số nguyên nhân gây ra những thay đổi nói trên

Ngày nay, tiến bộ trong kỹ thuật chụp cắt lớp sinh học đã giúp các nhà nghiên cứu định lượng khám phá mối liên hệ giữa rối loạn tâm lý và các bất thường trong não Việc sử dụng thuốc trong trị liệu có thể giảm triệu chứng, và các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra mối liên kết giữa các gen cụ thể và sự hiện diện của rối loạn tâm lý Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điều chưa được biết về mối liên hệ giữa sinh học, gen và tâm bệnh lý.

1.2.2 Phương pháp tiếp cận tâm lý (tiếp cận tâm động, tiếp cận ứng xử, tiếp cận nh ận thức) : Phương pháp tiếp cận này tập trung vào những trải nghiệm cá nhân, những chấn thương, những xung đột và những yếu tố môi trường – những yếu tố được xem là gốc rễ của các rối nhiễu tâm lý Ba cách tiếp cận chiếm ưu thế về mặt tâm lý với tính không bình thường đó là các mô hình tâm động, ứng xử, và nhận thức a/ Mô hình tâm động chủ trương rằng những nguyên nhân tâm bệnh lý là những lực bên trong con người Theo Sigmund Freud, người đã sáng lập mô hình này, cho rằng có rối nhiễu tâm lý phát sinh từ sự mở rộng các quá trình “bình thường” của xung đột nội tâm và sự tự vệ cái tôi hoặc của xung đột vô thức và các ý nghĩ Nếu vô thức rơi vào xung đột và chứa đầy căng thẳng thì con người trở nên đau khổ vì lo hãi và bị các rối nhiễu khác Con người cố gắng tránh nỗi đau khổ gây ra do những động cơ và nỗi lo hãi thì lại xung đột với các cơ chế tự vệ như dồn nén và phủ nhận chẳng hạn Và khi năng lượng tâm thần bị tiêu hao vì phải cố tự vệ chống lại sự nảy sinh lo hãi vì dồn nén thì cuộc sống ít đem lại niềm vui sáng tạo và không được hài lòng Với cách tiếp cận này, nhà trị liệu sẽ chú ý tới những kiểu hành động và các mối quan hệ đã qua của thân chủ, và sẽ cố gắng nhận dạng những xung động vô thức đang ngự trị với những khó khăn hiện tại Và cách tiếp cận này cũng cho rằng việc nhìn thấu suốt vào những nguồn cội các vấn đề của một con người là điều cốt lõi để đưa ra những thích nghi ứng xử có hiệu quả b/ Mô hình ứng xử: Đây là mô hình chiếm ưu thế ở Mỹ trong ngành nghiên cứu tâm lý tại Hoa Kỳ từ những năm 1930 đến 1970 Những nhà theo thuyết ứng xử lập luận rằng những ứng xử không bình thường diễn ra theo cùng một cách như các ứng xử lành mạnh, và họ tập trung vào ứng xử hiện thời của con người, những tình huống hiện thời hoặc những phương thức củng cố khiến ứng xử được duy trì, dẫu ứng xử có mang tính thích nghi hay không Tính bất thường được xét đoán dựa vào mức độ hành động của một người giống một loạt các chỉ báo như sự đau khổ, tình trạng không thích nghi, tính phi lý, tính không đoán trước được, tính vượt ra ngoài quy ước và sự khó chịu của người quan sát Những triệu chứng rối nhiễu tâm lý thường phát sinh vì lý do một cá nhân đã tự khiến mình thất bại hoặc dấn thân vào cách ứng xử không hiệu quả Bằng cách khám phá ra những điều bất ngờ do điều kiện môi trường gây ra khiến duy trì một ứng xử không mong muốn, không bình thường, nhà nghiên cứu hay nhà lâm sàng có thể sau đó khuyến cáo việc điều trị nhằm làm thay đổi những điều bất ngờ đó và ngăn chặn những ứng xử không mong muốn Những nhà theo thuyết ứng xử dựa vào cả mô hình điều kiện hóa kinh điển lẫn điều kiện hóa có thao tác nhằm tìm hiểu các quá trình có thể đưa tới hành vi kém thích nghi c/ Mô hình nhận thức: Đây là cách tiếp cận thường được dùng để bổ sung cho cách tiếp cận theo thuyết ứng xử Tiếp cận nhận thức cho rằng ta không được chờ đợi để khám phá những nguồn gốc các rối nhiễu tâm lý trong thực tại khách quan của các điều kiện môi trường kích thích, những tác nhân củng cố và những đáp ứng công khai, mà ta phải nhìn vào điều ta tri giác hoặc suy nghĩ như thế nào về bản thân và những mối liên quan của ta với những người khác và điều kiện môi trường của mình Vì những méo mó trong niềm tin và những tri giác của con người về bản thân và về thế giới là trung tâm của các rối nhiễu tâm lý

Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi sinh viên

Sinh viên thường nằm trong độ tuổi thanh niên từ 17 đến 24, với sự đa dạng về độ tuổi và trình độ Đặc biệt, nhóm tuổi 17-24 chiếm đa số trong các trường cao đẳng và đại học, là thời kỳ mà sinh viên đã đạt được mức độ trưởng thành về tư tưởng và tâm lý Đây cũng là giai đoạn họ tự xác định vị trí xã hội, tích cực tham gia vào cuộc sống lao động và nghề nghiệp, chuẩn bị cho cuộc sống tự lập, đồng thời phải đưa ra nhiều quyết định quan trọng liên quan đến nghề nghiệp, định hướng nhân cách, tình yêu và lý tưởng sống.

Dưới tác động của nhiều yếu tố như vị trí của thanh niên trong trường học và tổ chức, kinh nghiệm sống, cũng như sự thay đổi lớn trong điều kiện kinh tế xã hội của đất nước, nhân cách thanh niên hiện nay đã phát triển đa dạng và phức tạp, khác biệt so với thế hệ trước Đồng thời, sự du nhập văn hóa từ các quốc gia khác trong quá trình hội nhập toàn cầu cũng góp phần hình thành những đặc điểm mới ở thanh niên Nghiên cứu về lứa tuổi thanh niên có thể được tiếp cận từ ba phương diện chính: sinh lý, tâm lý và xã hội.

Lứa tuổi từ 17-24 là giai đoạn mà cơ thể các em phát triển tương đương với người lớn, tuy tốc độ phát triển chậm lại so với trước Trong giai đoạn này, chức năng sinh lý cũng phát triển mạnh mẽ, với trọng lượng cơ thể tăng, đặc biệt ở nam giới, và bộ xương cùng cơ bắp phát triển toàn diện Hệ thần kinh và tim mạch trở nên ổn định, huyết áp được điều hòa, và các tuyến nội tiết hoạt động đều đặn Mặc dù đa số đã qua thời kỳ phát dục, những biến đổi trong giai đoạn này để lại dấu ấn quan trọng cho tuổi thanh niên, đồng thời độ nhạy cảm của các giác quan và khả năng hoạt động của chúng cũng được cải thiện đáng kể.

Thể lực của trẻ em phát triển mạnh mẽ, hỗ trợ cho việc thực hiện các công việc nặng nhọc và kỹ thuật Sự phát triển não bộ cùng với khả năng nhạy bén giúp trẻ dễ dàng tiếp thu kiến thức văn hóa, khoa học kỹ thuật và thông tin mới từ xã hội.

2.2 Điều kiện xã hội của sự phát triển;

Với sự phát triển của xã hội, hoạt động của sinh viên ngày càng đa dạng và phức tạp, phản ánh vai trò và hứng thú xã hội của họ không chỉ tăng về số lượng mà còn thay đổi về chất lượng Các sinh viên ngày càng thể hiện nhiều vai trò của người lớn, thực hiện các nhiệm vụ với tính độc lập và tinh thần trách nhiệm cao hơn Nhiệm vụ chính của lứa tuổi này là lựa chọn nghề nghiệp và học tập hiệu quả để phục vụ cho bản thân.

Trong gia đình, các em bắt đầu có quyền lợi và trách nhiệm của người lớn, tham gia vào các cuộc trao đổi về vấn đề gia đình và quan tâm đến sinh hoạt chung Tại tổ chức đoàn thanh niên, các em tham gia công tác tập thể và xã hội một cách độc lập, có trách nhiệm hơn, đồng thời có quyền bầu cử và nghĩa vụ quân sự, lao động Tất cả đều suy nghĩ về việc chọn nghề và quyết định đường đời của mình.

Ở lứa tuổi này, xã hội đã bắt đầu công nhận vai trò của các em, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tâm lý và nhân cách của bản thân.

2.3 Đặc điểm về tâm lý, nhân cách của sinh viên

2.3.1 Đặc điểm nhận thức: Đặc trưng hoạt động nhận thức của sinh viên là nhận thức, lĩnh hội nội dung kiến thức văn hóa và kiến thức chuyên môn theo nghề được đào tạo, kết hợp với việc rèn luyện tay nghề, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, thói quen và tác phong nghề nghiệp Ở lứa tuổi này, các em đã có sự phong phú về tri thức và kinh nghiệm, óc quan sát, một phẩm chất tâm lý cá nhân đã phát triển mạnh mẽ và có chất lượng cao Vì vậy, ngoài việc giúp các em tiếp thu các kiến thức của chương trình, người thầy cần phải nâng cao tính năng động, độc lập, và rèn luyện óc sáng tạo, khả năng tư duy cho học sinh (nhất là tư duy kỹ thuật và tư duy hình ảnh)

Nhận thức cảm tính ở trẻ em hiện nay có sự phát triển vượt bậc so với trước đây, với khả năng cảm giác và tri giác trở nên tinh tế và nhạy bén hơn Ngưỡng tuyệt đối và ngưỡng sai biệt trong các giác quan như nghe, nhìn và vận động được cải thiện rõ rệt, giúp trẻ phân biệt màu sắc, âm thanh, cũng như nhận thức không gian và thời gian một cách chính xác hơn Đặc biệt, óc quan sát trở thành một phẩm chất nổi bật, phát triển mạnh mẽ và có chất lượng cao ở lứa tuổi này.

Trí nhớ của sinh viên ở lứa tuổi thanh niên phát triển mạnh mẽ, giúp các em ghi nhớ hiệu quả hơn Các em biết cách xác định ý chính, lập dàn bài và sử dụng bảng đối chiếu để nhớ nhanh, nhiều và chính xác.

Ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ thầm, phát triển mạnh mẽ ở lứa tuổi này nhờ vào kinh nghiệm giao tiếp tại trường học và trong xã hội Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và chính xác của trí nhớ và tư duy của trẻ.

Khả năng tư duy ở lứa tuổi sinh viên phát triển mạnh mẽ và bền vững, với tư duy độc lập và tích cực, đặc biệt là tư duy trừu tượng Sự biến đổi lớn về số lượng và chất lượng nhận thức của các em xuất phát từ yêu cầu nghề nghiệp và hứng thú đa dạng, làm cho cấu trúc hoạt động trí tuệ trở nên phức tạp và cá biệt hơn Khả năng suy nghĩ độc lập không chỉ phát triển mà còn tạo tiền đề cho việc tự học Tư duy lý luận dựa trên định đề và khái niệm được củng cố nhờ vào lập luận chặt chẽ và nhất quán của sinh viên.

Nghiên cứu cho thấy, ở độ tuổi này, khả năng tư duy của học sinh đã phát triển mạnh mẽ, giúp các em phân tích và hiểu sâu về các vấn đề Tuy nhiên, yêu cầu của từng nghề vẫn đòi hỏi học sinh rèn luyện những phẩm chất và kỹ năng tư duy cần thiết Ví dụ, các nghề kỹ thuật đòi hỏi óc thẩm mỹ, tư duy kỹ thuật, sự chính xác và tỉ mỉ, trong khi các nghề điều khiển và sửa chữa cần khả năng phán đoán sắc bén.

Năng lực tưởng tượng của trẻ em phát triển mạnh mẽ và phong phú, không chỉ dừng lại ở việc tiếp thu tri thức và kinh nghiệm xã hội mà còn khám phá, tìm tòi và sáng tạo ra những điều mới lạ Đặc biệt, khả năng tưởng tượng và sáng tạo phát triển mạnh mẽ trong độ tuổi này.

Khả năng chú ý: Do sự phát triển của ý thức nên ở lứa tuổi này các em có khả năng tập trung chú ý cao, đặc biệt là chú ý có chủ định

2.3.2 Đời sống tình cảm: Do phạm vi hoạt động và giao tiếp mở rộng, do hoạt động nhận thức của các em đã phát triển ở mức độ cao và do sự tự ý thức của các em ở lứa tuổi này đã phát triển, vì vậy xúc cảm và tình cảm ở lứa tuổi này phát triển phong phú cả về nội dung và chất lượng Cũng chính vì lẽ đó mà xuất hiện nhận định rằng: Tuổi thanh niên là tuổi có nhiều cảm xúc, tình cảm của các em nở rộ trên nhiều mặt, sung túc của các loại tình yêu: yêu đời, yêu cuộc sống, yêu bạn bè, tình yêu nam nữ… Đây là lứa tuổi đẹp nhất trong cuộc đời

THỰC TRẠNG RỐI NHIỄU TÂM LÝ CỦA SINH VIÊN LỨA TUỔI TỪ17 – 18 ĐẾN 24 – 25 TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC

BIỆN PHÁP NGĂN NGỪA RỐI NHIỄU TÂM LÝ

Ngày đăng: 27/05/2021, 23:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1a: Trầm nhược đơn cực lâm sàng - Biểu hiện rối nhiễu tâm lý ở lứa tuổi sinh viên
Bảng 1a Trầm nhược đơn cực lâm sàng (Trang 38)
Bảng 6: Lý do chọn nghề - Biểu hiện rối nhiễu tâm lý ở lứa tuổi sinh viên
Bảng 6 Lý do chọn nghề (Trang 79)
Bảng 9: Môi trường sống hiện nay đối với việc học tập và sinh hoạt - Biểu hiện rối nhiễu tâm lý ở lứa tuổi sinh viên
Bảng 9 Môi trường sống hiện nay đối với việc học tập và sinh hoạt (Trang 80)
Bảng 10: Đánh giá mức độ khó khăn của  học tập ở cao đẳng, đại học - Biểu hiện rối nhiễu tâm lý ở lứa tuổi sinh viên
Bảng 10 Đánh giá mức độ khó khăn của học tập ở cao đẳng, đại học (Trang 81)
Bảng 12 cho thấy có đến 41,6% SV “còn hoang mang chưa biết cách tự học sao  cho đạt kết quả” và cho thấy có sự khác biệt giữa SV CĐ (36,9%) và SV ĐH (54,9%); - Biểu hiện rối nhiễu tâm lý ở lứa tuổi sinh viên
Bảng 12 cho thấy có đến 41,6% SV “còn hoang mang chưa biết cách tự học sao cho đạt kết quả” và cho thấy có sự khác biệt giữa SV CĐ (36,9%) và SV ĐH (54,9%); (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w