1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Giải pháp hạn chế rủi ro trong cho vay tại BIDV chi nhánh bắc hà nội

80 431 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 0,94 MB

Nội dung

Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về hạn chế rủi ro trong cho vay của Ngân hàng thương mại. Phân tích thực trạng rủi ro trong cho vay của Ngân hàng TMCP ĐTPT Việt Nam chi nhánh Bắc Hà Nội, đánh giá thực trạng rủi ro trong cho vay tại đây để rút ra những kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại. Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong cho vay tại Ngân hàng TMCP ĐTPT Việt Nam Chi nhánh Bắc Hà Nội.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngân hàng là một ngành kinh tế đặc biệt, nhạy cảm với những biến động củathị trường, nên trong điều kiện như hiện nay hoạt động kinh doanh của ngân hàngrất dễ gặp phải rủi ro Ngày nay, nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh,cải tiến công nghệ, tiêu dùng cá nhân và các nhu cầu phục vụ đời sống luôn tănglên Để đáp ứng nhu cầu này, các NHTM cũng phải luôn mở rộng quy mô cho vay,điều đó có nghĩa là rủi ro cho vay cũng phát sinh nhiều hơn Rủi ro trong cho vay làloại rủi ro phức tạp nhất, việc quản lý và phòng ngừa rất khó khăn, nó có thể xảy ra

ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào

Chi nhánh Ngân hàng TMCP ĐT&PT Bắc Hà Nội là một trong những chinhánh hàng đầu của hệ thống Ngân hàng TMCP ĐT&PT Việt Nam (BIDV), vấn đềtăng trưởng bền vững luôn được chi nhánh quan tâm Hoạt động cho vay chiếm trênmột nửa thu nhập của Chi nhánh và có tác động lớn tới nguồn thu của các hoạt độngkhác như: hoạt động thanh toán, tài trợ thương mại Với tầm quan trọng như vậy,việc nghiên cứu, đo lường và đưa ra các giải pháp hạn chế rủi ro trong cho vay đốivới Chi nhánh Ngân hàng TMCP ĐT&PT Bắc Hà Nội là rất cần thiết Thực tế hoạtđộng tại Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Bắc Hà Nội trong nhữngnăm gần đây, rủi ro trong cho vay đã và đang là vấn đề được ban lãnh đạo và mỗicán bộ tín dụng ngân hàng xem xét và từng bước hạn chế Tuy nhiên, do nhiềunguyên nhân khác nhau, rủi ro trong cho vay vẫn xảy ra, ảnh hưởng không nhỏ đếnhoạt động kinh doanh của ngân hàng Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt hiệnnay cùng với tình hình kinh tế trong nước và trên thế giới đầy biến động, hành langpháp lý còn chưa đầy đủ, việc đưa ra các giải pháp để hạn chế rủi ro trong cho vay

là một yêu cầu hết sức cần thiết Do vậy với mong muốn đóng góp công sức trongviệc hạn chế rủi ro trong cho vay tại BIDV chi nhánh Bắc Hà Nội, em đã chọn đề

tài: “Giải pháp hạn chế rủi ro trong cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội ” để nghiên cứu

Trang 2

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về hạn chế rủi ro trong cho vay của Ngânhàng thương mại

- Phân tích thực trạng rủi ro trong cho vay của Ngân hàng TMCP ĐT&PT ViệtNam chi nhánh Bắc Hà Nội, đánh giá thực trạng rủi ro trong cho vay tại đây để rút

ra những kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong cho vay tại Ngân hàngTMCP ĐT&PT Việt Nam Chi nhánh Bắc Hà Nội

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu về rủi ro trong cho vay tại BIDV Chi nhánhBắc Hà Nội

Phạm vi nghiên cứu:

+ Về thời gian: tập trung trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014

+ Về không gian: nghiên cứu rủi ro trong cho vay ở cấp chi nhánh

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp thống kê,kết hợp với phương pháp phân tích tổng hợp, tư duy logic… để luận giải các vấn đề

đề cập trong nội dung bài viết

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Lời cam đoan, Các danh mục, nội dung chínhcủa Luận văn được trình bày trong 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hạn chế rủi ro trong cho vay của Ngân hàng

thương mại

Chương 2: Thực trạng về cho vay và rủi ro trong cho vay tại Ngân hàng

thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội

Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro trong cho vay tại Ngân hàng thương mại

cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội

Trang 3

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG CHO VAY

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1 Khái niệm về cho vay

Cho vay là một trong những hoạt động đầu tiên và là hoạt động quan trọngnhất của các Ngân hàng Thương mại Trong tổng tài sản thì hoạt động cho vay làhoạt động chiếm tỷ trọng cao và đem lại thu nhập từ lãi lớn nhất nhưng cũng manglại rủi ro nhiều nhất cho các ngân hàng thương mại nói riêng và các tổ chức tín dụngnói chung

Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại đã được định nghĩa trong luậtcác tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày16/06/2010 như sau: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giaohoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xácđịnh trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cảgốc và lãi” Đây là một trong những hoạt động chính gắn liền với quá trình hìnhthành và phát triển của NHTM NHTM huy động vốn nhàn rỗi từ dân chúng và các

tổ chức kinh tế, tạo khoản cho vay với lãi suất cao hơn lãi suất huy động

Đối với các NHTM của Việt Nam, hoạt động cho vay luôn chiếm đến hơn70% chi phí và thu nhập, tuy nhiên, chất lượng của các khoản tín dụng vẫn còn kháthấp Do vậy, hoạt động của các NHTM Việt Nam chứa đựng khá nhiều rủi ro.Chính vì thế cần quản lý chặt chẽ hoạt động cho vay để có thể đảm bảo tính an toàn

đó Các nguyên tắc cho vay của NHTM được cụ thể hoá trong quy định của Ngânhàng Nhà nước và các NHTM, cụ thể như sau:

Thứ nhất, khách hàng vay vốn cần phải đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mụcđích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng với ngân hàng Phạm vi hoạt động của

Trang 4

các NHTM đã được Pháp luật quy định Tuy nhiên, bên cạnh đó mỗi ngân hàng đều

có mục đích và phạm vi hoạt động riêng Mục đích sử dụng vốn vay của khách hàngđược ghi trong hợp đồng tín dụng đảm bảo rằng ngân hàng sẽ không tài trợ cho cáchoạt động trái luật pháp và việc tài trợ đó là phù hợp với cương lĩnh hoạt động củangân hàng

Thứ hai, khách hàng vay vốn của ngân hàng phải đảm bảo hoàn trả nợ gốc vàlãi vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng Ngân hàng huy độngnguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức, cá nhân rồi đầu tư trở lại nền kinh tế.Nguồn gốc của các khoản tín dụng của ngân hàng là các khoản đi vay của ngânhàng Chính vì thế mà ngân hàng cần phải có trách nhiệm hoàn trả gốc và lãi đúngthời hạn như đã cam kết với khách hàng Do vậy, để ngân hàng có thể tồn tại vàphát triển thì buộc người nhận tín dụng phải thực hiện đúng cam kết này

1.1.2 Phân loại cho vay của Ngân hàng thương mại

Người ta có thể dựa vào rất nhiều tiêu thức để phân loại các hình thức và sảnphẩm cho vay Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học nhằm mục đích giúp cho cácngân hàng có thể thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả củacông tác quản trị rủi ro trong cho vay Phân loại cho vay dựa và các căn cứ sau đây:

- Mục đích sử dụng vốn vay:

Theo tiêu chí này, người ta phân chia cho vay thành 02 loại sau:

Cho vay sản xuất kinh doanh: Là loại cho vay phục vụ hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, nhằm mở rộng sản xuất hay đáp ứng một nhu cầu nào đó

về tiền của doanh nghiệp

Cho vay tiêu dùng: Là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của

người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình Đây là nguồn tài chính quan trọnggiúp người này trang trải cho nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình và xe cộ Bên cạnh

đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch cũng có thể được tài trợ bởiCho vay tiêu dùng

- Thời hạn cho vay:

Theo tiêu thức này, người ta chia cho vay thành 03 loại:

Trang 5

Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng

để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêungắn hạn của các nhân

Cho vay trung hạn: Là các món vay có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng.Cho vay trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiếnhoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự ánmới có quy mô nhỏ và thời hạn thu hồi vốn nhanh Bên cạnh đầu tư cho tài sản cốđịnh, cho vay trung hạn còn là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên củacác doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp mới thành lập

Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn vay trên 05 năm và thời hạntối đa có thể lên tới 20 – 30 năm Cho vay dài hạn được sử dụng để thực hiệncác dự án đầu tư mới, mở rộng sản xuất, đáp ứng nhu cầu xây dựng nhà ở, muasắm, đầu tư phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp, dâychuyền, nhà máy sản xuất

- Bảo đảm tiền vay của khoản vay

Theo tiêu thức phân loại này, cho vay được chia thành hai loại:

Cho vay không bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp hoặc cầm

cố hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín củabản thân khách hàng Đối với những khách hàng tốt, có uy tín cao, có khả năng tàichính vững mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uytín của khách hàng mà không cần một nguồn thu thứ hai bổ sung

Cho vay có tài sản bảo đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm nhưthế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba Đối với kháchhàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có bảo đảm

Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ sungcho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu tính chắc chắn

- Phương pháp cho vay:

Dựa vào tiêu thức này, cho vay của NHTM được chia thành các loại sau đây:Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay nhiều lần cách biệt nhau đốivới khách hàng không có nhu cầu thường xuyên và chỉ vay trong trường hợp cần

Trang 6

thiết vốn để ngân hàng tham gia vào một giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuấtkinh doanh.

Cho vay theo hạn mức tín dụng: Đây là hình thức cho vay mà theo đó ngânhàng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong mộtkhoảng thời gian nhất định

Cho vay trả góp: Là hình thức cho vay mà ngân hàng cho phép khách hàng trảgóp làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận

Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển hàng hoá, ápdụng đối với doanh nghiệp thương mại hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêuthụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng

Cho vay thấu chi: Là việc cho vay mà Ngân hàng thoả thuận bằng văn bảnchấp thuận cho khách hàng chi vượt quá số tiền có trên tài khoản thanh toán củakhách hàng đến một giới hạn nhất định (gọi là hạn mức thấu chi)

1.2 RỦI RO TRONG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.2.1 Khái niệm về rủi ro trong cho vay của Ngân hàng thương mại

Theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, rủi

ro trong cho vay được định nghĩa là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ củaNHTM do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phầnhoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết

1.2.2 Phân loại rủi ro

Rủi ro trong cho vay xảy ra khi người vay không trả được nợ lãi, nợ gốc đầy

đủ và đúng hạn Theo phương thức quản lý rủi ro tín dụng hiện nay, người ta chiarủi ro trong cho vay thành 4 cấp độ theo mức độ rủi ro:

Không thu được lãi đúng hạn: Cấp độ thấp nhất khi người vay không trả được

lãi đúng hạn, khi đó Ngân hàng sẽ chuyển số lãi đó vào khoản mục lãi treo phátsinh Hình thức rủi ro này được xếp vào mức rủi ro thấp vì ngoại trừ trường hợpkhách hàng muốn quỵt nợ, chiếm dụng vốn thì phần lớn đều xuất phát từ việc thiếucân đối trong kỳ hạn thu nợ và trả nợ của khách hàng

Trang 7

Không thu được vốn đúng hạn: Khi không thu được vốn đúng hạn thì tình hình

dường như nghiêm trọng hơn, một phần do một lượng vốn vay lớn bị mất Khi đóNgân hàng sẽ chuyển số nợ đó sang mục nợ quá hạn phát sinh Khoản mục này phátsinh vào thời gian đáo hạn của hợp đồng tín dụng Tuy nhiên đấy chưa phải làkhoản mất mát thực tế của Ngân hàng vì có thể tiến độ hoạt động kinh doanh củakhách hàng bị chậm so với kế hoạch được đề ra trình Ngân hàng

Không thu đủ lãi: Khi Ngân hàng không thu đủ lãi thì tình hình trở nên nghiêm

trọng hơn Tình hình kinh doanh của khách hàng có thể đã gặp khó khăn không hiệuquả trong việc sử dụng vốn Lúc này Ngân hàng cần có những biện pháp hỗ trợkhách hàng như giảm lãi, tư vấn cho khách hàng hoặc có thể cung cấp hàng nhữngkhoản tín dụng cần thiết cho khách hàng nếu dự án đang đầu tư là khả thi

Không thu đủ vốn vay: Tình huống xấu nhất khi Ngân hàng không thu đủ vốn

cho vay và lúc này Ngân hàng đã bị mất vốn Tại thời điểm này, Ngân hàng sẽchuyển khoản nợ vào mục nợ không có khả năng thu hồi hoặc phải xóa nợ coi nhưkhép một hợp đồng tín dụng không hiệu quả

1.2.3 Nguyên nhân rủi ro

Nguyên nhân của rủi ro trong cho vay có thể hệ thống hoá, tập trung trong 3nhóm nguyên nhân chủ yếu như sau: nhóm nguyên nhân khách quan, nhóm nguyênnhân chủ quan thuộc về phía khách hàng vay, nhóm nguyên nhân chủ quan thuộc vềbản thân ngân hàng

1.2.3.1.Nhóm nguyên nhân khách quan

Đây là những nguyên nhân gây rủi ro trong cho vay cho hoạt động ngân hàngkhông xuất phát từ bản thân ngân hàng hay khách hàng mà do môi trường bên ngoàitác động Các nguyên nhân khách quan thường xuất hiện đột ngột, khó kiểm soát và

có tầm ảnh hưởng sâu rộng gây thiệt hại cho cả ngân hàng và khách hàng Dưới đâyxin được đề cập một số nguyên nhân khách quan bất khả kháng cụ thể sau:

- Nguyên nhân từ môi trường thiên nhiên hoặc môi trường chính trị: thiên tai

(bão lụt, hạn hán, lở đất, mưa đá…), dịch bệnh, chiến tranh, bạo động, bất ổn chínhtrị… Đây là nhóm nguyên nhân khó dự đoán và thường gây thiệt hại rất nặng nề

Trang 8

ngoài tầm kiểm soát của con người Khi thiên tai, địch hoạ xảy ra, khách hàng vàngân hàng cùng gánh chịu rủi ro: phương án kinh doanh/dự án đầu tư của kháchhàng gặp khó khăn, khách hàng không có nguồn thu và không thể trả nợ ngân hàng.Ngân hàng phải đối mặt và khắc phục rủi ro trong cho vay khi không thể thu hồiđược nợ từ khách hàng

- Nguyên nhân từ những thay đổi mang tầm vĩ mô của Nhà nước (thay đổi trong chính sách kinh tế của Chính phủ, thay đổi về mặt pháp lý và xã hội…):

bản thân các thay đổi này có thể mang lại thuận lợi hay khó khăn cho các chủ thểkhác nhau trong nền kinh tế; tuy nhiên các thay đổi này xảy ra đột ngột làm chocác chủ thể chưa kịp thích ứng để tồn tại và phát triển; chính vì vậy đôi khi nómang lại các tác động theo chiều hướng tiêu cực cho các chủ thể này Trongtrường hợp đó là các khách hàng vay vốn của ngân hàng, khi tác động củanguyên nhân này là nặng nề, khả năng trả nợ của họ bị suy giảm, ngân hàng cũng

sẽ phải đối diện với rủi ro trong cho vay

1.2.3.2.Nhóm nguyên nhân chủ quan từ phía khách hàng vay

Rủi ro trong cho vay xuất phát từ phía khách hàng vay là một trong nhữngnhóm nguyên nhân chủ yếu và phổ biến nhất Việc khách hàng không trả được nợvay có thể do nhiều nguyên nhân, tuy nhiên có thể chia thành hai nhóm nguyênnhân sau: nguyên nhân xuất phát từ tư cách, đạo đức của khách hàng vay và nguyênnhân xuất phát từ năng lực sử dụng vốn vay của khách hàng vay

- Nguyên nhân từ tư cách, đạo đức của khách hàng vay vốn: đây là một trong

những nguyên nhân quan trọng dẫn đến rủi ro cho ngân hàng Rất nhiều người vayvốn sẵn sàng mạo hiểm trong kinh doanh để thu được lợi nhuận cao Để đạt đượcmục đích của mình, họ không ngần ngại sử dụng các thủ đoạn lừa đảo để vay vàchiếm đoạt vốn của ngân hàng như: lập hồ sơ vay vốn giả mạo, cung cấp thông tinsai sự thực, mua chuộc cán bộ ngân hàng… Nhiều khách hàng khác mặc dù có khảnăng trả nợ nhưng cố tình chây ỳ với hy vọng có thể quỵt nợ hoặc kéo dài thời gianchiếm dụng vốn Các trường hợp này tuy không phải lỗi xuất phát từ phía ngânhàng nhưng vụ việc phát sinh lại hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín, trách nhiệmcủa các cán bộ nói riêng và toàn bộ ngân hàng nói chung

Trang 9

- Nguyên nhân từ năng lực sử dụng vốn vay của khách hàng vay: khách hàng

vay vốn trung thực trong việc cung cấp thông tin cho ngân hàng và sử dụng vốn vayđúng mục đích; tuy nhiên, trong quá trình hoạt động kinh doanh, khách hàng cónhững yếu kém trong quản lý hoặc gặp phải các rủi ro không lường hết được trước

đó nên sản xuất kinh doanh không có hiệu quả, năng lực tài chính giảm sút và yếukém, không có hoặc không đủ nguồn thu để trả nợ ngân hàng Những nguyên nhân

cụ thể đối với khách hàng là doanh nghiệp, hộ kinh doanh có thể kể đến như: trình

độ điều hành, quản lý yếu kém của chủ doanh nghiệp, thị trường đầu vào - đầu ra cónhững biến động bất lợi gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh, năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp hạn chế, sản phẩm lỗi thời, lạc hậu, không có khả năng tiêuthụ do sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ… Đối với khách hàng cá nhân,những rủi ro như: mất việc làm, mất khả năng lao động, kinh tế gia đình gặp phảinhững biến cố không mong đợi… là những nguyên nhân cụ thể dẫn đến khách hàngkhông trả được nợ

1.2.3.3.Nhóm nguyên nhân chủ quan từ bản thân ngân hàng

Bên cạnh những nguyên nhân khách quan bất khả kháng và nhóm nguyênnhân chủ quan từ phía khách hàng; cần phải thừa nhận nguyên nhân dẫn đến rủi rotrong cho vay từ phía bản thân ngân hàng là những nguyên nhân quan trọng nhất

Có thể khái quát một số nguyên nhân như sau:

- Nguyên nhân rủi ro xuất phát từ chiến lược kinh doanh của ngân hàng: các

ngân hàng có những mục tiêu hoạt động và chiến lược kinh doanh khác nhau Nếunhư ngân hàng lựa chọn hướng ưu tiên phát triển tín dụng, coi tín dụng là mảng hoạtđộng mang lại thu nhập chính thì mục tiêu được đặt ra là liên tục tăng trưởng tíndụng, gia tăng số lượng khoản vay, mở rộng đối tượng khách hàng vay và ngànhnghề cho vay Việc tăng trưởng tín dụng để chạy theo lợi nhuận và gia tăng khảnăng cạnh tranh với các NHTM khác để chiếm thị phần có thể dẫn tới việc nới lỏng

sự kiểm soát đối với chất lượng tín dụng như: bỏ bớt các điều kiện tín dụng, thựchiện cho vay không đúng quy định, cho vay thiếu tính định hướng dẫn đến đầu tưvào những lĩnh vực dễ bị lạc hậu, ít có triển vọng phát triển… Chất lượng tín dụng

bị nới lỏng sẽ dẫn đến rủi ro trong cho vay cho ngân hàng

Trang 10

- Nguyên nhân rủi ro xuất phát từ sự hạn chế của công nghệ ngân hàng: công

nghệ ngân hàng có thể được hiểu là hệ thống các nguồn thông tin, dữ liệu, trangthiết bị, máy móc, phần mềm… phục vụ cho hoạt động của ngân hàng Mỗi ngânhàng chỉ có thể vận hành, tác nghiệp và quản trị hoạt động của mình dựa trên mộtnền tảng công nghệ nhất định Đối với hoạt động cho vay, công nghệ ngân hàng, màtrước tiên là hệ thống các nguồn thông tin, kho dữ liệu là yếu tố vô cùng quan trọng.Một hệ thống thông tin đầy đủ sẽ giúp ích nhiều cho công tác thẩm định để ra quyếtđịnh cho mỗi khoản vay như: thông tin về bản thân khách hàng (về tư cách pháp lý,năng lực tài chính, lịch sử quan hệ với các ngân hàng của khách hàng), thông tin vềngành nghề hoạt động (khách hàng hoạt động trong ngành nghề có những ưu đãihay hạn chế gì, những đặc thù riêng có của ngành, triển vọng ngành phát triển haysuy thoái…), các thông tin vĩ mô có liên quan khác… Hệ thống thông tin, dữ liệucàng đa dạng cùng với công nghệ xử lý thông tin đầy đủ, hiện đại sẽ đem lại chongân hàng một cái nhìn nhiều chiều về khách hàng và khoản tín dụng đó, từ đó cácquyết định tín dụng đưa ra chính xác hơn, giúp chủ ngân hàng không bỏ lỡ cáckhoản vay tốt và tránh được những khoản vay xấu có thể gây thiệt hại lớn cho ngânhàng Ngược lại, sự hạn chế về thông tin hay công nghệ ngân hàng nói chung có thểđưa ngân hàng tới những sự lựa chọn đối nghịch (từ chối các khách hàng và khoảnvay tốt trong khi lại chấp nhận cho vay đối với các khách hàng không có khả năngtrả nợ), dẫn tới rủi ro trong cho vay

- Nguyên nhân rủi ro từ nguồn nhân lực và quy trình quản lý nội bộ của ngân hàng: con người luôn là trung tâm của mọi hoạt động, chính vì vậy đào tạo và quản

lý con người là một công việc rất khó, tuy nhiên nếu thành công sẽ đem lại hiệu quảrất lớn đối doanh nghiệp, tổ chức đó Trong hoạt động cho vay, yếu tố con ngườilại càng phải được quan tâm hàng đầu vì hoạt động cho vay tiềm ẩn rất nhiều rủi

ro đòi hỏi người cán bộ tín dụng phải vừa có trình độ chuyên môn nghiệp vụvững vàng, vừa có khả năng linh hoạt trong nắm bắt và xử lý thông tin liên quanđến khoản vay và khách hàng, linh hoạt, mềm dẻo, khôn khéo trong xử lý thu hồinợ; và cao hơn hết đó là phải có đạo đức và bản lĩnh nghề nghiệp Nếu như cán

Trang 11

bộ không có đạo đức nghề nghiệp, thông đồng với khách hàng vay để chiếm đoạttiền của ngân hàng thì rủi ro trong cho vay tất yếu xảy ra, gây thiệt hại lớn vềvốn và uy tín cho ngân hàng Nếu như cán bộ không vững về chuyên môn, không

có khả năng nhận biết rủi ro từ khách hàng và khoản vay, quy trình quản lý, kiểmtra nội bộ của ngân hàng còn lỏng lẻo, nhiều khe hở cũng tất yếu tiềm ẩn rủi rotrong cho vay và nguy cơ tổn thất

1.2.4 Tiêu chí đánh giá rủi ro trong cho vay của Ngân hàng thương mại

Trong mục này đề cập đến các chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá mức

độ rủi ro trong cho vay, cụ thể như sau:

- Chỉ tiêu nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn/tổng dư nợ:

Dư nợ quá hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn = - *100%

Tổng dư nợ cho vayTheo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước Việt Nam,khoản nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quáhạn Tỷ lệ nợ quá hạn cho biết trong 1 đồng dư nợ cho vay có bao nhiêu đồng nợquá hạn Hệ số này càng cao cho thấy số nợ quá hạn càng nhiều và rủi ro trong chovay càng lớn

- Chỉ tiêu nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ:

Theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, nợxấu được định nghĩa là nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5, cụ thể:

a) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:

(i) Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc vàlãi đúng hạn;

(ii) Nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ

nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn;

b) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:

(i) Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;

(ii) Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu;

c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:

Trang 12

(i) Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;

(ii) Nợ gia hạn nợ lần đầu;

(iii) Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy

đủ theo hợp đồng tín dụng;

(iv) Nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng

mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng theoquy định của pháp luật;

+ Nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công tycon của tổ chức tín dụng hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một tổ chứctín dụng khác trên cơ sở tổ chức tín dụng cho vay nhận tài sản bảo đảm bằng cổphiếu của chính tổ chức tín dụng nhận vốn góp;

+ Nợ không có bảo đảm hoặc được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá trị vượtquá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi cấp chokhách hàng thuộc đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định của pháp luật;+ Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặcdoanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các tỷ lệ giớihạn theo quy định của pháp luật;

+ Nợ có giá trị vượt quá các giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp được phépvượt giới hạn, theo quy định của pháp luật;

+ Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối vàcác tỷ lệ bảo đảm an toàn đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nướcngoài;

+ Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay, chínhsách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

(v) Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra;

d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:

(i) Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;

(ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn

Trang 13

trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

(iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;

(iv) Khoản nợ quy định tại điểm c (iv) quá hạn từ 30 ngày đến 60 ngày kể từngày có quyết định thu hồi;

(v) Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến

60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;

đ) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:

(i) Nợ quá hạn trên 360 ngày;

(ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thờihạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

(iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được

cơ cấu lại lần thứ hai;

(iv) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc

đã quá hạn;

(v) Khoản nợ quy định tại điểm c (iv) khoản 1 Điều này quá hạn trên 60 ngày

kể từ ngày có quyết định thu hồi;

(vi) Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên

60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;

(vii) N c a khách h ng l t ch c tín d ng ợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà ủa khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà àng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà àng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà ổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà ức tín dụng được Ngân hàng Nhà ụng được Ngân hàng Nhà đượ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà c Ngân h ng Nh àng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà àng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà

n ư c công b ố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng àng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà t v o tình tr ng ki m soát ạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng ểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng c bi t, chi nhánh ngân h ng ệt, chi nhánh ngân hàng àng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà

n ư c ngo i b phong t a v n v t i s n; àng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà ị phong tỏa vốn và tài sản; ỏa vốn và tài sản; ố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng àng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà àng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà ản;

Dư nợ xấu

Tỷ lệ nợ xấu = - *100%

Tổng dư nợ cho vayChỉ tiêu nợ xấu cho biết số nợ xấu trong tổng dư nợ của ngân hàng Hệ số nàycàng cao thì rủi ro trong cho vay càng lớn Theo thông lệ tại các Ngân hàng tiên tiếntrên thế giới, hệ số này được khống chế ở mức dưới 3%

- Chỉ tiêu nợ không thu hồi được và đã xử lý bằng quỹ dự phòng/tổng dư nợ:

Hoạt động cho vay luôn song hành với rủi ro, do vậy các ngân hàng trong quátrình hoạt động phải trích lập dự phòng cho những khoản tín dụng theo quy định và

Trang 14

các ngân hàng sẽ sử dụng quỹ dự phòng này để loại trừ nợ không thể thu hồi ra khỏinội bảng (đưa ra ngoại bảng), tuy nhiên các khoản nợ được đưa ra ngoại bảng vẫntiếp tục được theo dõi để tận thu nợ, giảm tối đa thiệt hại cho ngân hàng.

Dư nợ được xử lý bằng quỹ dự phòng

Tỷ lệ nợ không thu hồi được = - *100%

1.3.1.1 Sự cần thiết hạn chế rủi ro trong cho vay của Ngân hàng thương mại

Rủi ro trong cho vay tiềm ẩn và thường trực trong kinh doanh ngân hàng; trênthực tế, ngân hàng không dự kiến một khoản vay cụ thể nào sẽ xảy ra rủi ro và tổnthất; tuy nhiên, ở góc độ quản lý toàn bộ ngân hàng, một tỷ lệ rủi ro và tổn thất dựkiến đối với hoạt động cho vay luôn được xác định trong mục tiêu và chiến lượchoạt động của ngân hàng Chính vì vậy, khi tổn thất xảy ra dưới mức tỷ lệ dự kiến,ngân hàng có thể coi đó là thành công trong quản lý; ngược lại, nếu tổn thất xảy ralớn hơn mức dự kiến, ngân hàng sẽ phải đối mặt với những khó khăn như: tăng chiphí, giảm lợi nhuận dẫn tới giảm hiệu quả kinh doanh trong kỳ Các khó khăn củangân hàng sẽ tăng dần tỷ lệ thuận với sự tăng lên của rủi ro trong cho vay Trườnghợp rủi ro trong cho vay và tổn thất xảy ra lớn, ngân hàng sẽ đứng trước nguy cơmất cân đối thu chi và dòng tiền gây tình trạng mất khả năng thanh khoản trongngắn hạn; giảm sút năng lực tài chính và uy tín

Đứng trên giác độ khác, do ngân hàng cũng là một doanh nghiệp hoạt độngtrong nền kinh tế và có nhiều mối quan hệ với các chủ thể khác; vì vậy, khi rủi rotrong cho vay xảy đến với một ngân hàng, ở một mức độ nào đó, nó sẽ có nhữngảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các đối tượng khác trong nền kinh tế

• Hậu quả đối với ngân hàng:

- Rủi ro trong cho vay xảy ra làm phát sinh tăng chi phí, giảm lợi nhuận ngân

hàng: khi các khoản cho vay phát sinh nợ quá hạn, việc đầu tiên các ngân hàng phải

Trang 15

làm là tìm các biện pháp để thu hồi nợ Quá trình thu hồi nợ quá hạn vừa làm mấtthời gian do phát sinh thêm nhiều công việc cho cán bộ ngân hàng, vừa phát sinhthêm các khoản chi phí cho việc thu hồi nợ Đối với các khoản nợ phức tạp vàliên quan đến nhiều bên thì thời gian để thu hồi được nợ càng kéo dài và chi phícàng tốn kém Như vậy, để thu hồi được các khoản nợ quá hạn, ngân hàng sẽphải chấp nhận hy sinh một phần lợi nhuận của mình để trang trải chi phí choviệc thu hồi nợ (nói theo cách khác là tăng chi phí quản lý, từ đó làm giảm lợinhuận) Ngoài ra, các khoản lãi quá hạn không thu được sẽ làm giảm lợi nhuậntrong hoạt động của ngân hàng.

Bên cạnh những chi phí trước mắt và có thể lượng hoá được như đã nêu, ngânhàng cũng phải chấp nhận bỏ qua chi phí cơ hội và các chi phí không thể lượng hoáđược như: các khoản nợ quá hạn làm chậm vòng quay vốn tín dụng, làm mất cơ hội

để ngân hàng thực hiện các khoản cho vay mới; về cá nhân cán bộ: nợ quá hạn phátsinh gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho cán bộ cho vay, làm mất thời gian xử lý nợ

và mất cơ hội của cán bộ trong việc tiếp cận, thẩm định các khách hàng và khoảnvay mới, gây tâm lý ngần ngại của cán bộ đối với việc tiếp tục cho vay… Tất cảnhững vấn đề này có nguy cơ làm tăng chi phí trong tương lai, từ đó giảm lợi nhuận

và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng

- Rủi ro trong cho vay xảy ra làm mất cân đối dòng tiền, tiềm ẩn nguy cơ mất khả năng thanh toán: khi ngân hàng không thu hoặc chậm thu được vốn và lãi cho

vay, trong khi ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động từ tổ chức vàdân cư để cho vay theo thời hạn đã xác định Điều này có thể dẫn tới tình trạng ngânhàng mất cân đối thu chi tạm thời trong thời gian ngắn Nếu tình trạng này xảy rađối với các khoản nợ nhỏ lẻ, cá biệt và không thường xuyên thì mức độ ảnh hưởngđối với ngân hàng là nhỏ, không đáng kể Tuy nhiên, nếu tình trạng chậm trả hoặckhông trả được nợ của khách hàng kéo dài và mang tính đồng loạt với quy mô lớnthì mức độ ảnh hưởng đến khả năng cân đối dòng tiền, cân đối thu chi là rất lớn,ngân hàng có thể phải đối mặt với tình trạng mất khả năng thanh toán

- Rủi ro trong cho vay xảy ra làm giảm sút năng lực tài chính và uy tín của

Trang 16

ngân hàng: như bất cứ một doanh nghiệp kinh doanh nào, khi rủi ro và tổn thất xảy

ra, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sẽ chịu ảnh hưởng, đôi khi bị giảm sútnghiêm trọng Ngân hàng cũng vậy, rủi ro trong cho vay đến một mức độ nào đólàm cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng kém hiệu quả, thậm chí không cònhiệu quả, năng lực tài chính giảm sút Ngân hàng buộc phải thu hẹp quy mô hoạtđộng làm cho uy tín, sức cạnh tranh của ngân hàng hạn chế

• Hậu quả đối với các chủ thể khác trong nền kinh tế:

- Đối với khách hàng vay: như đã nêu trên, khi một khoản nợ bị chậm trả hoặc

không được thanh toán, ngân hàng mất đi cơ hội thực hiện khoản vay mới Điều nàycũng đồng nghĩa với việc người đi vay mất cơ hội tiếp cận với khoản vay của ngânhàng Rủi ro trong cho vay càng lớn, ngân hàng càng thu hẹp quy mô và đối tượngcho vay, thận trọng hơn trong cho vay Như vậy, người đi vay sẽ gặp khó khănnhiều hơn trong tiếp cận vốn vay, không có nguồn vốn để đầu tư mở rộng hoạt độngkinh doanh hay tiêu dùng Đối với các chủ thể vay trực tiếp gây ra rủi ro trong chovay (là người chậm trả hoặc không trả nợ) thì khả năng tiếp tục được vay từ chínhngân hàng đó hay ngân hàng khác là rất khó khăn, thậm chí không thể vay tiếp do

hệ thống ngân hàng sẽ có những cảnh báo đối với các đối tượng vay này

- Đối với khách hàng tiền gửi: các ngân hàng huy động vốn từ các chủ thể cho

vay để thực hiện hoạt động cho vay Khi hoạt động cho vay không đem lại hiệu quả,ngân hàng không thể thu hồi lại được gốc và lãi của khoản vay, ngân hàng phải sửdụng nguồn vốn tự có của mình để trả lại cho người gửi tiền Đến mức độ nào đó,khi nguồn vốn của chính ngân hàng cũng không thể bù đắp nổi cho tổn thất do rủi

ro trong cho vay gây ra, ngân hàng mất khả năng thanh toán và người gửi tiền phảiđối mặt với nguy cơ không thể thu hồi lại vốn đã gửi ngân hàng

- Đối với các tổ chức tín dụng (TCTD) khác: hoạt động ngân hàng là hoạt động

kinh doanh tiền tệ, do đó rất nhạy cảm với những thông tin Những luồng thông tinkhông tích cực, đôi khi chỉ là tin đồn cũng ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến ngân hàng.Chính vì vậy, khi một ngân hàng gặp rủi ro trong cho vay, có thể chưa đến mức ảnhhưởng đến hiệu quả kinh doanh và khả năng thanh toán của ngân hàng đó, nhưng

Trang 17

những thông tin về khoản rủi ro có thể gây phản ứng dây chuyền, ảnh hưởng đến sự

ổn định của toàn hệ thống TCTD

Tóm lại, rủi ro trong cho vay của ngân hàng gây ra những hậu quả ở mức độkhác nhau: nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được gốc vàlãi cho vay, nặng hơn khi ngân hàng không thu được vốn và lãi, nợ thất thu với tỷ lệcao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn Nếu tình trạng này tiếp tục kéo dài khôngkhắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho hệ thốngngân hàng và rộng hơn cho cả nền kinh tế Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trịngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảmthiểu rủi ro trong cho vay

1.3.1.2 Quan điểm hạn chế rủi ro trong cho vay của Ngân hàng thương mại

Hạn chế rủi ro trong cho vay là một nội dung quan trọng gắn liền với mọi hoạtđộng của ngân hàng thương mại Hạn chế rủi ro trong cho vay không có nghĩa là nétránh rủi ro mà là việc xác định một mức rủi ro có thể chấp nhận được, trên cơ sở đóđưa ra các biện pháp để đảm bảo rủi ro tín dụng của ngân hàng không vượt quá mứcxác định trước đó

Việc hạn chế rủi ro trong cho vay là quá trình đo lường, đánh giá rủi ro trongquá trình cho vay; theo dõi, giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời để đảm bảo quyềnlợi của ngân hàng nếu có bất kỳ một sự thay đổi hoàn cảnh nào cho đến khi khoảnvay được hoàn trả Chính sách hạn chế rủi ro trong cho vay có tính chất phòng ngừa,ngăn ngừa và làm giảm những tổn thất trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, đảmbảo các khoản cho vay được hoàn trả đầy đủ, đúng hạn

1.3.2 Nội dung hạn chế rủi ro trong cho vay của Ngân hàng thương mại

1.3.2.1 Hạn chế nợ quá hạn

• Chính sách cho vay:

Chính sách cho vay có thể được coi như một cương lĩnh tài trợ, cho vay của mộtNHTM, bao gồm các quan điểm, chủ trương, định hướng, quy định chỉ đạo tronghoạt động tín dụng Chính sách cho vay tạo sự thống nhất chung, tạo đường hướng,chỉ dẫn cho các cấp điều hành trong hoạt động cho vay cho đến các cán bộ tín dụng

Để có thể đảm bảo mục tiêu nâng cao hiệu quả, kiểm soát rủi ro, phát triển bền vững

Trang 18

hoạt động tín dụng, nhất thiết phải xây dựng một chính sách cho vay nhất quán vàhợp lý, thích ứng với môi trường kinh doanh, phù hợp với đặc điểm của NHTM, pháthuy được các thế mạnh, khắc phục và hạn chế được các điểm yếu nhằm mục tiêu antoàn và sinh lợi Một số nội dung quan trọng cấu thành trong chính sách cho vay:

Chiến lược về rủi ro trong cho vay của ngân hàng: chiến lược cần phản ánh

mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng và mức sinh lời mà ngân hàng kỳ vọng đạtđược khi gánh chịu các rủi ro này

Chính sách khách hàng: xây dựng một chính sách khách hàng theo hướng giữ

chân khách hàng cũ, thu hút khách hàng mới thông qua đa dạng sản phẩm dịch vụ vàthành phần khách hàng để mở rộng thị phần, phân tán rủi ro

Chính sách sản phẩm cho vay: đa dạng sản phẩm cho vay nhằm nâng cao hiệu

quả hoạt động của ngân hàng thương mại thông qua việc phân tán và hạn chế rủi rotín dụng trong điều kiện hệ thống sản phẩm được thiết kế chặt chẽ

Chính sách lãi suất: chính sách lãi suất cần được xây dựng dựa trên uy tín của

khách hàng, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, khả thi của hoạt độngvay vốn và độ an toàn của khoản vay

• Quy trình cho vay

Quy trình cho vay là sự cụ thể hóa nội dung của chính sách cho vay Quy trìnhcho vay là quy trình thủ tục cần phải thực hiện trong khi đánh giá, phê duyệt xử lý,ghi chép và quản lý các giao dịch cho vay và quản lý danh mục cho vay Mục tiêucủa quy trình cho vay là góp phần giảm thiểu rủi ro, nâng cao hiệu quả hoạt độngcho vay của các ngân hàng thương mại

Mục đích của quy trình cho vay là nhằm đảm bảo mọi cán bộ quản lý và nhânviên ngân hàng hiểu rõ các quy trình thủ tục cần phải thực hiện trong khi đánh giá,phê duyệt, xử lý, ghi chép và quản lý các giao dịch cho vay và quản lý danh mụccho vay Các thủ tục tín dụng tạo thành các chu trình công việc và quy trình cầnđược tuân thủ khi thực hiện tất cả các công việc trong hoạt động cho vay của ngânhàng Quy trình cho vay này áp dụng cho tất cả các sản phẩm cho vay

Quy trình được xây dựng để đảm bảo việc ra quyết định cho vay, xử lý hồ sơ

Trang 19

và ghi chép các hồ sơ đã được phê duyệt được thực hiện một cách có tổ chức, hiệuquả và chuyên nghiệp nhất.

• Lượng hóa và đo lường rủi ro:

Để xác định chính xác mức độ rủi ro của mỗi khoản vay, các ngân hàng phải

có một hệ thống phân loại khoản vay đáng tin cậy dựa trên cơ sở rủi ro tín dụng.Ngân hàng thường áp dụng một số mô hình cụ thể để đánh giá rủi ro tín dụng Môhình này rất đa dạng , bao gồm cả mô hình phản ánh về mặt đặc tính và mô hìnhphản ánh về mặt định lượng Đặc điểm của các mô hình này là không loại trừ lẫnnhau nên một ngân hàng có thể sử dụng cùng một lúc nhiều mô hình khác nhau để

hỗ trợ, bổ sung trong việc phân tích và đánh giá mức độ rủi ro của các khoản vay

* Mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng dựa trên yếu tố C:

Hệ thống tiêu chuẩn thường được các ngân hàng sử dụng trong mô hình làtiêu chuẩn 6C:

+ Charater (Tư cách của người vay): Tiêu chuẩn này thể hiện tinh thần tráchnhiệm, tính trung thực , mục đích rõ ràng và thiện chí tả nợ của người vay Khiquyết định cho vay, cán bộ tín dụng phải chắc chắn tin rằng người xin vay có mụcđích tín dụng rõ ràng và có thiện chí nghiêm chỉnh trả nợ khi đến hạn

+ Capacity (Năng lực của người vay): Cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằngngười xin vay phải có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồngtín dụng Hợp đồng tín dụng được ký kết bởi người không được đầy đủ thẩm quyền

có thể sẽ không thu hồi được nợ, tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng

+ Cash (Thu nhập của người vay): Tiêu chuẩn thu nhập của người vay tậptrung vào câu hỏi: Người vay có khả năng tạo ra đủ tiền để trả nợ hay không? Nhìnchung , người vay có ba khả năng để tạo ra tiền đó là: dòng tiền từ bán thanh lý tàisản Bất cứ nguồn thu nào từ ba khả năng trên đều có thể sử dụng để trả nợ vay chongân hàng

+ Collateral (Tài sản đảm bảo): Một khoản tín dụng nếu được đảm bảo bằngtài sản cầm cố hay tài sản thế chấp sẽ gắn chặt chẽ hơn trách nhiệm và nghĩa vụ trả

nợ của người vay Nếu xảy ra những rủi ro khách quan, người đi vay không trả

Trang 20

được nợ thì tài sản cầm cố , thế chấp sẽ trở thành nguồn thu nợ thứ hai của ngânhàng Tất nhiên tài sản cầm cố thế chấp cũng phải đáp ứng những yêu cầu và điềukiện nhất định theo quy định của ngân hàng.

+ Conditions (các điều kiện): Để đánh giá xu hướng ngành và điều kiện kinh tế

có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động kinh doanh của khách hàng, cán bộ tíndụng cần phải biết được thực trạng về ngành nghề và công việc kinh daonh củakhách hàng, cũng như khi các điều kiện kinh tế thay đổi sẽ ảnh hưởng như thế nàođến hoạt động của người vay

+ Control (kiểm soát): Tập trung vào những vấn đề như thay đổi trong phápluật và quy chế có ảnh hưởng xấu đến người vay yêu cầu tín dụng của người vay cóđáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng

* Mô hình xếp hạng của Moody’s và Standard & Poor’s :

Rủi ro tín dụng hay rủi ro không hoàn được vốn trái phiếu của công ty thườngđược thể hiện bằng việc xếp hạng trái phiếu hay xếp hạng doanh nghiệp Nhữngđánh giá này được thể hiện bởi một số dịch vụ xếp hạng tư nhân trong đó Moody’s

và standard’s &Poor’s là những dịch vụ tốt nhất:

Aaa Chất lượng cao nhất AAA Chất lượng cao nhất

A Chất lượng vừa cao hơn A Chất lượng vừa cao hơn

Ba Nhiều yếu tố đầu cơ BB Nhiều yếu tố đầu cơ

Caa Chất lượng kém CCC-CC Đầu cơ có rủi ro cao

Ca Đầu cơ có rủi ro cao C Trái phiếu có lợi nhuận

C Chất lượng kém nhất DDD-D Không hoàn được vốn

Đối với Moody’s xếp hạng cao nhất từ Aaa nhưng với Standard &Poor’s th́ìcao nhất là AAA Việc xếp hạng giảm dàn từ AA (Moody’s) và AA (Standard &Poor’s) sau đó thấp dần để phản ánh rủi ro không được hoàn vốn cao Trong đó, vớikhách hàng thuộc một trong bốn loại đầu được xem như có khả ăng trả nợ, có thểthực hiện cho vay, còn các doanh nghiệp có mức xếp hạng thuộc năm loại sau được

Trang 21

xếp loại có độ rủi ro cao, khả năng hoàn vốn thấp dần Nhưng do có mối quan hệgiữa rủi ro và lợi nhuận nên tuy việc xếp hạng thấp (rủi ro không hoàn voonscao)nhưng có lợi nhuận cao nên đôi lúc khách hàng chấp nhận đầu tư vào các loạichứng khoán này Để đạt được lợi nhuận kỳ vọng, nhà dầu tư thường đa dạng hóadanh mục đầu tư để tối đa hóa lợi nhuận trong khi vẫn đạt tỷ lệ an toàn có thể chấpnhận được.

* Mô hình điểm số Z(Z- Credit scoring model):

Đây là mô hình do E.I.Altman xây dựng dùng để cho điểm tín dụng đối vớicác doanh nghiệp vay vốn Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loạirủi ro tín dụng đối với người vay và phụ thuộc vào trị số của các chỉ số tài chính củangười vay trong quá khứ Từ đó Altman đã xây dựng mô hình tính điểm như sau:Z=1,2X1+1,4X2+ 3,3X3+ +0,6X4 + 1,0X5

Trong đó:

X1= hệ số vốn lưu động/tổng tài sản

X2= hệ số lãi chưa phân phối/tổng tài sản

X3 = hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi/tổng tài sản

X4 = Hệ số giá trị thị trường của tổng vốn sở hữu /giá trị hạch toán của tổng nợ.X5 = Hệ số doanh thu/tổng tài sản

Trị số Z càng cao, người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp Vậy khi trị số Z thấphoặc là một số âm sẽ là căn cứ xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao.Theo mô hình cho điểm Z của Altman, bất cứ công ty nào có điểm số thấp hơn 1,81phải được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao

Như vậy, các công cụ tín dụng có thể nói là rất quan trọng trong hoạt động tíndụng của NHTM Mục tiêu cuối cùng của các công cụ này là phục vụ khách hàng trên

cơ sở an toàn, giảm thiểu rủi ro tín dụng và nâng cao khả năng sinh lời của NHTM

• Nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay:

Bảo đảm tiền vay là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, được phápluật quy định theo một khuôn mẫu nhất định, có mục đích hướng dẫn cho các chủthể trong quan hệ (tổ chức tín dụng và khách hàng vay vốn), để đảm bảo cho nghĩa

vụ được thực hiện (nghĩa vụ trả nợ của khách hàng), đồng thời xác định quyền và

Trang 22

nghĩa vụ của các bên

Các biện pháp nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay là tiêu chí quan trọng đểtăng năng lực tài chính của NHTM, phòng ngừa rủi ro trong cho vay Một số biệnpháp để nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay bao gồm:

+ Nâng cao chất lượng thẩm định tài sản đảm bảo cho món vay (bao gồm việcthẩm định điều kiện tài sản thế chấp, năng lực pháp lý của người thế chấp tài sản,định giá tài sản, tính thanh khoản của tài sản…)

+ Xây dựng danh mục bảo đảm tiền vay an toàn, đảm bảo hạn chế rủi ro:Tránh nhận những tài sản có giá trị giảm dần theo thời gian vì như vậy sẽ gặp rủi ro

do giá trị tài sản thế chấp còn lại sẽ thấp hơn giá trị nợ khó đòi tại thời điểm xử lýtài sản Ưu tiên nhận các tài sản có tính lỏng cao và có giá trị mang tính ổn địnhhoặc có xu hướng gia tăng về giá trị như đất, tài sản gắn liền với đất, trái phiếuchính phủ, cổ phiếu của các doanh nghiệp uy tín Đối với những tài sản có nguy cơrủi ro cao như hàng hóa trên đường vận chuyển, phương tiện vận tải các NHTMthường yêu cầu bên bảo đảm phải mua bảo hiểm trong suốt thời gian vay vốn.+ Trong quản trị đối với bảo đảm tiền vay phải tính đến các yêu tố ảnh hưởngnhư thủ tục hành chính, tính hiệu lực của pháp luật, chính sách của nhà nước, khíacạnh cung-cầu, đầu cơ, giá cả thị trường

• Sử dụng các công cụ phái sinh trong cho vay:

Các công cụ phái sinh trong cho vay giống như một hợp đồng bảo hiểm, trong

đó đối tượng được bảo hiểm là các khoản vay trước khi xảy ra rủi ro cho vay Bênmua bảo hiểm phải trả một khoản phí cho bên bán bảo hiểm để nhận được lời camkết sẽ bồi hoàn giá trị tổn thất nếu rủi ro cho vay xảy ra Công cụ phái sinh trongcho vay có thể phân thành các loại như sau:

+ Trái phiếu ràng buộc: là một công cụ phái sinh kết hợp các đặc tính củakhoản nợ thông thường và hợp đồng quyền chọn tín dụng Trái phiếu này giúp cho

tổ chức vay vốn có thể linh hoạt hơn trong quá trình thanh toán Trái phiếu ràngbuộc tạo cho tổ chức phát hành một đặc quyền trong việc giảm mức thanh toán nếuxảy ra rủi ro trong cho vay

Trang 23

+ Hợp đồng hoán đổi các khoản rủi ro trong cho vay: là một hợp đồng hoánđổi mà trong đó bên mua sự an toàn sẽ phải trả một khoản phí cho bên bán sự antoàn Khi rủi ro cho vay xảy ra thì bên bán phải bồi hoàn lại cho bên mua giá trị củakhoản vay theo các điều khoản trong hợp đồng Ngược lại nếu rủi ro không xảy ra,hợp đồng hết hiệu lực và bên mua chịu toàn bộ khoản phí.

+ Hợp đồng quyền chọn rủi ro trong cho vay: đây là một công cụ đảm bảo chogiá trị của các khoản cho vay của Ngân hàng, trong đó bên mua sự an toàn sẽ trảmột khoản phí để mua quyền chọn bán các khoản nợ của mình, bên bán sự an toàn

sẽ cam kết thanh toán theo giá thực hiện trong hợp đồng khi rủi ro cho vay xảy ra.+ Hợp đồng hoán đổi thu nhập: là hợp đồng mà bên mua sẽ chuyển giao toàn

bộ lãi của khoản vay và bất kỳ sự tăng giá nào của khoản vay, đổi lại bên bán sẽthanh toán cho bên mua một mức lãi suất cơ bản (lãi suất LIBOR) cộng với một tỷ

lệ lãi suất cố định và bất cứ sự giảm giá nào của khoản vay Theo hợp đồng này, cácbên sẽ thanh toán cho nhau định kỳ bất kể có xảy ra rủi ro cho vay hay không vì bảnchất của hợp đồng là sự trao đổi rủi ro và giá trị hai dòng tiền mỗi bên Nếu ngườivay trả nợ đầy đủ hay tăng hạng tín nhiệm thì bên bán sẽ được lợi vì giá trị củakhoản vay sẽ tăng lên Hợp đồng sẽ chấm dứt nếu người vay không thanh toán đượckhoản nợ

Sử dụng các công cụ phái sinh trong cho vay là một biện pháp chủ động đểtái cấu trúc rủi ro cho vay trong danh mục mà không làm thay đổi cơ cấu củabảng cân đối kế toán Cùng với sự phát triển của công nghệ ngân hàng trongviệc đo lường và đánh giá rủi ro, việc phát triển thị trường chuyển giao cáckhoản rủi ro cho vay giúp các NHTM dễ dàng hơn trong việc thực hiện chiếnlược về quản trị danh mục của mình

1.3.2.2 Xử lý các khoản vay có vấn đề

• Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro

Theo thông tư 02/2013/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, tất cảcác TCTD (bao gồm NHTM, TCTD phi Ngân hàng) và chi nhánh Ngân hàng nướcngoài phải thực hiện việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro

Trang 24

tín dụng trong hoạt động ngân hàng.

Theo đó nợ được phân loại thành 05 nhóm như đã phân tích ở mục 1.2.4.Cũng theo thông tư 02, dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập và hạch toánvào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ củaTCTD Dự phòng rủi ro gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung

Dự phòng cụ thể là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất cóthể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với từngnhóm nợ như sau:

• Sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý khoản vay không thu hồi được

Mục đích của việc sử dụng dự phòng rủi ro là để bù đắp tổn thất đối với cáckhoản nợ của tổ chức tín dụng Dự phòng rủi ro chỉ tính theo dư nợ gốc của kháchhàng và được hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tín dụng

Dự phòng rủi ro được sử dụng trong trường hợp khách hàng bị giải thể, phásản hoặc chết hoặc mất tích Dự phòng cũng được dùng để xử lý rủi ro ngay khi cáckhoản nợ được xếp vào nhóm 5 (nợ không thu hồi được) Việc sử dụng dự phòng để

xử lý rủi ro được thực hiện theo nguyên tắc sử dụng dự phòng cụ thể đối với từngkhoản nợ trước, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, và cuối cùng nếu phát mạitài sảnkhông đủ bù đắp thì mới được sử dụng dự phòng chung

• Phát mại tài sản đảm bảo

Khi khách hàng không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ vay, ngân hàng có

Trang 25

quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của khách hàng để thu hồi nợ theo đúng quyđịnh hiện hành Việc yêu cầu xử lý TSBĐ để thu hồi nợ vay có thể thực hiện bằngviệc yêu cầu khách hàng tự phát mại tài sản hoặc ngân hàng sẽ khởi kiện kháchhàng ra tòa án để đề nghị phát mại TSBĐ để thu hồi nợ vay.

1.3.2.3 Chứng khoán hóa các khoản vay có tài sản thế chấp

Chứng khoán hóa là một quá trình tài chính cơ cấu, tại đó các tài sản thếchấp khác nhau của những người đi vay được tập hợp và đóng gói rồi được dùnglàm đảm bảo để phát hành các trái phiếu (gọi chung là trái phiếu đảm bảo bằng tàisản) Tiền từ người mua các chứng khoán này sẽ được chuyển đến các tổ chức tàichính cho vay thế chấp để các tổ chức này cho người đem thế chấp tài sản vay tiền.Chứng khoán hóa chính là quá trình đưa các tài sản thế chấp sang thị trường thứ cấpnơi mà chúng có thể trao đi đổi lại Nó đã biến các tài sản kém thanh khoản thànhnhững chứng khoán thanh khoản cao

Có 4 loại chủ thể kinh tế chủ yếu liên quan đến quá trình chứng khoán hóa, đólà: 1) người thế chấp và đi vay, 2) tổ chức tập hợp và đóng gói tài sản thế chấp rồiphát hành chứng khoán, 3) nhà đầu tư mua bán chứng khoán, và 4) tổ chức tín dụngcho vay Với 4 loại chủ thể kinh tế thay vì 2 loại là người thế chấp - đi vay và tổchức tín dụng cho vay, rủi ro được chuyển từ tổ chức tài chính sang nhà đầu tư tráiphiếu đảm bảo bằng tài sản Việc gộp nhiều loại tài sản thế chấp khác nhau vào mộttập hợp cũng là một hình thức phân tán rủi ro Vì thế, đã có cách gọi các trung giantài chính tham gia vào chứng khoán hóa là những người tạo ra và phân tán rủi ro.Hai loại chủ thể kinh tế trung gian giữa người đi vay và tổ chức tín dụng cho vayđóng vai trò trung gian-môi giới, nên giúp cho người vay và tổ chức tín dụng dễ

"gặp nhau" hơn Ngoài ra, chứng khoán hóa còn giúp giảm chi phí huy động tàichính Dù người đi vay có mức xếp hạng tín nhiệm không cao nhưng với tài sảnđem thế chấp tốt thì chứng khoán đảm bảo bằng tài sản này vẫn có thể được xếphạng tín nhiệm cao và dễ bán Chính vì thế, chứng khoán hóa tạo thuận lợi cho việcvay và cho vay có thế chấp

1.3.3 Kinh nghiệm về hạn chế rủi ro trong cho vay của một số Ngân hàng

Trang 26

1.3.3.1 Kinh nghiệm quản lý rủi ro trong cho vay ở Vietinbank

Hoạt động ngân hàng có lẽ là hoạt động mang tính công chúng lớn nhất và cósức ảnh hưởng mạnh mẽ nhất trong các hoạt động kinh tế - tài chính Sức ảnhhưởng của nó không chỉ xuất phát từ lý do nguồn vốn hoạt động chủ yếu của cácNHTM là nguồn huy động từ công chúng mà còn vì chúng tác động trực tiếp vàocác luồng vốn luân chuyển trong nền kinh tế với sự phụ thuộc, đan xen mang tínhdây chuyền Sự sụp đổ của một hoặc một số tổ chức tín dụng (TCTD) có thể dẫnđến sự sụp đổ của cả hệ thống ngân hàng tài chính, thậm chí ảnh hưởng theo hiệuứng Domino trên bình diện quốc tế Vì thế, rủi ro tín dụng không chỉ là nguy cơ cábiệt của mỗi NHTM mà còn là nỗi lo chung, mối quan tâm của hệ thống ngân hàng(đứng đầu là NHNN) trong phạm vi mỗi quốc gia và toàn cầu

Vì vậy, từ năm 1974, Ủy ban Basel đã được biết đến trên khắp thế giới về cácthông lệ quốc tế mà họ đưa ra về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu; các nguyên tắc cơ bản

về giám sát ngân hàng hiệu quả; và các thỏa ước về giám sát ngân hàng xuyên biêngiới Với 25 nguyên tắc được thiết lập, ảnh hưởng của Basel không chỉ dừng lại ở

15 nước thành viên ban đầu mà đã lan tỏa ra hầu hết các nước trên thế giới (mặc dùviệc áp dụng là không bắt buộc) Các nguyên tắc, thỏa ước của Basel đã trở thànhnền tảng cho việc thiết lập khuôn khổ pháp lý và chuẩn mực để NHTW thực hiệnquyền cấp phép, giám sát, kiểm tra, điều tiết hoạt động ngân hàng nói riêng và cáchoạt động tín dụng nói chung Các khuôn khổ pháp lý và cơ chế điều hòa hoạt độngngân hàng nhằm mục đích đảm bảo cho hệ thống ổn định, lành mạnh và phòngngừa, xử lý rủi ro một cách hiệu quả

Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam là ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam

tiến hành dự án xây dựng Hệ thống quản lý rủi ro tín dụng nội bộ một cách đầy đủ

và toàn diện theo định hướng chuẩn mực quốc tế Basel II dưới sự tư vấn của Công

ty Ernst & Young Đây là dự án dài hạn nhằm cải tổ toàn bộ hệ thống quản trị rủi rotín dụng của VietinBank theo Basel II và các thông lệ quốc tế tốt nhất Sự cải tổ này

từ cơ cấu tổ chức, mô hình hoạt động đến các chính sách, quy định, quy trình cấp tíndụng và quản lý rủi ro tín dụng theo phương pháp tiếp cận nội bộ cơ bản

Trang 27

Từ năm 2011 trở về trước, Vietinbank thực hiện theo mô hình quản lý tín dụngphân tán Theo đó, các phòng khách hàng, phòng giao dịch tại chi nhánh thực hiệntất cả các bước của quy trình đối với khách hàng đủ điều kiện trong mức ủy quyềnphán quyết (chi nhánh tìm kiếm, thẩm định, phê duyệt cấp tín dụng, giải ngân, giámsát, thu nợ) Phòng Quản lý rủi ro tại chi nhánh chỉ có vai trò thẩm định rủi ro độclập trong một số trường hợp, chủ yếu ý kiến chỉ để cảnh báo và có tính chất thamkhảo Trường hợp vượt mức ủy quyền phán quyết hoặc khách hàng không đủ điềukiện chi nhánh sẽ trình Hội sở tái thẩm định Phòng Quản lý rủi ro tại hội sở có vaitrò như ở chi nhánh.

Từ tháng 1/2013 Ngân hàng Vietinbank có sự chuyển đổi trong mô hình, tại đó

có sự tách biệt hoàn toàn 3 chức năng: Kinh doanh, Tác nghiệp và Quản lý rủi ro.Phòng Khách hàng/ Phòng Giao dịch tại chi nhánh chỉ có chức năng kinh doanh:tìm kiếm và chăm sóc khách hàng, lập báo cáo đề xuất, thu nợ Việc kiểm soát thẩmđịnh để cấp Giới hạn tín dụng tập trung lên phòng Đánh giá xếp hạng và phê duyệtGiới hạn tín dụng Trụ sở chính, không còn phòng Quản lý rủi ro và Hội đồng tíndụng cơ sở

Nhờ đó, quy mô tín dụng của VietinBank tăng bình quân hàng năm 31% đếnnay tăng gần 170 lần so với lúc mới thành lập, đáp ứng được các nhu cầu vốn hợp

lý của nền kinh tế, góp phần quan trọng vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước Vốn chủ sở hữu VietinBank đạt gần 55 nghìn tỷ đồng, trong đó vốnđiều lệ là 37,2 nghìn tỷ đồng VietinBank hiện vẫn là ngân hàng có vốn điều lệ lớnnhất trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam Cơ cấu tín dụng theo địa bàn,đối tượng khách hàng, mục đích sử dụng vốn, ngành hàng, kỳ hạn cấp tín dụng,hình thức bảo đảm tiền vay… được điều chỉnh theo hướng tích cực Chất lượng tíndụng được nâng cao và trở thành một trong những Ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấpnhất Năm 2014, lợi nhuận Vietinbank đạt mức 7,300 tỷ đồng và nợ xấu chỉ ở mức1.1%, mức thấp nhất trong hệ thống ngân hàng hiện nay

1.3.3.2 Kinh nghiệm quản lý rủi ro trong cho vay của một số ngân hàng ở Thái Lan

Trang 28

Mặc dù có bề dầy hoạt động nhiều năm nhưng vào năm 1997 - 1998, hệ thống ngânhàng Thái Lan vẫn bị chao đảo trước cơn khủng hoảng tài chính - tiền tệ Trước tình hình

đó, các ngân hàng Thái Lan đã có một loạt thay đổi căn bản trong hệ thống tín dụng.Thứ nhất, tách bạch, phân công rõ chức năng các bộ phận và tuân thủ các khâutrong quy trình giải quyết các khoản vay Có thể thấy điều này ở các ngân hàngBangkok Bank và Siam Commercial Bank (SCB) Tại Bangkok Bank chia thành hai

bộ phận độc lập với nhau là bộ phận tiếp nhận, giải quyết hồ sơ và bộ phận thẩmđịnh Còn tại Siam commercial Bank thì xây dựng mô hình tổ chức triển khai dịch vụtín dụng theo nguyên tắc phân định rõ trách nhiệm của 3 bộ phận: marketing kháchhàng, thẩm định và quyết định cho vay

Thứ hai, tuân thủ nghiêm ngặt các vấn đề có tính nguyên tắc trong tín dụng Rấtnhiều ngân hàng của Thái Lan trước đây chỉ quan tâm đến tài sản thế chấp, khôngquan tâm đến dòng tiền của khách hàng vay Vì thế, hậu quả tín dụng là nợ xấu có lúclên tới 40% (1997 - 1998) Sở dĩ có điều này là do một số ngân hàng đã không tuânthủ nghiêm ngặt các nguyên tắc tín dụng trong quá trình cho vay Nhưng giờ đây,nhiều ngân hàng không chỉ triệt để chấp hành nguyên tắc tín dụng mà còn quan tâmrất nhiều đến thông tin của khách hàng như: tư cách, hiệu quả kinh doanh, mục đíchvay, dòng tiền và khả năng trả nợ, khả năng kiểm soát vay, năng lực quản trị và điềuhành, thực trạng tài chính

Thứ ba, tiến hành cho điểm khách hàng (Credit Scoring) để quyết định cho vay.Điển hình cho hình thức này là Siam city bank hay Kasikorn bank

Thứ tư, tuân thủ thẩm quyền phán quyết tín dụng Theo đó, họ quy định việcquyết định tín dụng theo mức tăng dần: mức phán quyết của một người, một nhómngười hay hội đồng quản trị Ví dụ: >10 triệu Baht: 1 người chịu trách nhiệm; = 100triệu Baht: phải qua 2 người chịu trách nhiệm; = 3 tỷ Baht phải do HĐQT quyết định.Thứ năm, giám sát khoản vay Sau khi cho vay, ngân hàng rất coi trọng việckiểm tra, giám sát các khoản vay bằng cách tiếp tục thu thập thông tin về khách hàng,thường xuyên giám sát và đánh giá xếp loại khách hàng để có biện pháp xử lý kịp

Trang 29

thời các tình huống rủi ro.

1.3.3.3 Bài học có thể vận dụng đối với các đơn vị trực thuộc của ngân hàng thương mại

Từ những kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại ởViệt Nam và Thái Lan có thể rút ra một số bài học đối với các đơn vị trực thuộc củangân hàng thương mại như sau:

Chất lượng tín dụng quan trọng hơn là tìm những cơ hội mới

Ngân hàng không phải là nơi kinh doanh bằng việc cung cấp những khoản vốnrủi ro Phần lớn nguồn vốn của ngân hàng là những khoản tiền gửi ngắn hạn của dân

cư Vào những thời điểm mở rộng tín dụng cho vay, người ta dễ bỏ qua những quychế cho vay về chất lượng tín dụng và thường mở rộng cho vay trung dài hạn Nhưvậy khi có rủi ro xảy ra, những khoản cho vay dài hạn sẽ khó lòng thu được về để trảcho những khoản tiền gửi ngắn hạn Theo đuổi chính sách mở rộng tín dụng bằngcách nới lỏng những quy định về đảm bảo an toàn, chất lượng tín dụng sẽ mang lạicho ngân hàng nhiều tổn thất hơn là lợi nhuận

Tuân thủ nghiêm ngặt các vấn đề có tính nguyên tắc trong tín dụng

Các ngân hàng phải quan tâm và thực hiện triệt để các nguyên tắc tín dụng, đặcbiệt là các thông tin về khách hàng Cụ thể khi khách hàng đến vay vốn, các bộ phậnliên quan trong ngân hàng phải giải đáp các vấn đề như: tư cách của người vay, hiệuquả hoạt động kinh doanh của khách hàng, mục đích khoản vay, nguồn trả nợ, khảnăng kiểm soát khoản vay của ngân hàng, năng lực quản trị điều hành của kháchhàng, thực trạng tài chính khách hàng trước khi quyết định cho vay

Để giải đáp các câu hỏi trên, ngân hàng phải phân tích tài chính, trong đó coitrọng đến dòng tiền và vòng thu hồi vốn đầu tư của khách hàng Việc phân tích tàichính phải kết hợp với nguyên nhân khách hàng vay, đánh giá được các phương diệnrủi ro ngành, rủi ro trong kinh doanh,…

Xây dựng các mô hình đánh giá khách hàng

Trang 30

Các mô hình đánh giá khách hàng là công cụ quyết định tự động đối với cáckhoản cho vay tiêu dùng, cho vay cá nhân đồng thời cũng là công cụ để nhận biết,định lượng những rủi ro có thể xảy ra đối với khách hàng và có biện pháp ứng xử kịpthời để giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng Việc xếp hạng khách hàng được thực hiệnđịnh kỳ sẽ trợ giúp cho ngân hàng quản lý hiệu quả chất lượng tín dụng của mình.

Xây dựng mô hình quản lý rủi ro tập trung và phân tách giữa các bộ phận

Quy trình tác nghiệp trong các hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tíndụng nói riêng thông thường được tách bạch thành 3 chức năng:

- Front office: cán bộ tín dụng tìm kiếm khách hàng, đề xuất khởi tạo giao dịchvới khách hàng và chuyển đến bộ phận tiếp theo

- Middle office: là bộ phận phân tích độc lập, phê duyệt giao dịch theo thẩmquyền hoặc trình cấp trên phê duyệt

- Back office: hỗ trợ các giao dịch front office, lưu trữ hồ sơ tài liệu giao dịch,theo dơi, báo cáo

Nếu áp dụng mô h́nh quản lư rủi ro phân tán, tức là từng bộ phận kinh doanh tựthực hiện nhiệm vụ quản lư rủi ro theo quy tŕnh, hay nói cách khác các bộ phận kinhdoanh đồng thời thực hiện các chức năng trên thì công tác quản lý rủi ro chưa thực sựphát huy hiệu quả, đây được xem như một sự vi phạm nguyên tắc quản lý rủi ro củamột ngân hàng hiện đại

Hoạt động quản lý rủi ro không đơn thuần chỉ là hoạt động của một bộ phận nào

đó mà phải được nhìn nhận là mô hình hoạt động của toàn ngân hàng

Trang 31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tóm lại, trong kinh doanh ngân hàng, việc đương đầu với rủi ro trong cho vay

là khó tránh khỏi, việc thừa nhận một tỷ lệ rủi ro tự nhiên trong hoạt động kinhdoanh ngân hàng là yêu cầu khách quan hợp lý Tuy nhiên vấn đề là làm thế nào đểquản lý rủi ro và hạn chế ở một tỷ lệ thấp nhất có thể chấp nhận được Chương 1trong luận văn đã khái quát các vấn đề cơ bản về rủi ro trong cho vay cũng như đềcập đến các biện pháp hạn chế rủi ro trong cho vay để làm cơ sở lý luận, sau đâyluận văn sẽ đề cập đến thực trạng về cho vay và rủi ro trong cho vay tại Ngân hàngTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội

Trang 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ CHO VAY VÀ RỦI RO TRONG

CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ

VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH BẮC HÀ NỘI

2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH BẮC HÀ NỘI

Năm 1990, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển được thành lập thay thế choNgân hàng Đầu tư và Xây dựng cũ

Đến ngày 15/10/2002, Chi nhánh thành lập từ việc tách khỏi chi nhánh Ngânhàng TMCP Đầu tư và Phát triển – Sở Giao dịch 1 để trở thành chi nhánh cấp 1 trựcthuộc Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển và được đặt tên là Ngân hàng TMCPĐầu tư và Phát triển – Chi nhánh Bắc Hà Nội

Ngày 30/11/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số TTG v/v phê duyệt phương án cổ phần hóa Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển.Trên cơ sở đó, ngày 23/04/2012, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã cóGiấy phép số 84/GP-NHNN v/v thành lập và hoạt động Ngân hàng thương mại cổphần (TMCP) Đầu tư và Phát triển Việt Nam Trên cơ sở chuyển đổi mô hình hoạtđộng, Hội đồng Quản trị đã ban hành Quyết định số 30/QĐ-HĐQT ngày01/05/2012 v.v thành lập chi nhánh, sở giao dịch thuộc Ngân hàng TMCP Đầu tư và

Trang 33

2124/QĐ-Phát triển Việt Nam và Chi nhánh được chính thức đổi tên thành Ngân hàng TMCPĐầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Bắc Hà Nội.

Trải qua nhiều thăng trầm cùng sự phát triển của đất nước, của Ngân hàngTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, sau nhiều lần đổi tên cũng như được bổ sung

về chức năng nhiệm vụ, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chinhánh Bắc Hà Nội là một trong những chi nhánh ngân hàng đóng vai trò quan trọngthúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước và là một chi nhánh lớn của hệ thốngBIDV Hiện nay, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Bắc

Hà Nội có trụ sở chính tại 137A- Nguyễn Văn Cừ - Quận Long Biên- Thành phố HàNội Tên đầy đủ tiếng Việt là: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam-Chi nhánh Bắc Hà Nội Tên đầy đủ tiếng Anh là: Joint Stock Commercial Bank forInvestment and Development of Viet Nam- North Ha Noi Branch

2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức

Trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa các ngân hàng và vớicác tổ chức phi tài chính khác, cũng như nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng củakhách hàng, đòi hỏi mỗi ngân hàng, mỗi chi nhánh đều phải không ngừng hoànthiện mình Do đó, từ khi đi vào hoạt động cho đến nay, Chi nhánh Bắc Hà Nội đãkhông ngừng phát triển và hoàn thiện về hệ thống và cơ cấu tổ chức của mình Hiệnnay mô hình tổ chức của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chinhánh Bắc Hà Nội như sau:

Trang 34

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển

Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội

Trang 35

2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh trong những năm gần đây

Sử dụng nhiều biện pháp huy động vốn, trong những năm qua Chi nhánh Bắc

Hà Nội đã đạt được kết quả sau:

Bảng 2.1 Huy động vốn tại BIDV Bắc Hà Nội

- Ngoại tệ quy đổi 1.758 39,08 1.530 33,81 1.405 29,05

(Nguồn:Báo cáo kết quả kinh doanh qua các năm của BIDV Bắc Hà Nội)

Trang 36

Nhìn bảng số liệu trên có thể thấy công tác huy động vốn của Chi nhánh có sựtăng trưởng đều qua các năm và huy động vốn dân cư có sự tăng trưởng rất tốt, nămsau cao hơn năm trước Năm 2014 tổng nguồn vốn huy động đạt được 4.837 tỷđồng, tăng so với năm 2013 là 312 tỷ đồng ( tương ứng chỉ tăng 6,9%); tăng 7,5%

so với năm 2012 Mặc dù năm 2013 và 2014 là những năm tương đối khó khăn đốivới nền kinh tế nói chung cũng như hoạt động ngân hàng nói riêng, đặc biệt là hoạtđộng huy động vốn nhưng với nỗ lực của tập thể Chi nhánh, BIDV Bắc Hà Nội vẫngiữ vững được nguồn huy động vốn, thậm chí còn có sự tăng trưởng

Xét về cơ cấu huy động vốn:

Nguồn vốn huy động từ dân cư còn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốnhuy động Tuy nhiên, nguồn vốn huy động từ dân cư mang tính ổn định cao hơnnguồn vốn huy động từ các tổ chức Đây là đặc điểm đặc thù của BIDV Bắc HàNội Do nằm trên địa bàn mà thu nhập của dân cư còn thấp hơn so với mặt bằngchung trên địa bàn Hà Nội và chịu sự cạnh tranh từ nhiều ngân hàng thương mạikhác Tuy nhiên, nguồn vốn huy động từ dân cư có sự gia tăng qua các năm và cótốc độ tăng trưởng ổn định- Đây là sự nỗ lực và cố gắng của cả đội ngũ cán bộ côngnhân viên trong Chi nhánh để gia tăng nguồn vốn huy động nói chung và nguồn vốn

từ dân cư nói riêng

Để làm rõ đặc điểm của nguồn vốn huy động tại BIDV Bắc Hà Nội cần xemxét đặc điểm của từng đối tượng huy động tại Chi nhánh:

Thứ nhất, tiền gửi của các tổ chức kinh tế: Trong những năm gần đây, Chi

nhánh mở rộng mạng lưới khách hàng bao gồm các doanh nghiệp lớn trong vàngoài địa bàn (các công ty liên doanh thuộc các khu công nghiệp trên đại bàn tỉnhThái Bình, Hải Dương, các công ty thuộc ngành đóng tàu trên địa bàn Hải Phòng,các công ty kinh doanh bất động sản trên địa bàn Hà Nội và TP Hồ Chí Minh,v.v…) nên đã thu hút được khối lượng tiền gửi lớn với chi phí thấp Đặc biệt, chinhánh Kho bạc Nhà nước Long Biên là một khách hàng quan trọng của Chi nhánh,quản lý tiền gửi của hai chi cục hải quan trên địa bàn nên số dư tiền gửi thường rấtlớn, chiếm trên 70% tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế

Trang 37

Thứ hai, tiền gửi từ dân cư: Chi nhánh không ngừng nỗ lực, củng cố và xây

dựng lòng tin đối với người dân bằng nhiều giải pháp nhằm khai thác tối đa nguồnvốn nhàn rỗi trong dân cư: tác phong phục vụ chuyên nghiệp, tận tình tại quầy, đadạng hóa các hình thức huy động vốn với nhiều kì hạn và lãi suất linh hoạt Nguồnvốn dân cư tương đối ổn định và tăng trưởng đều

Thứ ba, vay từ các tổ chức tín dụng khác: Chủ yếu là vay Hội sở BIDV,

nhưng lãi suất thường khá cao Trong thời gian qua, số vốn vay này chiếm tỷ trọngtương đối cao và đã tác động không nhỏ đến kết quả kinh doanh của Chi nhánh Dovậy, để cải thiện tình hình thu nhập hiện nay, Chi nhánh cần nâng cao khả năng tựhuy động vốn để giảm thiểu số vốn vay từ Hội sở BIDV

Xét về cơ cấu nguồn vốn theo kỳ hạn

Nhìn chung cơ cấu nguồn vốn ngắn hạn - trung dài hạn chiếm tỷ lệ tương đốiđồng đều qua các năm, năm 2014 tỷ trọng nguồn vốn ngắn hạn- trung dài hạn củaChi nhánh tương ứng là 60,62%- 39,38% Nguồn vốn huy động ngắn hạn có sự tăngtrưởng trong các năm gần đây, chiếm tỷ trọng tương ứng là trên 60% năm 2014, trên59% năm 2013 và trên 56% năm 2012; Trong khi đó, tỷ trọng nguồn vốn trung dài hạn

có xu hướng giảm nhẹ 43% năm 2012 xuống 40% năm 2013 và 39% năm 2014.Nguyên nhân chủ yếu do làn sóng tăng lãi suất huy động đặc biệt tại các kỳ hạnngắn để đảm bảo khả năng thanh khoản của các ngân hàng cùng với tâm lý kỳ vọnglãi suất tiếp tục tăng của người dân Tuy nhiên trong năm 2014 dưới tác động vềtrần lãi suất huy động của NHNN và sự linh hoạt trong các sản phẩm dài hạn củaBIDV tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên thì có sự dịch chuyển mạnh nguồn vốn dân cư

từ ngắn hạn sang trung dài hạn, trong khi đó nguồn vốn của TCKT bị sụt giảm nguồntiền gửi ngắn hạn nên năm 2014 tỷ trọng nguồn vốn không thay đổi nhiều

Xét về cơ cấu nguồn vốn theo loại tiền tệ

Tỷ trọng tiền gửi VND có xu hướng tăng trưởng qua các năm, năm 2012 tiềngửi VND chiếm gần 61%, tăng lên 66% năm 2013 và 71% trong năm 2014 đạt3.432 tỷ đồng Trong khi đó, tiền gửi ngoại tệ có xu hướng tăng trưởng thấp hơn, tỷtrọng giảm từ 39% năm 2012 xuống còn 33% năm 2013 và đến năm 2014 chỉ chiếm

Trang 38

29% Do trong giai đoạn này, tỷ giá ngoại tệ tương đối ổn định, mức lãi suất huyđộng USD được ấn định bởi lãi suất trần của NHNN nên nhu cầu gửi ngoại tệkhông hấp dẫn so với tiền gửi VND.

Nhìn chung, công tác huy động vốn luôn được Chi nhánh quan tâm và chútrọng phát triển, do đó kết quả đạt được là tương đối tốt So với các NHTM quốcdoanh thì sản phẩm huy động vốn của BIDV có tính cạnh tranh cao về giá cả và đadạng về sản phẩm Chi nhánh liên tục triển khai các chương trình huy động tiếtkiệm như: tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm siêu linh hoạt, lộcxuân may mắn… để thu hút khách hàng gửi tiền Ngoài ra, Chi nhánh còn triển khaitheo đợt các sản phẩm đặc thù như: Tiết kiệm dự thưởng, phát hành trái phiếu thôngthường và trái phiếu tăng vốn, phát hành chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, dài hạn, kỳphiếu… Bên cạnh đó, Chi nhánh cũng thường xuyên theo dõi diễn biến mặt bằng lãisuất trên địa bàn để đưa ra sản phẩm huy động vốn phù hợp, tiến hành các đợtquảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, treo băng rôn khẩu hiệu, phát

tờ rơi, tặng quà… trong các đợt huy động vốn

• Tình hình sử dụng vốn:

Bên cạnh hoạt động cho vay sẽ được tập trung phân tích ở mục 2.2.1, Chinhánh Bắc Hà Nội còn có các hoạt động khác, cụ thể như sau:

Hoạt động bảo lãnh

Bảo lãnh là một trong những sản phẩm được ngân hàng cung cấp từ năm 1995

và không ngừng mở rộng trong những năm gần đây với các hình thức đa dạng nhưbảo lãnh dự thầu, bảo lãnh chất lượng sản phẩm, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảolãnh hoàn trả tiền ứng trước, bảo lãnh phát hành trái phiếu v.v…Đến nay, cùng vớiviệc đa dạng hóa các loại hình bảo lãnh, Chi nhánh đã mở rộng thị trường, duy trìnền khách hàng cũ, tìm kiếm các khách hàng mới, số lượng khách hàng cùng doanh

số bảo lãnh đã tăng lên và đem lại nguồn thu nhập từ phí bảo lãnh đáng kể cho Chinhánh trong thời gian qua

Hoạt động thanh toán quốc tế

Sau hơn 10 năm Chi nhánh thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế và đã bướcđầu đáp ứng được nhu cầu của khách hàng và tìm kiếm được nhiều đối tác mới đáng

Trang 39

tin cậy như Tổng Công ty Cổ phần May 10, Công ty TNHH Vận tải thủy bộ Hải Hà,Công ty Cổ phần Tập đoàn Đại Cường, Cty TNHH Sợi Vĩ Sơn, Hoạt động thanhtoán quốc tế tại Chi nhánh cũng có sự tăng trưởng nhanh chóng đã góp phần làmtăng uy tín của ngân hàng và góp phần thúc đẩy sự phát triển của các hoạt độngkhác, cung cấp gói dịch vụ khép kín cho khách hàng Chi nhánh cũng đã tư vấn chokhách hàng trong việc lựa chọn các phương thức thanh toán quốc tế thuận tiện,nhanh chóng, chính xác cũng như cảnh báo các rủi ro trong hoạt động ngoại thương,thanh toán quốc tế Từ đó, góp phần làm tăng uy tín của ngân hàng và tạo sự tintưởng, tín nhiệm của khách hàng Thu phí dịch vụ thanh toán quốc tế tăng khánhanh trong những năm gần đây: 2012: 12 tỷ đồng, 2013: 13 tỷ đồng, năm 2014:14,6 tỷ đồng.

Hoạt động thanh toán trong nước

Đây là sản phẩm truyền thống và thường xuyên của bất cứ một ngân hàng nào.Hiện nay, Chi nhánh sử dụng 3 kênh thanh toán: Thanh toán bù trừ qua tài khoảntiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước, thanh toán bù trừ điện tử qua tài khoản tiền gửi tạiNgân hàng Nhà nước, thanh toán điện tử qua tài khoản tiền gửi tại BIDV Việt Nam.Kết quả đạt được: Thu phí dịch vụ thanh toán trong nước năm 2012 đạt 1,9 tỷ đồng

và 2013 thu được 2,7 tỷ đồng, năm 2014 thu được 4,1 tỷ đồng

Hoạt động kinh doanh ngoại tệ

Thu dịch vụ ròng từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ luôn chiếm tỷ trọng caotrên tổng thu dịch vụ ròng tại Chi nhánh (thường chiếm 1/3 tổng thu dịch vụ ròng)

Do đó, trong những năm qua Chi nhánh luôn chú trọng nâng cao đội ngũ cán bộ,tích cực cập nhật diễn biến của thị trường ngoại hối trong và ngoài nước, đảm bảothông tin một cách nhanh chóng chính xác, giúp Chi nhánh chủ động trong việc tưvấn cho khách hàng Năm 2012, tình hình tỷ giá ngoại tệ có nhiều biến động, tănggiảm đột ngột kéo theo sự gia tăng rủi ro cho cả khách hàng xuất khẩu lẫn nhậpkhẩu Tuy nhiên, với những sản phẩm kinh doanh ngoại tệ đa dạng mà BIDV đangcung cấp, Chi nhánh đã luôn đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu ngoại tệ của kháchhàng Năm 2013, thu phí dịch vụ từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ đạt mức 13,9 tỷđồng, năm 2014 đạt 12 tỷ đồng

Trang 40

2.1.2.2 Tình hình về lợi nhuận của chi nhánh

Là một chi nhánh cấp 1 của hệ thống Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triểnViệt Nam, Chi nhánh Bắc Hà Nội luôn luôn nhận thức được những cơ hội và tháchthức trong hoạt động kinh doanh và hội nhập kinh tế quốc tế Chi nhánh Bắc Hà Nộitọa lạc trên địa bàn Quận Long Biên- cửa ngõ phía Bắc của Thành phố Hà Nội, nơiđây có tốc độ phát triển kinh tế tương đối cao song cũng chịu sự cạnh tranh gay gắtcủa các tổ chức tín dụng trên địa bàn như: Ngân hàng TMCP Công thương có 3 chinhánh, 1 phòng giao dịch, 5 điểm giao dịch và 1 quỹ tiết kiệm, NH TMCP Ngoạithương có 1 chi nhánh, NH Nông nghiệp và Phát triển nông thôn VN có 4 chi nhánh

và 2 điểm giao dịch và mạng lưới hoạt động của 14 ngân hàng TMCP khác như:ACB, Techcombank, MB,…

Tuy nhiên, được sự lãnh đạo, chỉ đạo của BIDV Việt Nam, được sự quan tâmcủa các cấp chính quyền trên địa bàn, đặc biệt là sự hợp tác hiệu quả của kháchhàng và sự nỗ lực của tập thể cán bộ công nhân viên, Chi nhánh Ngân hàng TMCPĐầu tư và Phát triển Bắc Hà Nội đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong thờigian qua Khái quát hoạt động kinh doanh của BIDV Bắc Hà Nội trong thời gianvừa qua, cụ thể như sau:

Bảng 2.2 Kết quả kinh doanh của BIDV Bắc Hà Nội giai đoạn 2012 – 2014

Đơn vị: Tỷ đồng

(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh các năm của Chi nhánh Bắc Hà Nội)

Lợi nhuận sau thuế có xu hướng giảm qua các năm, năm 2014 lợi nhuận sauthuế còn 140 tỷ đồng Lý do có sự giảm sút như vậy là do nền kinh tế gặp nhiều khókhăn, nhiều doanh nghiệp bị phá sản đã ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh củacác ngân hàng thương mại nói chung và của chi nhánh Bắc Hà Nội nói riêng Đồngthời, năm 2014 Chi nhánh còn phải trích lập dự phòng rủi ro lớn nên lợi nhuận sauthuế của Chi nhánh bị giảm sút nhiều

Nhìn chung, hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Bắc Hà Nội là ổn định qua

Ngày đăng: 28/05/2016, 16:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chi nhánh Ngân hàng TMCP ĐT&PT Bắc Hà Nội (2012 - 2014), Báo cáo thường niên từ năm 2012 - 2014, Hà Nội Khác
2. Chi nhánh Ngân hàng TMCP ĐT&PT Bắc Hà Nội (2012 - 2014), Báo cáo tín dụng từ năm 2012- 2014, Hà Nội Khác
3. Ngân hàng TMCP ĐT&PT Việt Nam (2009), Quy định số 3999/QĐ- QLTD1 ngày 14/7/2009 của Tổng Giám đốc BIDV về trình tự thủ tục, thẩm quyền cấp tín dụng đối với khách hàng là doanh nghiệp, Hà Nội Khác
4. Ngân hàng Nhà nước (2001), Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 ban hành kèm theo quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng; Quyết định số 127/2005 ngày 03/02/2005 về sửa đổi bổ sung một số điều tại Quyết định số 1627, Hà Nội Khác
6. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2010), Luật các tổ chức tín dụng, Hà Nội Khác
7. Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010 của NHNN quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng Khác
8. Phan Thị Thu Hà (2009), Quản trị Ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Khác
9. NGƯT., TS.Tô Ngọc Hưng (2009), Giáo trình Ngân hàng thương mại , Nhà Xuất bản Thống kê, Hà Nội Khác
10. PGS, TS. Nguyễn Văn Tiến (2010), Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Khác
11. Peter S.Rose (2002), Quản trị ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản tài chính, Hà Nội Khác
12. Frederic S.Mishkin (2003), Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chinh, Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển - Giải pháp hạn chế rủi ro trong cho vay tại BIDV chi nhánh bắc hà nội
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển (Trang 34)
Bảng 2.1  Huy động vốn tại BIDV Bắc Hà Nội - Giải pháp hạn chế rủi ro trong cho vay tại BIDV chi nhánh bắc hà nội
Bảng 2.1 Huy động vốn tại BIDV Bắc Hà Nội (Trang 35)
Bảng 2.3. Kết quả hoạt động cho vay của BIDV - Chi nhánh Bắc Hà Nội - Giải pháp hạn chế rủi ro trong cho vay tại BIDV chi nhánh bắc hà nội
Bảng 2.3. Kết quả hoạt động cho vay của BIDV - Chi nhánh Bắc Hà Nội (Trang 41)
Bảng 2.4: Cơ cấu tín dụng theo loại tiền, kỳ hạn giai đoạn 2012-2014 - Giải pháp hạn chế rủi ro trong cho vay tại BIDV chi nhánh bắc hà nội
Bảng 2.4 Cơ cấu tín dụng theo loại tiền, kỳ hạn giai đoạn 2012-2014 (Trang 42)
Bảng 2.5: Dư nợ vay theo ngành nghề tại BIDV Bắc Hà Nội - Giải pháp hạn chế rủi ro trong cho vay tại BIDV chi nhánh bắc hà nội
Bảng 2.5 Dư nợ vay theo ngành nghề tại BIDV Bắc Hà Nội (Trang 44)
Bảng 2.8: Nợ quá hạn trong cho vay tại BIDV Bắc Hà Nội giai đoạn 2012-2014 - Giải pháp hạn chế rủi ro trong cho vay tại BIDV chi nhánh bắc hà nội
Bảng 2.8 Nợ quá hạn trong cho vay tại BIDV Bắc Hà Nội giai đoạn 2012-2014 (Trang 50)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w