1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm hình thái và dinh dưỡng của cá dìa tro (siganus fuscescens houttuyn,1782) ở vùng biển hà tiên – kiên giang

47 997 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 589,86 KB

Nội dung

- Phương pháp số lượng: Phương pháp này được thực hiện bằng cách đếm các loại thức ăn hiện diện trong ống tiêu hóa của cá và được tính theo 4 cách khác nhau.. + Phương pháp tần số xuất h

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

PHẠM THỊ MỸ LINH

ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ DINH DƯỠNG CỦA CÁ DÌA

TRO (Siganus fuscescens Houttuyn, 1782) Ở VÙNG BIỂN HÀ

TIÊN – KIÊN GIANG

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH SINH HỌC BIỂN

2011

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

BỘ MÔN THỦY SINH HỌC ỨNG DỤNG

PHẠM THỊ MỸ LINH

ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ DINH DƯỠNG CỦA CÁ DÌA

TRO (Siganus fuscescens Houttuyn, 1782) Ở VÙNG BIỂN

HÀ TIÊN – KIÊN GIANG

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH SINH HỌC BIỂN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN ThS: NGUYỄN BẠCH LOAN

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại Học Cần Thơ, Ban chủ nhiệm Khoa Thủy Sản đã tạo điều kiện thuận lợi cho em được học tập nâng cao kiến thức và triển khai thực hiện đề tài trong thời gian qua

Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến cô Nguyễn Bạch Loan đã hướng dẫn tận tình và đóng góp ý kiến quý báu giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này Xin cảm ơn thầy Vũ Ngọc Út – Trưởng bộ môn Thủy sinh học ứng dụng, cô Dương Thị Hoàng Oanh – Cố vấn học tập lớp Sinh Học Biển khóa 33 đã tận tình dìu dắt, động viên, giúp đỡ mọi mặt trong suốt quá trình học tập để em đạt được kết quả như hôm nay

Xin được gởi lời cảm ơn đến:

+ Thầy Nguyễn Văn Thường, thầy Trần Đắc Định, đã đóng góp ý kiến và tạo mọi điều kiện thuận lợi để luận văn tốt nghiệp của em hoàn thành

+ Thầy Hà Phước Hùng, anh Nguyễn Bá Quốc, anh Tô Công Tâm, anh Nguyễn Thiện Nam đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho quá trình tiến hành thu và phân tích mẫu thực hiện đề tài này

+ Quý thầy cô, cán bộ Khoa Thủy Sản đã tận tâm truyền đạt kiến thức trong suốt thời gian học tập tại trường cũng như tạo mọi điều kiện cho em hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Cảm ơn những lời động viên tinh thần, sự giúp đỡ và những ý kiến đóng góp của các bạn lớp Sinh Học Biển khóa 33 trong suốt khoảng thời gian học tập và thực hiện luận văn

Sau cùng, xin cảm ơn điểm tựa vững chắc của tôi: gia đình, người thân, bạn bè, những người luôn động viên khích lệ, luôn tạo điều kiện thuận lợi giúp em vượt qua khó khăn thử thách trong cuộc sống cũng như trong học tập để hoàn thành khóa học và luận văn tốt nghiệp này

XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN!

Trang 4

TÓM TẮT

Cá dìa tro (Siganus fuscescens) thuộc họ Siganidae, là loài cá có giá trị kinh tế

cao, thịt ngon được người dân ưa chuộng, nhưng hiện nay chưa thấy nhiều nghiên cứu công bố Nghiên cứu này được thực hiện, nhằm thu thập thêm thông

tin về các chỉ tiêu hình thái và dinh dưỡng của cá dìa tro (Siganus fuscescens),

cung cấp cơ sở cho các nghiên cứu về ương nuôi, góp phần phát triển nghề nuôi

cá lợ mặn ở đồng bằng sông Cửu Long

Mẫu cá được thu định kỳ mỗi tháng một lần từ tháng 10/2010 – 6/2011, ở vùng biển Hà Tiên – Kiên Giang Mẫu cá sau khi thu, được trữ lạnh chuyển về phân tích tại phòng thí nghiệm nguồn lợi khoa Thủy sản (Đại học Cần Thơ)

Sau khi quan sát 67 mẫu cá dìa tro cho thấy, đặc điểm hình thái bên ngoài cá như sau: vây lưng D: XIII,10; vây hậu môn A: VII,9; vây bụng V: II,3 Màu cơ bản của cơ thể cá là màu xám ở phần lưng chuyển dần sang bạc ở dưới bụng

Miệng cá nhỏ; răng hàm dày, khít; ruột cuộn, dài gấp 3,4 lần dài chuẩn, kết hợp kết quả nghiên cứu dinh dưỡng của 34 mẫu cá, bằng phương pháp: Tần suất xuất hiện, đếm điểm cho thấy phổ dinh dưỡng của cá, chủ yếu thiên về thực vật Thức

ăn chủ yếu trong ống tiêu hóa là rong biển và tảo khuê chiếm tỉ lệ cao 33,83%,

3,24%

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM TẠ i

TÓM TẮT iv

MỤC LỤC v

DANH SÁCH BẢNG vi

DANH SÁCH HÌNH viii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii

Phần 1: GIỚI THIỆU 1

1.1.Giới thiệu 1

1.2 Mục tiêu 2

1.3 Nội dung của đề tài 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Phân loại 3

2.2 Phân bố và môi trường sống 5

2.3 Đặc điểm hình thái của cá dìa 7

2.4 Đặc điểm dinh dưỡng và sinh sản 10

2.5 Phương pháp xác định tập tính dinh dưỡng của cá 11

2.5.1 Tương quan giữa chiều dài ruột và chiều dài chuẩn 11

2.5.2 Phương pháp phân tích thức ăn trong ruột cá 11

Phần 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

3.1 Vật liệu nghiên cứu 14

3.1.1 Mẫu vật 14

3.1.2 Dụng cụ, vật tư và hóa chất 14

3.2 Phương pháp nghiên cứu 14

3.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 14

3.2.2 Phương pháp thu và xử lí mẫu 15

3.3 Phương pháp phân tích mẫu 15

3.3.1 Đặc điểm hình thái phân loại bên ngoài cơ thể 15

3.3.2 Đặc điểm hình thái giải phẩu các cơ quan bên trong 16

3.3.3 Đặc điểm dinh dưỡng 16

3.3.4 Phương pháp xử lí số liệu 18

Phần 4: KẾT QUẢ & THẢO LUẬN 19

4.1 Đặc điểm hình thái 19

4.1.1 Đặc điểm hình thái phân loại 19

4.1.2 Các chỉ tiêu hình thái phân loại bên ngoài của cá dìa tro 20

4.1.3 Đặc điểm hình thái màu sắc – hoa văn 22

4.2 Đặc điểm hình thái giải phẩu của cá dìa tro (Siganus fuscescens) 23

4.2.1 Đặc điểm cơ quan thuộc hệ hô hấp 23

4.2.3 Đặc điểm các cơ quan thuộc hệ sinh dục 24

4.2.1 Đặc điểm của các cơ quan thuộc hệ tiêu hóa 25

4.3 Đặc tính dinh dưỡng của cá dìa tro Siganus fuscescens 29

4.3.1 Tương quan chiều dài ruột 29

4.3.2 Phân tích phổ dinh dưỡng của cá dìa tro 30

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 35

5.1 Kết luận 35

Trang 6

5.2 Đề xuất 35

TÀI LIỆU THAM KHẢO 36 PHỤ LỤC 39

Trang 7

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 2.1 Môi trường sống của một số loài cá dìa 6

Bảng 2.2 Đặc điểm hình thái chung của họ cá dìa Siganidae 8

Bảng 4.1 Các đồng danh của cá dìa tro 20

Bảng 4.2 Các chỉ tiêu hình thái của cá dìa tro 20

Bảng 4.3 Số lượng lược mang của các loài cá dìa 27

Bảng 4.4 Mối tương quan chiều dài và chiều dài tổng 29

Bảng 4.5 Tần suất xuất hiện (TSXH) thức ăn trong ống tiêu hóa của cá dìa tro 31

`

Trang 8

DANH SÁCH HÌNH

Hình 2.1 Hình thái phân loại cá dìa (FAO, 2001) 7

Hình 2.2 Hình thái cá dìa Siganus 8

Hình 3.1 Bảng đồ vị trí địa lí của Kiên Giang (www.kiengiang.org.vn) 15

Hình 4.1 Hình dạng bên ngoài của cá dìa tro 19

Hình 4.2 Siganus fuscessen 22

Hình 4.3 Siganus doliatus ( FAO, 2001) 22

Hình 4.4 Cấu tạo mang cá dìa tro 24

Hình 4.5 Hình dạng bóng hơi 24

Hình 4.6 Hình thái giải phẩu của cá dìa tro .26

Hình 4.7 Hình dạng miệng và răng của cá dìa tro 26

Hình 4.8 Lược mang trên cung mang thứ nhất 27

Hình 4.9 Hình dạng dạ dày cá dìa tro 28

Hình 4.10 Hệ tiêu hóa của cá dìa tro 29

Hình 4.11 Tần suất xuất hiện thức ăn trong ống tiêu hóa của cá dìa tro .31

Hình 4.12 Thành phần dinh dưỡng đặc điểm của cá dìa tro theo phương pháp đếm điểm 32

Hình 4.13 Kết quả phân tích thành phần thức ăn của cá dìa theo phương pháp tần suất xuất hiện và đếm điểm 33

Trang 9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long

RLG: Relative length of gut

TSXH: Tần suất xuất hiện

MBHC: Mùn bã hữu cơ

Trang 10

Phần 1: GIỚI THIỆU 1.1.Giới thiệu

Việt Nam là quốc gia có tiềm năng phát triển thủy sản mạnh Nhờ những ưu đãi của thiên nhiên, với đường bờ biển kéo dài 3.260 km, khu đặc quyền kinh tế rộng hơn 1 triệu km2, hàng ngàn đảo lớn nhỏ và nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa Vì vậy, khu hệ cá nước ta không những phong phú đa dạng về thành phần loài mà sản lượng khai thác hàng năm cũng rất lớn góp phần đưa Thủy sản trở thành một trong ngành kinh tế mũi nhọn (Hoàng Đức Đạt, 2007)

Hiện nay, xuất khẩu thủy sản là một trong những ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam Nhưng việc đánh bắt quá mức đã làm cho nguồn lợi thủy sản giảm sụt nghiêm trọng Từ đó, những vấn đề cấp thiết và quan trọng trong việc khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy sản được nảy sinh Trên thực tế đó, việc nghiên cứu phát triển đối tượng nuôi mới với những loài bản địa có triển vọng về kinh tế cần được tiến hành một cách rộng rãi, mà bước đầu là đi vào nghiên cứu về sinh học, để có những kiến thức sinh học cần thiết làm tư liệu cho các nghiên cứu tiếp theo Lĩnh vực này cần được tiến hành phổ biến trong cả nước Trong đó, đồng bằng sông Cửu Long là một trong khu vực trọng điểm

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong những vùng đồng bằng châu thổ rộng lớn nhất nước ta với diện tích gần 4 triệu ha có hệ thống sông ngòi chằng chịt, đường bờ biển dài và diện tích mặt nước rộng, làm cho nguồn lợi thủy sản trở nên đa dạng và phong phú, thúc đẩy nghề khai thác thủy sản ở đây phát triển mạnh, góp phần đáng kể vào sản lượng thủy sản cả nước Theo số liệu của tổng cục thống kê 2010, đóng góp vào GDP của ngành thủy sản từ năm 2003

- 2009 tăng từ 30602,3 tỷ đồng lên 52798,2 tỷ đồng Phần lớn được đóng góp từ những đối tượng nuôi quan trọng đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu như: cá chình, cá tra, cá basa, tôm sú, tôm càng xanh, nghêu trắng Bến Tre… Ngoài ra, còn có một số loài cá có giá trị kinh tế cao khác, nhưng chỉ được khai thác trong tự nhiên như: cá nâu, cá chạch lấu, cá bông lau, cá sửu,…, cá dìa tro một loài có sản lương lớn

Cùng với sự phong phú và đa dạng thành phần loài cá, hiện nay khi điều kiện môi trường thay đổi do những hoạt động đánh bắt và khai thác mang tính hủy diệt làm cho nguồn lợi cá ở Hà Tiên nói riêng, ĐBSCL và cả nước nói chung đã giảm rõ rệt, gây suy thoái nghiêm trọng đối với nguồn lợi tự nhiên ảnh hưởng đến đời sống của người dân Bên cạnh đó, các nghiên cứu đánh giá về thành phần loài cá chưa được phát triển rộng, gây khó khăn cho việc xác định được trữ lượng

cá tại các bãi khai thác cũng như có biện pháp bảo vệ và phát triển các loài cá có

Trang 11

được người dân ưa chuộng (Lê Văn Dân, 2006), có tốc độ sinh trưởng khá nhanh, sống trong môi trường rộng muối (1‰ – 35‰) (Võ Văn Phú, 2001) Tuy nhiên, loài cá này chỉ khai thác trong tự nhiên và chưa có nhiều nghiên cứu được công

bố Xuất phát từ thực tế trên nên đề tài “Đặc điểm hình thái và dinh dƣỡng của

cá dìa tro (Siganus fuscescens Houttuyn,1782) ở vùng biển Hà Tiên – Kiên

Giang” được thực hiện

1.2 Mục tiêu

Thu thập thêm thông tin về các chỉ tiêu hình thái và dinh dưỡng của cá dìa tro

(Siganus fuscescens) nhằm cung cấp cơ sở cho các nghiên cứu về ương nuôi, góp

phần phát triển nghề nuôi cá lợ mặn ở đồng bằng sông Cửu Long

1.3 Nội dung của đề tài

1 Đặc điểm hình thái của cá dìa tro (Siganus fuscescens Houttuyn,1782)

- Đặc điểm hình thái phân loại

- Đặc điểm hình thái giải phẩu các cơ quan bên trong cơ thể cá thuộc hệ tiêu hóa,

hệ hô hấp và hệ niệu – sinh dục

2 Đặc tính dinh dưỡng của cá dìa tro

- Phương pháp tần số xuất hiện

- Phương pháp đếm điểm

- Phổ dinh dưỡng

Trang 12

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Bộ Cá vược Perciformes, bao gồm khoảng 40% các loài cá xương và là bộ lớn

nhất trong số các bộ của động vật có xương sống (Wikipedia, 2011), bao gồm trên 7.000 loài khác nhau, với kích thước và hình dáng đa dạng có 72 bộ 152 họ (Fishbase, 2011), ở đồng bằng sông Cửu Long phổ biến có 5 bộ phụ (Nguyễn Bạch Loan, 2004) phân bố hầu hết ở các thủy vực nươc ngọt, lợ, mặn Bộ này có rất nhiều loài có giá trị kinh tế cao và có nhiều nghiên cứu (Nguyễn Hữu Phụng, 1997) Những nội dung nghiên cứu về cá dìa và các vấn đề có liên quan được tổng hợp và trình bày dưới đây :

Giống Siganus (Forsskal, 1775)

Loài Siganus fuscescens (Houttuyn, 1782)

Trên thế giới hiện nay, họ cá dìa Siganidae chỉ có một giống là Siganus

(Forsskal, 1775) (Vương Dĩ Khang, 1963)

Theo FAO, 2001 thì giống này có 21 loài như sau:

Trang 13

Siganus guttatus (Bloch, 1787)

Siganus argenteus (Quoy và

Gaimard, 1825)

Siganus canaliculatus (Park, 1797)

Siganus corallinus (Valenciennes,

1835)

Siganus doliatus (Cuvier, 1830)

Siganus fuscescens (Houttuyn, 1782)

Siganus javus ( Linnaeus, 1766)

Siganus labyrinthodes (Bleeker,

1853)

Siganus lineatus (Valenciennes,

1835)

Siganus niger ( Woodland, 1990 )

Siganus puellus ( Schlegel, 1852)

Siganus punctatissimus (Fowler và

Bean,1929) Siganus virens (Schneider, 1801) Siganus randalli (Woodland, 1990) Siganus spinus (Linnaeus, 1758) Siganus stellatus (Forsskål, 1775) Siganus unimaculatus (Evermann và Seale, 1907)

Siganus uspi (Gawel và Woodland, 1974)

Siganus vermiculatus (Valenciennes, 1835)

Siganus virgatus (Valenciennes, 1835)

Siganus vulpinhus Schlegel và

Müller, 1845

Tuy nhiên, theo Itis (2011) và Fishbase (2011) thì giống cá dìa Siganus (Forsskal,

1775) có đến 36 loài Ngoài những loài trên còn có thêm 15 loài như sau:

Siganus chrysospilos (Bleeker, 1852)

Siganus concatenatus (Cuvier and Valenciennes, 1835)

Siganus corallinus (Cuvier and Valenciennes, 1835)

Siganus hexagonatus (Bleeker, 1854)

Siganus luridus (Rüppell, 1829)

Siganus magnificus (Burgess, 1977)

Siganus marmoratus (Quoy and Gaimard, 1825)

Siganus nebulosus (Quoy and Gaimard, 1825)

Siganus oramin (Bloch and Schneider, 1801)

Siganus puelloides (Woodland and Randall, 1979)

Siganus rivulatus (Forsskål, 1775)

Trang 14

Siganus rostratus (Valenciennes in Cuvier and Valenciennes, 1835)

Siganus sutor (Valenciennes in Cuvier and Valenciennes, 1835)

Siganus trispilos (Woodland and Allen, 1977)

Siganus tumifrons (Valenciennes in Cuvier and Valenciennes, 1835)

Theo Nguyễn Hữu Phụng, 1997 thì ở Việt Nam có khoảng 14 loài thường xuất

hiện ở vùng biển ven bờ Bắc và Trung bộ Cá dìa tro S fuscescens là loài thường được bắt gặp nhất, ngoài ra còn những loài thường xuất hiện như: Siganus virgatus, S coralllinus, S javus, S guttatus, S.doliatus

Một đặc điểm quan trọng của các loài thuộc giống này là sự khác biệt ở số lượng các gai, tia của các vây không nhiều Vì vậy, đặc điểm hình thái dùng để phân loại các loài thuộc giống này là: vết sẹo ở đầu, hình dạng và màu sắc hoa văn

trên cơ thể cá (Speed et al., 2007; Hồ Văn Tiến et al., 2007) Theo Nguyễn

Phong Hải (2007), định loại cá dìa thường dựa vào khóa phân loại FAO (2001), Fishbase (2011), ) Itis (2011) và Vương Dĩ Khang (1963)

2.2 Phân bố và môi trường sống

Các loài cá thuộc giống cá dìa Siganus (Forsskal,1775) là những loài rộng muối,

trong môi trường từ nước lợ đến nước mặn (Võ Văn Phú, 2001) Chúng thường sống ở vùng nước ấm thuộc Đông Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương như: Quần đảo Andaman, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Việt Nam, Ryukyu, miền Nam và Đông Trung Quốc và Tây Đài Loan, Philippines và Palau (Fishbase, 2010; Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2006) Cá dìa thường rất dễ phân biệt với các loài cá khác bằng gai vây lưng và gai vây bụng đặc biệt nhiều (Vương Dĩ Khang, 1963)

Cá dìa tro Siganus fuscescens sống ở vùng ven bờ nước cạn, nơi có độ sâu

khoảng 1,6 m, phân bố từ vùng nước lợ nhạt đến vùng nước mặn (từ 1‰ – 35‰) chịu được độ mặn thấp Cá con trú ở vùng rong biển gần các cửa sông, cá lớn theo thủy triều đi vào hoặc ra các sông, nhưng cũng có ở những vùng nước sâu tới 6 m có rạn đá ngầm gần bờ (Võ Văn Phú, 2001) Nền đáy là cát bùn hay rạn

đá Một số loài phân bố ở vùng biển sâu hơn thậm chí có nơi có độ sâu đến 50m (Park, 1797) thường tìm thấy loài này từ Vịnh Ba Tư đến vùng In đô - Mã Lai, phía bắc Quần đảo Ryukyu và phía nam của nửa bắc Australia Việc xác định các loài cá dìa rất khó vì sự khác nhau về hình thái giữa chúng rất ít Các mô tả hiện

có về sự khác nhau giữa các loài phụ thuộc chủ yếu vào màu sắc của cá sống Chúng ta có thể phân biệt chúng dựa vào các đặc điểm về tập tính, màu sắc và

nơi sống (www.longdinh.com)

Trang 15

Bảng 2.1: Môi trường sống của một số loài cá dìa

Siganus guttatus Cá con sống quanh năm ở

rễ cây, bóng râm rừng ngập mặn, vịnh nước nông hoặc cửa sông

Cá trưởng thành sống ven biển, nhưng thường ra vào các song ngòi và cửa sông

Burgan and Zseleczky

1979, Schultz và cộng sự

1953 Alcala 1979, Herre 1953; Soh and Lam 1973

Siganus fuscescens Dải đá ngầm, vùng nước

nông có nhiều thực vật đáy hoặc vùng nước ven

Paz and Aragones, 1960; Kurup and Samuel 1985; Here, 1953, de Beaufort and Chapmn, 1951

Trang 16

Ở Việt Nam, giống cá dìa phân bố ở tất cả các vùng biển ven bờ do chúng có thể chịu được sự thay đổi độ mặn khá rộng, nồng độ tối ưu cho sự phát triển và sống còn của các loài là 10‰, chúng cũng chịu được nồng độ oxy thấp và sự thay đổi nhiệt độ giữa 23-260

C Cá dìa con thường được thu thập được nhiều ở các vùng

gần bãi cỏ biển và các vùng rạn Ngoài ra, cá dìa tro Siganus fuscescens phân bố

ở các vùng biển ven bờ, ở các dãy đá và vùng có nhiều thực vật (Woodlan in

Lam 1974, Okada, 1966), cá dìa công Siganus guttatus phân bố ở các vùng biển ven bờ từ vịnh Bắc bộ đến vịnh Thái Lan, chỉ có loài Siganus argentus được bắt

gặp ở ngoài khơi đại dương (Nguyễn Hữu Phụng, 1997)

2.3 Đặc điểm hình thái của cá dìa

Đặc điểm chung giúp phân biệt họ cá dìa Siganidae với các họ cá khác trong bộ Perciformes được một số tác giả miêu tả như sau:

Hình 2.1 Vị trí phân bố của cá dìa tro trên thế giới (http://www.aquamaps.org)

Trang 17

Bảng 2.2 Đăc điểm hình thái chung của họ cá dìa Siganidae

- Cơ thể hình bầu dục dài, dẹp hai bên

- Miệng bé, không thể co duỗi được

- Răng hàm dày, có hai chóp, ba chóp hay có

Nguyễn Phong Hải, 2007

- Vây lưng và vây hậu môn có rất nhiều gai

cứng

- Vây bụng có hai gai cứng

- Đầu không phủ vảy, giới hạn ở phần má

FAO, 2001

Họ cá dìa Siganidae chỉ có một giống Siganus (Vương Dĩ Khang, 1963 và FAO, 2001) Trước đây, cá dìa được xếp vào giống là Teuthis nhưng Woodlad (1973)

đã đề nghị đổi tên thành giống Siganus Họ cá dìa được Vương Dĩ Khang; FAO,

2001 mô tả như sau:

Hình 2.2 Hình thái giống cá dìa Siganus (Nguyễn Phong Hải, 2007)

D: XIII, 10 A: VII, 9 V: II, 3

Trang 18

Thân hình bầu dục dài và dẹt 2 bên, có vẩy tròn rất nhỏ, dài và mỏng; hai bên đầu

ít nhiều đều có vẩy; đường bên đơn giản và hoàn toàn Mỗi bên lõm đều có hai cái lỗ mũi

Miệng nhỏ ở trước không co duỗi, xương hàm trước không có cuống; hai hàm mỗi hàm đều có một hàm răng cắt yếu, dẹt hai bên và nhỏ, răng có hai chóp, ba chóp hoặc hơi có khía lõm

Vây lưng có XIII gai khỏe và sắp xếp xen kẻ, ít nhiều đều dẹt trước sau và 10 tia mềm phân nhánh Trước gốc gai vây lưng thứ nhất có một gai nhọn chĩa ra phía trước, ở trên cổ xuyên ra ngoài da Vây hậu môn gồm có VII gai và 9 tia vây (rất hiếm khi các cá thể khác nhau về số gai, tia vây lưng và vây hậu môn), gốc tia vây của vây hậu môn dài bằng bộ phận tia vây của vây lưng; vây ngực hình tròn lớn vừa; vây bụng ở dưới ngực có hai gai, một gai phía trong của nó có màng liền với bộ phận bụng, một gai khác ở phía ngoài; có 3 tia vây chia nhánh, ở giữa hai

gai Vây đuôi bằng phẳng hoặc lõm vào trong hoặc chia náng Vảy tròn và rất

nhỏ, thỉnh thoảng ở vùng ngực và bụng, và nếu có ở đầu thì chỉ giới hạn ở vùng dưới ổ mắt trên má

Các loài sống trong rạn san hô thường có màu sáng và sặc sỡ, các loài khác ít màu hơn và khi chết thường nổi đốm nâu (Nguyễn Phong Hải, 2007)

Trong Ngư loại phân loại học (1963), Vương Dĩ khang đã tận dụng vào nhiều chỉ tiêu hình thái để phân loại Bộ cá vược được phân loại dựa vào bóng hơi của cá thuộc họ này không có ống; vây có gai, xương hàm thường không tham gia vào việc làm thành viền trên của vạch miệng Vây lưng do hai bộ phận làm thành: một bộ phận do gai làm thành, một bộ phận do tia vây làm thành, hoặc rời ra hoặc liền lại với nhau, vây bụng phần nhiều ở dưới bụng, cũng có lúc ở dưới họng hoặc dưới cằm, cũng có một số ít hơi ở sau vây ngực, phần nhiều do một gai và 5 tia vây làm thành Đầu và mắt đều đối xứng; vây đuôi thường không quá

17 tia Ngoài những đặc điểm chung đó còn có đặc điểm riêng để phân biệt thành

các phụ bộ Phụ bộ cá dìa Siganoidei, vây bụng trong ngoài đều có một cái gai và

tia vây của vây hậu môn có 7 gai (FAO,2001) Ngoài ra, khi khoa học kỹ thuật phát triển thì những phương pháp phân loại hiện đại ra đời, dùng kỹ thuật photo-

ID để nhận biết các loài động vật ở ngoài tự nhiên dựa vào đặt điểm hình thái học

như vết sẹo trên đầu, hình dạng và màu sắc (Speed et al., 2007; Hồ Văn Tiến et al., 2007) Kỹ thuât photo-ID được sử dụng như là công cụ phân loại và nghiên cứu tập tính sống của hai loài cá dìa Siganus javus và Siganus guttatus Màu sắc

của từng cá thể của cả hai loài được kiểm tra trong suốt quá trình quan sát với các dấu hiệu nhận dạng dựa vào màu sắc được sử dụng để đánh giá chính xác Hơn thế nữa, dấu hiệu hay hoa văn trên cơ thể cũng có thể giúp chúng ta xác định sự

Trang 19

giống và khác nhau của các cá thể Chú ý đến những đặc điểm hình thái, các nhà ngư loại học không quên dùng những đặc điểm giải phẩu để phân loại nhiều loài cá: bóng hơi, manh tràng hạ vị, kích thước trứng, số lượng đốt sống,… Pravdin (1973) cũng đã đưa hình dạng bóng hơi và mối tương quan giữa phần trước và

phần sau (những cá thuộc họ cá chép có bóng hơi gồm 2 túi, ở cá Rutilus rutilus bóng hơi hơi tù, ở cá Rutilus frisii bóng hơi lại nhọn) Hình dạng và chiều dài của

mấu lồi của bóng hơi của cá tuyết là những đặc điểm tốt để phân biệt cá tuyết Đại Tây Dương và cá tuyết Thái Bình Dương hay đếm số lượng các manh tràng hạ vị việc điếm này tương đối khó phải ngâm cồn 70o

C hoặc formol sau đó dùng kẹp

để đếm Số lượng và đặc điểm của que mang cá trong thời gian gần đây càng ngày càng được các nhà ngư loại học chú ý (Pravdin, 1880)

Đối với công tác nghiên cứu ngư loại học, việc xác định tính đực cái của cá chiếm một vị trí quan trọng trong phân loại Chỉ có một số loài cá mới có sự khác nhau về hình dạng bên ngoài của con đực và con cái Sự khác nhau về sinh dục trong thời gian đẻ trứng là thuộc tính của một số loài cá Những con cá hồi trong đàn cá đẻ trứng thì có mõm dài hơn con cái và có vây bụng dài hơn vây ngực Cá chép trong thời kỳ sinh sản thì có một số loài cá đực có vẩy rất đẹp gọi là “áo cưới’’, cũng có thể dùng ống thăm trứng để xác định tính đực cái Nhưng thông thường thì phải giải phẩu cá mới xác định được tính được tính đực cái dựa vào

các giai đoạn phát triển của buồng trứng có VI giai đoạn (Rahman et al., 2000 )

2.4 Đặc điểm dinh dƣỡng và sinh sản

Theo Võ Văn Phú (2001) giống cá dìa có tốc độ sinh trưởng nhanh, nhóm này chủ yếu ăn thực vật Tuy nhiên, lúc còn nhỏ đa phần đều ăn mồi động vật, cá con

ăn động - thực vật phù du từ ấu trùng đến tảo nhỏ, hai loài ăn chủ yếu là bọt biển

và các loài thân mềm không cuống (Nguyễn Phong Hải, 2007) Cá trưởng thành thì ăn rong biển thô và tảo có lớp vôi ngoài, và thỉnh thoảng ăn cỏ biển Chúng ăn rong biển trên các tản đá như rong bún, và cỏ biển (Trần Ngọc Hải, 2006) Tuy là loài ăn thực vật, nhưng trong điều kiện nuôi nhốt cá vẫn có thể ăn nhiều loại thức

ăn khác nhau có nguồn gốc từ thực vật và động vật đặc biệt là chúng cũng phát triển tốt khi ăn thức ăn công nghiệp (Hồ Thị Bích Ngân, 2006)

Cá con của loài cá dìa Siganus canaliculatus (Park, 1797) sống thành đàn rất lớn

ở những vịnh cạn, và trên những lớp rạn san hô; càng lớn thì đàn cá nhỏ dần, chia thành nhóm khoảng 20 cá thể trưởng thành Vào khoảng kỳ sinh sản, thường sinh sản rộ nhất vào tháng 6- 8 (Võ Văn Phú, 1995) thì xuất hiện những đàn lớn hơn

Trong khi đó cá dìa công S guttatus sống chủ yếu ở vùng ven bờ nước cạn; cá

con trú ở vùng rong biển gần các cửa sông, cá lớn theo thủy triều đi vào hoặc ra các sông; nhưng cũng có ở những vùng nước sâu tới 6 m có rạn đá ngầm gần bờ

Trang 20

Chúng sống theo đàn suốt quãng đời, số lượng cá thể trong đàn từ 10 đến 15 con Loài cá này chủ yếu ăn tảo đáy, thức ăn ưa thích là các loài rong biển như rong

bún (Enterophorma prolifera) Sự sinh sản ở các loài sống theo đàn là phối đôi từ

trong đàn vào các giai đoạn nhất định trong tuần trăng Cá dìa sống theo bầy đàn vĩnh viễn, đẻ trứng kết dính Một số loài cá dìa có khả năng thành thục trong trạng thái nuôi nhốt nếu điều kiện môi trường thuận lợi và đầy đủ thức ăn, thông thường là sau một năm và có sự khác nhau giữa các loài Kích cỡ khi thành thục vào khoảng 10-16 cm Vì vậy, việc nghiên cứu sinh sản của loài này cũng rất thuận lợi Cá dìa là loài có giá trị kinh tế cao nên đã được chú trọng nghiên cứu sinh sản bằng những phương pháp hiện đại như phương pháp ELISA, đánh giá sự tái tổ hợp của hormone GH kích thích sinh trưởng ở cá (Md Saydur Rahman, 2000) và hàng loạt các nghiên cứu về sinh sản được công bố bởi Lê Văn Dân (2006), Trương Thế Quang (2008)

2.5 Phương pháp xác định tập tính dinh dưỡng của cá

2.5.1 Tương quan giữa chiều dài ruột và chiều dài chuẩn

Một chỉ số thường được sử dụng để xác định tính ăn của cá là chỉ số tương quan giữa chiều dài ruột và chiều dài thân RLG (Relative length of gut) Giá trị RLG không những thay đổi giữa các loài khác nhau mà còn thay đổi trong từng cá thể theo từng giai đoạn phát triển và được tính như sau:

Theo nhận định của Trần Đắc Định và Phạm Thanh Liêm (2004) khi RLG <1: cá thuộc nhóm ăn động vật, chỉ số này lớn hơn 1 cá ăn thiên về nhóm ăn thực vật Giá trị RLG dao động quanh giá trị trung bình cá thuộc nhóm ăn tạp

Còn theo nhận định của Nikolxki (1963): Li/Ls ≤ 1: cá ăn động vật, Li/Ls = 1-3:

cá ăn tạp, Li/Ls ≥ 3: ăn tạp thiên về thực vật

2.5.2 Phương pháp phân tích thức ăn trong ruột cá

Thức ăn và tập tính ăn là những thông tin quan trọng trong ngành nuôi trồng thủy sản Các nghiên cứu về thức ăn và tập tính dinh dưỡng của cá thì rất phức tạp và đòi hỏi nhiều công đoạn phân tích trong phòng thí nghiệm Do không quan sát trực tiếp tập tính bắt mồi của cá trong tự nhiên được nên để xác định tập tính dinh dưỡng của cá cách tốt nhất là phân tích thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa của

Theo Trần Đắc Định và Phạm Thanh Liêm (2004) có nhiều phương pháp phân

RLG = Chiều dài ruột / chiều dài chuẩn

Trang 21

- Phương pháp số lượng: Phương pháp này được thực hiện bằng cách đếm các loại thức ăn hiện diện trong ống tiêu hóa của cá và được tính theo 4 cách khác nhau

+ Phương pháp tần số xuất hiện: Phương pháp này được mô tả như phương pháp phân tích định tính các loại thức ăn cũng như cho biết tần suất của từng loại thức

ăn riêng biệt xuất hiện trong ruột cá Trong phương pháp này số lượng ống tiêu hóa hiện diện từng loại thức ăn riêng biệt được quy đổi ra phần trăm (%) trên tổng số ống tiêu hóa cá được quan sát Phương pháp này được tiến hành theo 2 bước

Bước 1: Tất cả các loại thức ăn hiện diện trong các mẫu quan sát sẽ được liệt kê thành một danh sách, sau đó sự hiện diện hay không có mặt của mỗi loại thức ăn trong từng ống tiêu hóa sẽ được ghi nhận lại

Bước 2: Số lượng ống tiêu hóa có sự hiện diện của mỗi loại thức ăn sẽ được cộng lại, cách tính tương tự cho tất cả các loại thức ăn còn lại, sau đó sẽ được tính ra phần trăm (%) trên tổng số mẫu quan sát

Công thức xác định tần số xuất hiện:

Trong đó:

Pi: Tần số xuất hiện loài i trong ống tiêu hóa cá

Ni: Số lượng mẫu chứa loài thứ i trong ống tiêu hóa cá

N: Tổng số lượng mẫu

Phương pháp này cho phép định tính thành phần thức ăn và tần số xuất hiện của mỗi loại thức ăn trong tổng số mẫu quan sát từ kết quả đó cho phép suy đoán được tính ăn của cá

+ Phương pháp số lượng: Trong phương pháp này số lượng của mỗi loại thức ăn

sẽ được ghi nhận và được tính thành % trên tổng số các loại thức ăn hiện diện trong ống tiêu hóa Phương pháp này rất có hiệu quả khi nghiên cứu trên nhóm cá

ăn sinh vật nổi, tuy nhiên khi nghiên cứu trên nhóm cá ăn tạp thì phương pháp này sẽ bộc lộ nhược điểm do không chú ý đến kích cỡ khác nhau của các loại thức ăn

+ Phương pháp tính nhóm thức ăn ưu thế: Phương pháp này giống phương pháp tính tần số xuất hiện Sự khác biệt ở đây thay vì ghi nhận tất cả các loại thức ăn hiện diện trong ống tiêu hóa thì chỉ có loại thức ăn hay nhóm thức ăn chiếm ưu thế trong ống tiêu hóa được ghi nhận Sau đó, số lượng ống tiêu hóa có sự hiện diện của loại thức ăn hay nhóm thức ăn ưu thế sẽ được tính thành % trên tổng số

Pi = Ni / N

Trang 22

mẫu cá quan sát Yếu điểm chính của phương pháp này là nhóm thức ăn mà cá ưa thích nhất có thể bắt gặp với số lượng nhỏ do các tác động của môi trường, trong khi đó một nhóm thức ăn khác sẽ vượt trội hơn và trở thành nhóm thức ăn ưu thế, gây sự khó khăn trong việc đánh giá chính xác tập tính dinh dưỡng của loài + Phương pháp đếm điểm: Đây là sự kết hợp giữa số lượng và kích thước để đánh giá về mặt khối lượng của thức ăn Điểm số của mỗi loại thức ăn phụ thuộc vào:

Tần số xuất hiện: Thức ăn thường xuất hiện sẽ có điểm số cao nhất, thức ăn ít xuất hiện sẽ có điểm số thấp hơn

Kích cỡ thức ăn: Thức ăn kích cỡ lớn sẽ có điểm cao hơn thức ăn cỡ nhỏ

Điểm số cho tất cả các loại thức ăn sẽ được kết hợp lại và được tính ra % trên tổng điểm số các loại thức ăn có trong khẩu phần ăn của cá

- Phương pháp thể tích: Phương pháp này được xem là thỏa mãn và chính xác hơn trong việc phân tích ống tiêu hóa của cá Thực tế có 3 cách phân tích

+ Phương pháp ước lượng bằng mắt: Trong phương pháp này, thức ăn trong mỗi mẫu ruột cá được đưa về cùng một đơn vị thể tích và mỗi loại thức ăn được tính ra % theo thể tích (Pearse, 1915; Pillay, 1952) Thức ăn trong mỗi ruột

cá trước tiên được cho vào một thể tích nhất định, lắc thật mạnh để thức ăn được phân tán đều trong nước Sau đó lấy một giọt mẫu và quan sát dưới kính hiển vi Diện tích bị chiếm của mỗi loại thức ăn được xác định theo đơn vị mà người quan sát qui ước Mỗi mẫu ruột cá quan sát ít nhất 10 giọt, sau đó lấy giá trị trung bình cho mỗi loại thức ăn

+ Phương pháp tính điểm: Phương pháp này cơ bản giống với pương pháp ước lượng bằng mắt, tuy nhiên thay cho việc ước lượng diện tích mỗi loại thức

ăn được ước định bằng điểm số căn cứ trên thể tích của chúng

+ Phương pháp thay thế: Phương pháp này được xem là chính xác nhất trong các phương pháp thể tích Trong phương pháp này thể tích của mỗi loại thức ăn được đo bằng thể tích nước bị thay thế bởi thể tích thức ăn trong một ống

xi lanh (ống đong) Phương pháp này thích hợp trong việc phân tích dạ dày của các loài cá ăn thịt Thể tích của mỗi loại thức ăn cũng được tính thành % trên tổng thể tích dạ dày

- Phương pháp trọng lượng: Tương tự phương pháp thể tích, tuy nhiên thay cho việc xác định thể tích thức ăn thì trọng lượng khô của mẫu và của mỗi loại thức ăn sẽ được xác định, sau đó tính ra tỷ lệ % trên tổng trọng lượng mẫu quan sát

Trang 23

Phần 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Vật liệu nghiên cứu

- Bàn đo cá, thước đo kỹ thuật

- Giấy bóng mờ, viết chì, viết lông dầu

- Cân điện tử

- Bộ dụng cụ giải phẩu: Pel, dao mổ, kéo giải phẩu, kim và ống tiêm

- Thùng nhựa, thau nhựa, cal nhựa, khay nhựa, thùng trữ lạnh

- Găng tay, khẩu trang, kính nhựa

- Máy chụp hình, kính lúp

- Formon công nghiệp 37%

- Kính hiển vi, kính lúp sinh vật

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

3.2.1.1 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trong thời gian từ tháng 10/2010 đến tháng 05/2011

3.2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm thu mẫu: Mẫu cá phục vụ cho nghiên cứu được thu ở ba chợ Hà Tiên, Kiên Lương và Bình An thuộc vùng biển Hà Tiên – tỉnh Kiên Giang (Hình 3.1)

Ngày đăng: 16/12/2015, 07:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Môi trường sống của một số loài cá dìa - Đặc điểm hình thái và dinh dưỡng của cá dìa tro (siganus fuscescens houttuyn,1782) ở vùng biển hà tiên  – kiên giang
Bảng 2.1 Môi trường sống của một số loài cá dìa (Trang 15)
Hình 2.1 Vị trí phân bố của cá dìa tro trên thế giới (http://www.aquamaps.org) - Đặc điểm hình thái và dinh dưỡng của cá dìa tro (siganus fuscescens houttuyn,1782) ở vùng biển hà tiên  – kiên giang
Hình 2.1 Vị trí phân bố của cá dìa tro trên thế giới (http://www.aquamaps.org) (Trang 16)
Bảng 2.2. Đăc điểm hình thái chung của họ cá dìa Siganidae - Đặc điểm hình thái và dinh dưỡng của cá dìa tro (siganus fuscescens houttuyn,1782) ở vùng biển hà tiên  – kiên giang
Bảng 2.2. Đăc điểm hình thái chung của họ cá dìa Siganidae (Trang 17)
Hình 3.1 Địa điểm thu mẫu (www.kiengiang.org.vn) - Đặc điểm hình thái và dinh dưỡng của cá dìa tro (siganus fuscescens houttuyn,1782) ở vùng biển hà tiên  – kiên giang
Hình 3.1 Địa điểm thu mẫu (www.kiengiang.org.vn) (Trang 24)
Hình 4.1. Hình dạng bên ngoài của cá dìa tro - Đặc điểm hình thái và dinh dưỡng của cá dìa tro (siganus fuscescens houttuyn,1782) ở vùng biển hà tiên  – kiên giang
Hình 4.1. Hình dạng bên ngoài của cá dìa tro (Trang 28)
Bảng 4.1. Các đồng danh của cá dìa tro Siganus fuscescens - Đặc điểm hình thái và dinh dưỡng của cá dìa tro (siganus fuscescens houttuyn,1782) ở vùng biển hà tiên  – kiên giang
Bảng 4.1. Các đồng danh của cá dìa tro Siganus fuscescens (Trang 29)
Hình 4.3. Siganus doliatus  ( FAO, 2001) - Đặc điểm hình thái và dinh dưỡng của cá dìa tro (siganus fuscescens houttuyn,1782) ở vùng biển hà tiên  – kiên giang
Hình 4.3. Siganus doliatus ( FAO, 2001) (Trang 31)
Hình 4.6. Hình thái giải phẩu của cá dìa tro - Đặc điểm hình thái và dinh dưỡng của cá dìa tro (siganus fuscescens houttuyn,1782) ở vùng biển hà tiên  – kiên giang
Hình 4.6. Hình thái giải phẩu của cá dìa tro (Trang 35)
Bảng 4.3. So sánh số lượng lược mang của  một số loài cá dìa - Đặc điểm hình thái và dinh dưỡng của cá dìa tro (siganus fuscescens houttuyn,1782) ở vùng biển hà tiên  – kiên giang
Bảng 4.3. So sánh số lượng lược mang của một số loài cá dìa (Trang 36)
Hinh 4.9. Hình dạng dạ dày cá dìa tro - Đặc điểm hình thái và dinh dưỡng của cá dìa tro (siganus fuscescens houttuyn,1782) ở vùng biển hà tiên  – kiên giang
inh 4.9. Hình dạng dạ dày cá dìa tro (Trang 37)
Bảng 4.4. Mối tương quan chiều dài ruột và chiều dài chuẩn  (Li/Ls) - Đặc điểm hình thái và dinh dưỡng của cá dìa tro (siganus fuscescens houttuyn,1782) ở vùng biển hà tiên  – kiên giang
Bảng 4.4. Mối tương quan chiều dài ruột và chiều dài chuẩn (Li/Ls) (Trang 38)
Hình 4.10. Hệ tiêu hóa của cá dìa tro - Đặc điểm hình thái và dinh dưỡng của cá dìa tro (siganus fuscescens houttuyn,1782) ở vùng biển hà tiên  – kiên giang
Hình 4.10. Hệ tiêu hóa của cá dìa tro (Trang 38)
Hình 4.11. Tần số xuất hiện thức ăn trong ống tiêu hóa cá dìa tro - Đặc điểm hình thái và dinh dưỡng của cá dìa tro (siganus fuscescens houttuyn,1782) ở vùng biển hà tiên  – kiên giang
Hình 4.11. Tần số xuất hiện thức ăn trong ống tiêu hóa cá dìa tro (Trang 40)
Bảng 4.5. Tần số xuất hiện (TSXH) thức ăn trong ống tiêu hóa của cá dìa tro - Đặc điểm hình thái và dinh dưỡng của cá dìa tro (siganus fuscescens houttuyn,1782) ở vùng biển hà tiên  – kiên giang
Bảng 4.5. Tần số xuất hiện (TSXH) thức ăn trong ống tiêu hóa của cá dìa tro (Trang 40)
Hình 4.13. Kết quả phân tích thành phần thức ăn của cá theo phương - Đặc điểm hình thái và dinh dưỡng của cá dìa tro (siganus fuscescens houttuyn,1782) ở vùng biển hà tiên  – kiên giang
Hình 4.13. Kết quả phân tích thành phần thức ăn của cá theo phương (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w