Cùng với xu hướng đổi mới trong quá trình dạy học, đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự giác chủ động sáng tạo của học sinh kĩ năng vận dụng vào thực tiễn, tác độn
Trang 1MỤC LỤC Trang
1 Lí do chọn đề tài 2
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu……… 2
3 Mục đích nghiên cứu……… 2
4 Các phương pháp nghiên cứu……… 3
5 Điểm mới, tính sáng tạo của đề tài……… 3
Phần II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1 Cơ sở lí luận ……… 4
2 Thực trạng của vấn đề……… 4
3 Các biện pháp tiến hành để giải quyết vấn đề.… 5
4 Hiệu quả của SKKN……… ……… 9
Phần III KẾT LUẬN 1 Kết luận……… 11
2 Kiến nghị, đề xuất….……… 11
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Phương pháp dạy học là những hình thức và cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt được mục đích dạy học
Trang 2Cùng với xu hướng đổi mới trong quá trình dạy học, đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự giác chủ động sáng tạo của học sinh kĩ năng vận dụng vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, tạo hứng thú học tập cho học sinh, khắc phục lối truyền thụ một chiều các kiến thứ sẵn có Nếu không có những bài giảng và phương pháp hợp lý phù hợp với thế hệ học trò dễ làm cho học sinh thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận Đã có hiện tượng một số bộ phận học sinh không muốn học hoá học, ngày càng lạnh nhạt với giá trị thực tiễn của hoá học
Nhiều giáo viên chưa quan tâm đúng mức đến đối tượng giáo dục Hiện tượng dùng đồng loạt cùng một cách dạy, một bài giảng cho nhiều lớp, nhiều thế
hệ học trò là không ít Với phương pháp giảng dạy này, nhiều khi người giáo viên đã trở thành người cảm nhận, truyền thụ tri thức một chiều
Vì vậy, tại các trường phổ thông các phương pháp dạy học đã được thường xuyên thay đổi sử dụng hợp lý cho từng bài dạy nhằm đạt hiệu quả tốt hơn Đặc biệt môn hoá học là một bộ môn đòi hỏi học sinh có kiến thức liên kết nhiều phần, nội dung phần học trước dùng để vận dụng, giải thích hoặc dự đoán kiến thức cho phần nội dung kiến thức sau
Trong qua trình giảng dạy, thăm lớp dự giờ đồng nghiệp và đặc biệt dựa trên kết quả kiểm tra, đánh giá thường xuyên và kết quả bộ môn cuối năm các năm học, nhìn chung điểm số của học sinh còn thấp, học sinh chưa biết cách khai thác vận dụng và lên kết các nội dung kiến thức đã học vào làm bài kiểm tra để có kết quả cao
Tôi thấy với mỗi bài dạy nếu có phương pháp dạy học phù hợp sẽ giúp học sinh hiểu bài, vận dụng kiến thức của bài học tốt hơn Chính vì vậy tôi viết
đề tài “Sử dụng phương pháp Grap trong dạy học hóa học 10 nhằm rèn luyện tư duy cho học sinh THPT ” nhằm nêu ra phương pháp dạy học có thể
vận dụng vào việc dạy học nhằm mục đích tới :
- Bồi dưỡng năng lực tự học, học suốt đời, học để nâng cao trình độ chuyên môn, học để chuyển đổi nghề nghiệp…
- Rèn luyện kĩ năng vận dụng và liên kết các nội dung kiến thức đã học
để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong đời sống, lao động và sản xuất
- Khích lệ học sinh phát huy tính chủ động trong việc chiếm lĩnh tri thức, phát huy tính sáng tạo trong việc vận dụng kiến thức để giải quyết tình huống
có vấn đề nảy sinh trong học tập và trong thực tiễn
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đề tài được viết trong quá trình dạy học, rút ra một số kinh nghiệm từ công tác giảng dạy tại trường THPT Số 1 SaPa
- Đối tượng áp dụng: Nghiên cứu đại trà cho học sinh bậc trung học phổ thông lớp 10 của nhà trường
- Thời gian từ tháng 10 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Giúp học sinh nhận thức: dễ học, dễ nhớ, vận dụng bài tốt hơn nhất là đối với học sinh dân tộc vùng cao của Trường THPT số 1 Sa pa nói riêng và tỉnh Lào Cai nói chung xưa nay vẫn coi các môn tự nhiên là môn khó, đặc biệt là bộ
Trang 3môn Hóa học Mặt khác còn giúp học sinh thêm yêu thích bộ môn Hoá học hơn Học sinh có cái nhìn tổng thể khái quát, biết được mối quan hệ khăng khít giữa các kiến thức cơ bản giữa các phần
4 Các phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu
- Thực hành các tiết dạy cụ thể
- Phân tích - tổng hợp và so sánh
5 Điểm mới tính sáng tạo của đề tài
- Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động dạy và học ở trường THPT
- Kết hợp được các phương tiện dạy học cho hiệu quả rõ rệt
- Học sinh nhận thức tốt hơn, nhớ được nhiều kiến thức hơn, không nhầm
lẫn các đơn vị kiến thức với nhau Có khả năng vận dụng vào giải toán, chất lượng thi tốt nghiệp tăng hơn trước Không những xây dựng cho học sinh kiến thức mới mà còn dạy cho học sinh cách học, cách liên kết kiến thức, ý nghĩa của các phần học trước đó
- Giúp học sinh biết vận dụng phương pháp này vào giải bài tập hoá học góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Hóa học và các bộ môn học khác
PHẦN II: NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận.
Năm 1970 vận dụng quy luật phát hiện về sự chuyển hoá phương pháp khoa học thành phương pháp dạy học Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang đã chuyển hoá phương pháp Grap toán học thành phương pháp dạy học thông qua sử lí sư phạm
Trang 4Trong việc chuyển hoá phương pháp Grap toán học thành phương pháp Grap dạy học chúng ta căn cứ và vận dụng tư tưởng cơ bản của lí thuyết Grap đó
là nguyên lí về cấu trúc Grap
Grap bao gồm một tập hợp không rỗng E những yếu tố gọi là đỉnh và một tập hợp những yếu tố gọi là cạnh Mỗi yếu tố của A là một cặp (không xếp theo thứ tự) những yếu tố rõ rệt của E
Có thể phát biểu như sau: Grap là một tập hợp hữu hạn các điểm (gọi là các đỉnh) tập hợp các đoạn đường cong hay thẳng gọi là cạnh Trong đó các đỉnh thường được kí hiệu là A,B,C…, đường nối hai đỉnh gọi là cạnh
Dạy học là một hoạt động rất phức tạp Lý thuyết Grap sẽ giúp giáo viên quy hoạch được quá trình dạy học trong toàn bộ cũng như từng mặt hoạt động của nó
Áp dụng phương pháp Grap vào phương pháp dạy học ta có thể:
-Xây dựng Grap cho một nội dung dạy học, cho một khái niệm, một bài toán hoá học
-Dùng phương pháp Grap và tiếp cận phương pháp mođun vào lí luận để giải bài toán hoá học
- Dùng để thiết kế một quy trình công nghệ châo một bài toán hoá học
- Dùng Grap nội dung để dạy học trên lớp về hoá học hoặc xây dựng phương án tối ưu cho chương trình môn học
* Nguyên tắc cơ bản của việc xây dựng Grap nội dung:
Dựa vào nội dung dạy học (khái niệm, định luật học thuyết bài học) chọn kiến thức chủ chốt (kiến thức cơ bản cần và đủ về cấu trúc ngữ nghĩa) đặt chúng vào đỉnh của Grap Nối các đỉnh vào nhau bằng những đường cong theo logic dẫn xuất tức là theo sự phát triển bên trong của nội dung đó
2 Thực trạng của vấn đề:
Trong quá trình giảng bài giáo viên cũng có thể đặt ra các câu hỏi liên hệ kiến thức cũ với kiến thức mới đang học Tuy nhiên học sinh có mức độ kiến thức trung bình và yếu có khả năng liên kết kiến thức còn chưa nhanh thì tìm ra mối quan hệ còn chậm Hoặc sau bài học học sinh sẽ không còn nhớ về mối liên
hệ giữa các kiến thức trong bài
Chất lượng thi tốt nghiệp, và đặc biệt chất lượng thi đại học môn Hóa học ở trường THPT Số 1 Sa pa hiện nay vẫn còn thấp so với các trường trong tỉnh Bản thân tôi luôn trăn trở: Mình phải làm gì để góp một phần nhỏ để giải quyết thực trạng trên Qua nhiều năm công tác tôi nhận thấy: Bản thân cần phải thường xuyên tu dưỡng rèn luyện, bồi dưỡng chuyên môn nhiều hơn nữa, nghiên cứu tìm phương pháp giảng dạy tối ưu nhất để học sinh hiểu bài hơn, nhằm nâng cao chất lượng bộ môn Hóa học cũng như nâng cao trình độ chuyên môn cho chính bản thân mình và nâng cao chất lượng giảng dạy của bộ môn và giáo dục toàn diện
* Thuận lợi:
- Sở GD & ĐT Lào Cai có văn bản chỉ đạo hướng dẫn cụ thể, chi tiết ngay
từ đầu năm học
Trang 5- Được sự quan tâm của lãnh đạo nhà trường, tổ chuyên môn khi bản thân đưa ra ý tưởng và đề nghị thực hiện SKKN
- Giáo viên có kiến thức chuyên môn vững vàng và có thâm niên trong công tác giảng dạy
- Học sinh đã có kiến thức bộ môn ở cấp THCS và đã có phương pháp học tập bộ môn Có tinh thần thái độ và ý thức học tập tốt
- Trình độ nhận thức của các học sinh trong lớp tương đối đồng đều
* Khó khăn:
- Chất lượng đầu vào còn thấp, kiến thức lớp dưới còn bị rỗng nhiều.
- Hóa học là bộ môn khoa học thực nghiệm tương đối khó nên các em có tâm lý chung là “ sợ” và không thích bộ môn này
- Quá trình nhận thức và tiếp thu của học sinh còn chậm đặc biệt là các
em học sinh dân tộc người thiểu số ở các xã
- Một bộ phận không nhỏ học sinh chưa thưc sự dành nhiều thời gian cho việc tự học bài và chuẩn bị bài ở nhà
- Cơ sở vật chất nhà trường còn chưa thực sự đảm bảo tốt cho quá trình dạy và học ( thiếu phòng học phải học hai ca, đồ dùng dạy học bộ môn còn thiếu đồng bộ )
3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề.
* Bước 1: Xây dựng Grap thô
- Giáo viên đưa ra các nội dung chính cơ bản dựa theo chuẩn kiến thức
chuẩn kỹ năng của bài học
- Yêu cầu học sinh chuẩn bị bài theo định hướng của giáo viên ( Cần lưu
giao bài phù hợp với năng lực của học sinh)
- Cùng học sinh liên kết các nội dung trong giờ học
* Bước 2: Xây dựng Grap chi tiết trên cơ sở hướng đi từ grap thô
- Thực hiện các tiến trình bài giảng nhằm xây dựng đầy đủ cho grap chi tiết
* Bước 3:
- Tiến hành kiểm tra đánh giá sau khi áp dụng giảng dạy
- Rút kinh nghiệm, điều chỉnh sau khi áp dụng cho các tiết sau
Dưới đây tôi xin đơn cử một ví dụ:
Xây dựng nội dung bài giảng Clo (chương trình lớp 10 cơ bản) theo phương pháp truyền thống và theo Grap
3.1 Nội dung bài giảng Clo (chương trình lớp 10 cơ bản) theo phương
pháp truyền thống được trình bày lần lượt như sau:
CLO
I, Tính chất vật lí:
- Clo là chất khí màu vàng lục, mùi xốc và độc
- Nặng hơn không khí, tan được trong nước, tan nhiều trong dung môi hữu cơ
II, Tính chất hoá học:
Tính chất hoá học cơ bản của clo là tính oxi hoá mạnh.
Cl2 + 2e → 2Cl
Trang 6-1, Tác dụng với kim loại:
2M + nCl2 → 2MCln
Ví dụ: 2 Nao + Cl2o → 2Na+Cl
2 Fe + 3Cl2→ 2 FeCl3
Cu + Cl2 → CuCl2
2, Tác dụng với hiđro
H2o + Cl2o → 2H+1Cl-1 Trong phản ứng với kim loại và hiđro, clo thể hiện tính oxi hoá mạnh
3, Tác dụng với nước:
H2O + Clo
2 ↔ HCl-1 + HCl+1O axit hipoclorơ
HClO axit yếu, có tính oxi hoá mạnh (của Cl + )
→Nước Clo có tính tẩy màu
III, Trạng thái tự nhiên:
- Có hai đồng vị bền 35Cl, 37Cl
- Chỉ tồn tại ở dạng hợp chất
IV.Ứng dụng:
- Dùng để tẩy trắng vải, giấy và điều chế những chất để diệt trùng, tẩy trắng như clorua vôi, nước gia ven
- Trong công nghiệp một lượng lớn clo dùng để sản xuất axit clohiđríc, dược phẩm, dung môi hữu cơ, những chất diệt trùng trong nông nghiệp, chất dẻo, tơ và cao su nhân tạo
V Đi ề u ch ế :
-TPTN: Chất oxi hoá mạnh + HCl đặc
vd: MnO2 + 4HCl → MnCl2 +Cl2 + 2H2O
-TCN: Điện phân dung dịch NaCl bão hoà có màng ngăn
2NaCl + 2H2O → 2NaOH + H2 + Cl2
Chúng ta có thể xây dựng nội dung kiến thức theo phương pháp Grap như sau:
3 2 Xây dựng Grap cho nội dung bài dạy Clo (chương trình 10 cơ bản)
cho một giờ dạy
a, Grap thô: Giới thiệu chung về bài Clo
Trang 7b, Grap nội dung chi tiết
I, Tính chất vật lí II, Tính chất hoá học
III, Trạng thái tự nhiên
IV, ứng dụng
V, Điều chế
Trang 8Nhận xét:
- Để cho bài soạn và giảng hoàn thành và học sinh ghi chép dễ dàng, dễ học thì giáo viên phải xây dựng hoặc định hướng ( học sinh khá) hoặc phát trước cho học sinh( học sinh Tb và yếu) khung chứa các đỉnh của của grap chi tiết
- Nên giao phần chuẩn bị kiến thức bài học cụ thể và phù hợp với mỗi loại đối tượng học sinh để tránh gây hiện tượng học sinh không làm được dẫn đến tình trạng ngại và lười
- Hiện nay với sự hỗ trợ của bài giảng điện tử thì phương pháp này thực hiện càng thuận lợi hơn và đạt hiệu quả cao hơn
KHHH: Cl STT : 17
KLNT: 35,5
CHe : 1s22s22p63s23p5
CTPT : Cl2
I, Tính chất vật lí:
-Chất khí, màu vàng, xốc, độc
-Nặng hơn không khí
-Tan vừa trong nước,tan trong
dung môi hữu cơ
III, Trạng thái tự nhiên:
-Có hai đồng vị bền 35Cl, 37Cl
-Chỉ tồn tại ở dạng hợp chất
IV, Ứng dụng:
-Diệt trùng, tẩy trắng
-Sx HCl, dung môi hữu cơ chứa
clo…
V, Điều chế:
-TPTN: Chất oxi hoá mạnh + HCl đặc
vd: MnO2 + 4HCl → MnCl2 +Cl2 + 2H2O -TCN: Điện phân dung dịch NaCl bão hoà có màng ngăn
2NaCl + 2H2O → 2NaOH + H2 + Cl2
1, Tác dụng với kim
loại:
2M + nCl2 → 2MCln
n số oxihoa cao nhất của M
2, Tác dụng với
H2:
H2 + Cl2 → 2HCl
( khí)
II, Tính ch ấ t hoá h ọ c:
KHHH: Cl2 + 2e → 2Cl
Trong phản ứng với kim loại và với hidro Clo thể hiện tính oxi hoá mạnh
3, Tác dụng với nước:
H2O + Cl2o ↔ HCl-1 + HCl+1O
axit hipoclorơ
HClO axit yếu, có tính oxi hoá mạnh (của
Cl + )
→Nước Clo có tính tẩy màu
C
ấ u t ạ o phân t ử
Cl : Cl Cl – Cl Liên kết cộng hoá trị không cực
Trang 94 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Với nội dung phương pháp như trên tôi áp dụng thực hiện dạy giảng dạy một số tiêt ở một số lớp 10 trường THPT Số 1 Sa pa và thu được kết quả tương đối khả quan Xây dựng cho học sinh hiểu nội dung bài học, biết vận dụng và liên kết được kiến thức đã học, biết giải quyết vấn đề mới
Đối tượng áp dụng là ba lớp 10A2, 10A3, 10A4 trường THPT Số 1 Sa pa.Theo khảo sát chất lượng đầu năm, học sinh lớp 10A4 được coi là khá hơn so với 10A2 và 10A3 Lớp 10A3 được giảng dạy xây dựng nội dung lần lượt theo từng đề mục trong SGK Lớp 10A2 và 10A4 được giảng dạy xây dựng nội dung bài học theo phương pháp Grap
Để đánh giá kết quả của giờ giảng giáo viên kiểm tra 10 học sinh của bốn lớp với nội dung:
Câu 1 (3 điểm) Giải thích tại sao clo tan không nhiều trong nước, tan nhiều trong dung môi hữu cơ?
Câu 2 (3 điểm) Dẫn khí clo vào nước xảy ra hiên tượng vật lí hay hiện tượng hoá học? Giải thích
Câu 3 (4 điểm) Cho biết tính chất hóa học cơ bản của nguyên tố clo Giải thích vì sao clo có tính chất hoá học cơ bản đó Cho ví dụ minh hoạ
Kết quả kiểm tra 10 học sinh ở mỗi lớp như sau
Nhìn vào bản tổng hợp ta thấy:
+ Mặc dù được đánh giá tốt hơn nhưng chất lượng điểm lớp 10A3 lại kém hơn 10A2
+ Lớp 10A2 có điểm 810 (điều này từ trước đến thời điểm kháo sát chưa
hề có)
+ Lớp 10A3 có số học sinh có điểm dưới 5 nhiều hơn lớp 10A2
* Kết quả đạt được:
- Thực tế giảng dạy cho thấy các lớp không hoặc ít áp dụng so với lớp áp dụng phương pháp grap thường xuyên có sự khác nhau rõ rệt Trong năm học vừa qua 2013 - 2014 giảng dạy ở trường tôi đã có số liệu kết quả cuối năm cụ thể theo bảng sau:
Lớp Mức độ áp
dụng đề tài
Không khí lớp học
Kết quả học tập
10A2 Thường
xuyên
Sôi nổi, tích cực
0% 5/33 hs
15%
21/33 hs 64%
7/33 hs 21%
0%
10A3 ít hoặc không Trầm ít 0% 5/38 hs 26/38 hs 7/38 hs 0%
Trang 10thường xuyên phát
biểu
13,16% 68,42% 18,42%
10A4 Thường
xuyên
Sôi nổi, tích cực
0% 7/36 hs
19,4 %
24/36 hs 66,7%
5/36 hs 13,9%
0%
Như vậy vận dụng phương pháp Grap vào dạy học hoá học có hiệu quả tốt hơn
Không những thế trong bộ môn hoá học việc giải bài tập cũng vô cùng quan trọng, nên trong quá trình giảng dạy tôi còn hướng dẫn học sinh vận dụng phương pháp này vào việc tóm tắt yêu cầu của một bài toán hoá học từ đó dễ dàng định hướng được cách giải
Hiện nay việc kiểm tra đánh giá học sinh thông qua hình thức kiểm tra trắc nghiệm khách quan là chủ yếu, học sinh vận dụng phương pháp này để trình bày suy luận của bài toán để có được cách giải ngắn gọn nhất, giải nhanh nhất
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ