ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang phân tích
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân bị mày đay mạn tính đến khám và điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM cơ sở 1.
Tất cả bệnh nhân bị mày đay mạn tính đến khám và điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM cơ sở 1 từ tháng 01/2020 đến tháng 06/2020.
Sinh viên, học viên, nhân viên y tế và người dân hiện không mắc mày đay, không theo chế độ ăn chay hay kiêng cữ, nhưng đến khám tại khoa Khám bệnh, khoa Da liễu – Thẩm mỹ da Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM và được chẩn đoán các bệnh lý khác không liên quan đến mày đay.
Tiêu chuẩn chọn mẫu
- Bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Dược
TP HCM cơ sở 1 được chẩn đoán mày đay mạn tính dựa vào lâm sàng.
- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu
- Những người hiện tại khỏe mạnh không hiện mắc mày đay, không có chế độ ăn chay, ăn kiêng.
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
- Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú
- Người có uống hoặc tiêm bổ sung vitamin B12 trong 1 tháng gần đây
Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Cỡ mẫu: Để tính cỡ mẫu cho so sánh giá trị trung bình của hai nhóm ta dùng công thức sau của tác giả Bernard Rosner (2016):
α : xác suất sai lầm loại 1 Chọn α = 0.05
β : xác suất sai lầm loại 2 Chọn β = 0.05
σ1 và σ2: độ lệch chuẩn của hai nhóm, dựa vào nghiên cứu trước đây của tác giả N Mete và cộng sự, giá trị của σ1 và σ2 lần lượt là 94.1 và
Δ là hiệu số giữa trung bình hai nhóm, với giá trị trung bình của nhóm đầu tiên là 207.7 pmol/L và nhóm thứ hai là 343.1 pmol/L, dựa trên nghiên cứu trước đây của tác giả N Mete và cộng sự.
Tỉ số cỡ mẫu k được xác định là n2/n1 Để tập trung khảo sát các đặc điểm dịch tễ và lâm sàng trong nhóm bệnh (n1), chúng tôi đã chọn k = 0.2, nhằm đảm bảo số mẫu ở nhóm bệnh chiếm ưu thế.
Từ công thức trên ta tính được nhóm 1 (nhóm bệnh) cần có 45 mẫu và nhóm 2 (nhóm chứng) cần có 09 mẫu, tổng số 54 mẫu.
2.4.3 Công cụ thu thập số liệu:
- Bản thông tin dành cho đối tượng nghiên cứu và chấp thuận tham gia nghiên cứu – nhóm bệnh (Phụ lục 1)
- Bản thông tin dành cho đối tượng nghiên cứu và chấp thuận tham gia nghiên cứu – nhóm chứng (Phụ lục 2)
- Phiếu thu thập số liệu nghiên cứu (Phụ lục 3)
2.4.4 Phương pháp thu thập số liệu:
Khi bệnh nhân đến Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM và được chẩn đoán mắc mày đay mạn tính, chúng tôi sẽ cung cấp thông tin chi tiết về nghiên cứu liên quan Những bệnh nhân đồng ý tham gia sẽ ký vào phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu.
Bệnh nhân sẽ được phỏng vấn chi tiết về bệnh sử và trải qua quá trình thăm khám lâm sàng kỹ lưỡng Những bệnh nhân đáp ứng đủ tiêu chuẩn sẽ được thu thập dữ liệu và ghi chép đầy đủ vào phiếu thu thập số liệu nghiên cứu.
Bệnh nhân sẽ được hướng dẫn đến khoa Xét nghiệm của Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM cơ sở 1 để lấy khoảng 2ml máu tĩnh mạch Mục đích là để định lượng nồng độ vitamin B12 toàn phần và holotranscobalamin Kết quả xét nghiệm sẽ được ghi nhận vào phiếu thu thập số liệu nghiên cứu.
- Sau khi thu thập đủ nhóm bệnh, nghiên cứu viên sẽ tính toán tỉ lệ giới tính và độ tuổi trung bình để lựa chọn nhóm chứng phù hợp.
Những đối tượng được lựa chọn từ mẫu dân số của nhóm chứng sẽ trải qua quá trình thăm khám và hỏi bệnh để xác nhận các tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ.
Nghiên cứu viên sẽ giải thích chi tiết về mục tiêu, lợi ích và nguy cơ của nghiên cứu cho các đối tượng tham gia Sau khi nhận được sự đồng thuận, các đối tượng sẽ ký vào giấy đồng thuận tham gia nghiên cứu.
Nghiên cứu viên thu thập dữ liệu và ghi nhận vào phiếu nghiên cứu, sau đó hướng dẫn đến khoa xét nghiệm Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM để lấy khoảng 2ml máu tĩnh mạch Mục đích là để định lượng nồng độ vitamin B12 toàn phần và holotranscobalamin, kết quả sẽ được ghi vào phiếu thu thập dữ liệu nghiên cứu.
- Số liệu được nhập, mã hóa bằng phần mềm Excel 2013
- Số liệu sẽ được xử lý bằng phần mềm STATA 13.0
- Các biến số định tính được trình bày dưới dạng tần số và tỉ lệ phần trăm
Các biến số định lượng được báo cáo dưới dạng giá trị trung bình và độ lệch chuẩn khi tuân theo phân phối chuẩn, trong khi đó, nếu không phải là phân phối chuẩn, chúng sẽ được trình bày dưới dạng trung vị, khoảng tứ phân vị, giá trị nhỏ nhất và giá trị lớn nhất.
- Dùng phép kiểm Chi bình phương để kiểm định mối liên quan giữa 2 hay nhiều biến định tính.
Để so sánh hai giá trị trung bình, sử dụng phép kiểm Student t-test khi dữ liệu phân phối chuẩn và phép kiểm Mann-Whitney U khi dữ liệu không phân phối chuẩn Đối với việc so sánh từ ba giá trị trung bình trở lên, áp dụng phép kiểm ANOVA.
- Phép kiểm tương quan Spearman để tìm mối tương quan.
- Sự khác biệt được xem là có ý nghĩa thống kê khi p < 0.05 với độ tin cậy 95%.
- Trình bày báo cáo bằng phần mềm Microsoft Word 2016.
Nguyên lý xét nghiệm
- Xét nghiệm miễn dịch điện hóa phát quang “ECLIA”
- Nguyên lý cạnh tranh Tổng thời gian xét nghiệm: 27 phút.
• Thời kỡ ủ đầu tiờn: Bằng cỏch ủ mẫu (15 àL) với thuốc thử tiền xử lý 1 và tiền xử lý 2 vitamin B12, vitamin B12 gắn kết được giải phóng.
Thời kỳ ủ thứ hai diễn ra khi mẫu đã qua tiền xử lý được ủ với yếu tố nội tại đánh dấu ruthenium, dẫn đến sự hình thành phức hợp protein gắn kết vitamin B12 Lượng phức hợp này được tạo ra tỷ lệ thuận với nồng độ chất phân tích có trong mẫu.
Trong thời kỳ ủ thứ ba, sau khi bổ sung vi hạt phủ streptavidin và vitamin B12 đánh dấu biotin, các vị trí chưa gắn kết trên yếu tố nội tại đánh dấu ruthenium được chiếm giữ, tạo thành phức hợp giữa yếu tố nội tại, ruthenium và vitamin B12 Toàn bộ phức hợp này sau đó gắn kết với pha rắn nhờ vào sự tương tác giữa biotin và streptavidin.
Hỗn hợp phản ứng được chuyển đến buồng đo, nơi các vi hạt đối từ được giữ lại trên bề mặt điện cực Các thành phần không gắn kết sẽ được loại bỏ khỏi buồng đo nhờ dung dịch ProCell/ProCell M Khi điện áp được cung cấp cho điện cực, hiện tượng phát quang hóa học sẽ xảy ra và được đo bằng bộ khuếch đại quang tử.
Kết quả được xác định dựa trên đường chuẩn xét nghiệm máy, được tạo ra từ hai điểm chuẩn và thông tin đường chuẩn chính được mã hóa qua mã vạch trên hộp thuốc thử.
Biến số trong nghiên cứu
STT Tên biến số Loại biến số
Giá trị của biến Định nghĩa biến
1 Bệnh mày đay mạn tính
Dựa trên chẩn đoán lâm sàng, bệnh nhân có triệu chứng sẩn phù và/hoặc phù mạch, với tình trạng này tự biến mất trong vòng 24 giờ mà không có yếu tố kích thích Bệnh thường kéo dài ít nhất 6 tuần.
2 Mày đay có yếu tố kích phát
Dựa vào chẩn đoán lâm sàng và bệnh sử, bệnh nhân mày đay có những lần bùng phát liên quan đến các yếu tố kích thích như nhiệt độ nóng, lạnh, ánh sáng, tiếp xúc và rung.
3 Nồng độ vitamin B12 toàn phần trong huyết thanh Định lượng Đơn vị: pmol/L
Ghi nhận qua kết quả cận lâm sàng
4 Nồng độ Holotranscobalamin trong huyết thanh Định lượng Đơn vị: pmol/L
Ghi nhận qua kết quả cận lâm sàng
Ghi nhận theo chứng minh thư
6 Tuổi Định lượng Đơn vị: năm Tuổi = năm khảo sát – năm sinh bệnh nhân, lấy phần nguyên.
7 Nơi ở Nhị giá Thành thị
Theo nơi ở trong 3 năm gần đây
Thành thị: thành phố, thị xã, thị trấn. Nông thôn: các đơn vị hành chính khác.
8 Nghề nghiệp Danh định Nhân viên văn phòng Nội trợ Buôn bán Công nhân Nông dân Khác
Theo nghề nghiệp hiện tại
9 Dân tộc Danh định Kinh
Ghi nhận theo chứng minh thư
10 Trình độ học vấn Thứ tự Không đi học
Ghi nhận trình độ học vấn cao
Cấp 2 Cấp 3 Cao đẳng, Đại học và Sau đại học nhất đã đạt được
11 Tuổi khởi phát bệnh Danh định Tuổi Tuổi từ lúc bắt đầu có triệu chứng bệnh lần đầu tiên
12 Thời gian đợt bệnh hiện tại Định lượng
Năm Từ lúc khởi phát đợt bệnh này đến lúc khảo sát
13 Chỉ số khối cơ thể (BMI) Định lượng Đơn vị: kg/m2
Tính toán theo chiều cao, cân nặng
Trong 6 tháng qua, trung bình mỗi tháng có 14 ngày người dân thực hiện chế độ ăn chay, tập trung vào các thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật.
Trong vòng 6 tháng qua, số ngày tiêu thụ thực phẩm giàu vitamin B12 như tạng động vật, hải sản và trứng trung bình là 15 ngày mỗi tháng.
16 Chỉ số UAS4 Định lượng Đơn vị: điểm Đánh giá theo bảng UAS trong 4 ngày gần lúc khảo sát nhất.
17 Tiền sử gia đình Nhị giá Có
Có người trong gia đình mắc mày đay mạn tính hay không
18 Tiền sử bản thân Nhị giá Có
Bản thân có mắc các bệnh khác kèm theo hay không
19 Sang thương da niêm Danh định Không có sang thương Sẩn phù đơn độc
Sẩn phù kèm phù mạch Phù mạch đơn độc
Dựa trên đánh giá lâm sàng tại thời điểm bệnh nhân đến khám.
20 Mức độ sang thương sẩn phù tại ngày đến khám
Thứ tự Không có sẩn phù Nhẹ (50 sẩn phù hoặc mảng lớn) trên bệnh nhân tại thời điểm đến khám.
21 Mức độ cảm giác ngứa tại ngày đến khám
Nhẹ (không gây trở ngại) Trung bình (có gây khó chịu nhưng không ảnh hưởng giấc ngủ)
Nặng (ảnh hưởng đến hoạt động hằng ngày hoặc giấc ngủ)
Dựa trên đánh giá lâm sàng hỏi bệnh nhân về mức độ ngứa tại thời điểm đến khám.
Đạo đức trong nghiên cứu
- Các đối tượng tham gia nghiên cứu được giải thích rõ ràng trước khi quyết định ký giấy đồng thuận tham gia nghiên cứu.
- Các đối tượng tham gia nghiên cứu được quyền yêu cầu dừng tham gia nghiên cứu bất cứ lúc nào.
- Nghiên cứu không làm ảnh hưởng đến chẩn đoán, quá trình điều trị bệnh của bệnh nhân.
- Người tham gia nghiên cứu được xét nghiệm nồng độ vitamin B12 toàn phần và nồng độ Holotranscobalamin miễn phí để xác định tình trạng vitamin B12 trong cơ thể.
- Các thông tin của đối tượng tham gia nghiên cứu được bảo mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu khoa học.
Đề tài nghiên cứu đã nhận được sự chấp thuận từ Hội đồng đạo đức trong Nghiên cứu y sinh học của Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, theo văn bản số 587/ĐHYD-HĐĐĐ.
Sơ đồ nghiên cứu
Bệnh nhân đến khám tại BV ĐHYD TP.HCM được chẩn đoán mày đay mạn tính Được giải thích rõ và ký giấy đồng thuận tham gia nghiên cứu
Thỏa các tiêu chuẩn chọn vào và không có tiêu chuẩn loại trừ
Hỏi bệnh, khám và ghi nhận vào phiếu thu thập số liệu
Lấy 2ml máu tĩnh mạch để định lượng vitamin B12 toàn phần và Holotranscobalamin
Người không mắc mày đay mạn tính tham gia nhóm chứng
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm dịch tễ và đặc điểm lâm sàng của mẫu nghiên cứu
Bảng 3.1 Phân bố nhóm bệnh (NE) và nhóm chứng (N) theo giới tính
Giới tính Nhóm bệnh Nhóm chứng p
Trong nghiên cứu về bệnh nhân mày đay mạn tính, nhóm bệnh nhân gồm 12 nam (26.67%) và 33 nữ (73.33%), trong khi nhóm chứng có 3 nam (27.27%) và 8 nữ (72.73%) Tỉ lệ giới tính trong nhóm bệnh cho thấy nữ chiếm ưu thế hơn với tỉ lệ khoảng 2.75:1 so với nam, trong khi nhóm chứng có tỉ lệ nữ:nam gần 2.67:1 Kết quả phân tích cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về phân bố giới tính giữa nhóm bệnh và nhóm chứng (Fisher’s exact, p = 0.62).
Bảng 3.2 Phân bố nhóm bệnh (NE) và nhóm chứng (N) theo tuổi Đặc điểm tuổi Nhóm bệnh Nhóm chứng p
Tuổi trung vị (khoảng tứ phân vị)
Nhóm bệnh nhân mày đay mạn tính có độ tuổi trung vị là 39 tuổi, với 13.33% dưới 30 tuổi, 11.11% từ 50 tuổi trở lên và 75.56% trong độ tuổi 30-49 Trong khi đó, nhóm chứng có độ tuổi trung vị là 37 tuổi, với 9.09% dưới 30 tuổi, 9.09% từ 50 tuổi trở lên và 81.82% trong độ tuổi 30-49 Sự khác biệt về tuổi giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê (Wilcoxon Ranksum, p = 0.98), và cũng không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nhóm tuổi giữa nhóm bệnh và nhóm chứng (Fisher’s exact, p=0.90).
Biểu đồ 3.1 Phân bố của nhóm bệnh theo nơi sinh sống (NE)
Trong nhóm bệnh có 28 người (62.22%) sinh sống ở các khu vực thành thị và 17 người (37.78%) sinh sống ở các khu vực nông thôn.
Bảng 3.3 Phân bố nhóm bệnh (NE) và nhóm chứng (N) theo nghề nghiệp
Nghề nghiệp Nhóm bệnh Nhóm chứng p
Trong nghiên cứu về bệnh mày đay mạn tính, phân phối nghề nghiệp của nhóm bệnh cho thấy có 12 nhân viên văn phòng (26.67%), 10 nội trợ (22.22%), 9 người buôn bán (20%), 4 công nhân (8.89%), 3 nông dân (6.67%) và 7 người thuộc nghề nghiệp khác (15.55%) Trong khi đó, nhóm chứng gồm 5 nhân viên văn phòng (45.45%), 5 nội trợ (45.45%), 1 người buôn bán (9.10%), và không có ai là công nhân, nông dân hay thuộc nghề nghiệp khác Kết quả phân tích cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về phân bố nghề nghiệp giữa nhóm bệnh và nhóm chứng (Fisher’s exact, p = 0.35).
Bảng 3.4 Phân bố nhóm bệnh (NE) và nhóm chứng (N) theo trình độ học vấn
Trình độ học vấn Nhóm bệnh Nhóm chứng p
Cao đẳng, Đại học hoặc Sau đại học
Trong nhóm bệnh nhân mày đay mạn tính có 2 người (4.45%) học đến cấp 1, 6 người (13.33%) học đến cấp 2, 19 người (42.22%) học đến cấp 3 và
18 người (45%) học đến Cao đẳng, Đại học hoặc Sau đại học Trong nhóm chứng có 1 người (9.09%) học đến cấp 2, 4 người (36.36%) học đến cấp 3 và
Trong nghiên cứu, 54.55% người tham gia đã đạt trình độ học vấn từ Cao đẳng, Đại học đến Sau đại học Kết quả phân tích cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về trình độ học vấn giữa nhóm bệnh và nhóm chứng (Fisher’s exact, p = 0.93).
3.1.6 Chỉ số khối cơ thể (BMI):
Bảng 3.5 Phân bố nhóm bệnh (NE) và nhóm chứng (N) theo chỉ số khối cơ thể (BMI) Chỉ số khối cơ thể
Trong nghiên cứu về bệnh nhân mày đay, có 4.45% bệnh nhân có chỉ số khối cơ thể (BMI) dưới 18.5, 62.22% trong khoảng 18.5-22.9, 22.22% từ 23-24.9, và 11.11% từ 25 trở lên Trong nhóm chứng, 45.45% có BMI trong khoảng 18.5-22.9, 36.37% từ 23-24.9, và 18.18% từ 25 trở lên Kết quả phân tích cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về BMI giữa nhóm bệnh và nhóm chứng (Fisher’s exact, p = 0.60).
Bảng 3.6 Phân bố nhóm bệnh theo tuổi khởi phát (NE)
Tuổi khởi phát Tần số Tỷ lệ (%)
Tuổi trung vị (khoảng tứ phân vị)
Nhóm bệnh nhân mắc bệnh mày đay có tuổi khởi phát trung vị là 36 tuổi, với khoảng tứ phân vị từ 30 đến 41 tuổi Trong số đó, 22.22% bệnh nhân khởi phát bệnh lần đầu trước 30 tuổi, trong khi 77.78% còn lại khởi phát bệnh sau độ tuổi 30.
3.1.8 Thời gian bệnh lần này:
Bảng 3.7 Phân bố nhóm bệnh theo thời gian bệnh lần này (NE)
Thời gian bệnh lần này Tần số Tỷ lệ (%)
Thời gian trung vị (khoảng tứ phân vị)
Nhóm bệnh nhân mày đay mạn tính có thời gian bệnh trung vị là 3 tháng, với khoảng tứ phân vị từ 2 đến 6 tháng Trong số đó, 68.89% bệnh nhân, tương đương 31 người, có thời gian mắc bệnh dưới 6 tháng, trong khi 31.11%, tức 14 bệnh nhân, mắc bệnh từ 6 tháng trở lên.
Bảng 3.8 Phân bố nhóm bệnh theo tiền sử bản thân (NE)
Tiền sử bản thân Tần số Tỷ lệ (%)
Trong số bệnh nhân mày đay mạn tính, có 22 trường hợp (chiếm 48,89%) có tiền sử mắc các bệnh lý nội, ngoại khoa khác, trong khi 23 trường hợp (chiếm 51,11%) không có tiền sử bệnh lý.
Bảng 3.9 Phân bố nhóm bệnh theo tiền sử gia đình (NE)
Tiền sử gia đình Tần số Tỷ lệ (%)
Trong nhóm bệnh nhân mày đay mạn tính, chỉ có 12 trường hợp (26,67%) có người trong gia đình mắc bệnh, trong khi đó, 33 trường hợp (73,33%) hoàn toàn không có ai trong gia đình bị mày đay.
3.1.11 Số ngày bệnh nhân ăn chay trong tháng:
Bảng 3.10 Phân bố nhóm bệnh theo số ngày ăn chay trong tháng (NE)
Số ngày ăn chay trong tháng
Trong nhóm bệnh nhân mày đay mạn tính hầu hết các bệnh nhân (62.22%) không có chế độ ăn chay (ăn các thực phẩm toàn bộ từ thực vật) Có
11 bệnh nhân ăn chay từ 1-3 ngày trong tháng chiếm 24.44% và 6 bệnh nhân ăn chay từ 4 ngày trở lên trong tháng chiếm 13.34%.
3.1.12 Số ngày bệnh nhân ăn thực phẩm giàu vitamin B12 trong tháng:
Bảng 3.11 Phân bố nhóm bệnh (NE) và nhóm chứng (N) theo số ngày ăn thực phẩm giàu vitamin B12 trong tháng
Số ngày ăn thực phẩm giàu vitamin
Trong nghiên cứu, 73.33% bệnh nhân có chế độ ăn giàu vitamin B12 ít nhất 4 ngày mỗi tháng, trong khi 20% chỉ tiêu thụ thực phẩm này từ 1 đến 3 ngày trong tháng.
Trong nghiên cứu, 3 bệnh nhân (6.67%) không tiêu thụ thực phẩm giàu vitamin B12, trong khi tất cả bệnh nhân trong nhóm chứng đều duy trì chế độ ăn này ít nhất 4 ngày mỗi tháng Kết quả phân tích cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về chế độ ăn thực phẩm giàu vitamin B12 giữa nhóm bệnh và nhóm chứng (Fisher's exact, p = 0.26).
3.1.13 Yếu tố kích phát bệnh mày đay:
Bảng 3.12 Phân bố nhóm bệnh theo yếu tố kích phát (NE)
Yếu tố kích phát mày đay
Tất cả bệnh nhân trong nhóm mày đay mạn tính đều không tìm thấy yếu tố kích phát và được phân vào nhóm mày đay mạn tính tự phát.
3.1.14 Điểm hoạt độ mày đay UAS4:
Bảng 3.13 Phân bố nhóm bệnh theo điểm hoạt độ mày đay UAS4 (NE) Điểm UAS4 Tần số Tỷ lệ (%)
Tổng 45 100 Điểm trung vị (khoảng tứ phân vị)
Nhận xét: Điểm hoạt độ mày đay (UAS4) trung vị là 11 điểm, khoảng tứ phân vị 9 – 14 điểm Trong tổng số bệnh nhân mày đay mạn tính đến khám có
Trong nghiên cứu, có 39 bệnh nhân (86,67%) cho thấy điểm hoạt độ mày đay ở mức nhẹ và trung bình trong 4 ngày liên tiếp, trong khi chỉ 6 bệnh nhân (13,33%) có điểm hoạt độ mày đay ở mức độ nặng trong cùng khoảng thời gian.
3.1.15 Sang thương da niêm tại ngày đến khám:
Bảng 3.14 Phân bố nhóm bệnh theo sang thương da niêm tại ngày đến khám (NE)
Sang thương da niêm Tần số Tỷ lệ (%)
Sẩn phù kèm phù mạch 13 28.89
Trong nhóm bệnh nhân mày đay mạn tính tại ngày đến khám có
Trong một nghiên cứu, có 3 bệnh nhân (6.67%) không có sang thương nào, 29 bệnh nhân (64.44%) chỉ xuất hiện sẩn phù, và 13 bệnh nhân (28.89%) có sẩn phù kèm theo phù mạch Đặc biệt, không có trường hợp nào chỉ ghi nhận phù mạch.
3.1.16 Mức độ sang thương sẩn phù tại ngày đến khám:
Bảng 3.15 Phân bố mức độ sẩn phù tại ngày đến khám (NE)
Sang thương sẩn phù Tần số Tỷ lệ (%)
Nặng (>50 sẩn phù hoặc mảng lớn) 12 26.66
Trong số 45 bệnh nhân đến khám, có 33 bệnh nhân (73.34%) có sang thương sẩn phù ở mức độ trung bình trở xuống, bao gồm 3 bệnh nhân (6.67%) không có sang thương nào Chỉ có 12 bệnh nhân (26.66%) được chẩn đoán có sang thương sẩn phù ở mức độ nặng.
3.1.17 Mức độ cảm giác ngứa tại ngày đến khám:
Bảng 3.16 Phân bố mức độ cảm giác ngứa tại ngày đến khám (NE)
Cảm giác ngứa Tần số Tỷ lệ (%)
Nhẹ (không gây trở ngại) 20 44.44
Trung bình (có gây khó chịu nhưng không ảnh hưởng giấc ngủ)
Nặng (ảnh hưởng đến hoạt động hằng ngày hoặc giấc ngủ)
Trong một cuộc khảo sát về cảm giác ngứa của bệnh nhân, có 39 người (86.67%) cho biết mức độ ngứa từ trung bình trở xuống Trong số đó, 3 bệnh nhân (6.67%) không cảm thấy ngứa, trong khi chỉ có 6 bệnh nhân (13.33%) trải qua cảm giác ngứa ở mức độ nặng.
3.1.18 Mối liên quan giữa số ngày bệnh nhân ăn chay trong tháng và điểm UAS4:
Bảng 3.17 Liên quan giữa số ngày bệnh nhân ăn chay trong tháng và điểm UAS4 (NE)
Số ngày ăn chay trong tháng
Trung vị (tứ phân vị) r p
Nồng độ vitamin B12 toàn phần, vitamin B12 dạng hoạt động (holoTC) trong huyết thanh bệnh nhân mày đay mạn tính và nhóm chứng
3.2.1 Nồng độ vitamin B12 toàn phần trong huyết thanh ở nhóm bệnh và nhóm chứng:
Bảng 3.19 Nồng độ vitamin B12 toàn phần trong huyết thanh ở nhóm bệnh (NE) và nhóm chứng (N) Vitamin B12 toàn phần (pmol/L)
Trung vị (tứ phân vị)
Giá trị trung vị nồng độ vitamin B12 toàn phần ở nhóm bệnh nhân mày đay mạn tính là 478.4 pmol/L (khoảng tứ phân vị 404 - 579.7 pmol/L), trong khi ở nhóm chứng là 719.7 pmol/L (khoảng tứ phân vị 615.9 - 815.4 pmol/L) Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nồng độ vitamin B12 giữa hai nhóm, với nồng độ vitamin B12 toàn phần ở nhóm bệnh nhân thấp hơn đáng kể so với nhóm chứng (p