Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên luận văn cần phải giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau: - Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về hôn nhân và thời kỳ hôn nhân: quan niệm về hôn nhân, nh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN THỊ MỸ LINH VÕ THỊ KIM HOA
Bộ môn: Luật Tư pháp MSSV: S120022 Lớp: Luật bằng 2- Đồng Tháp
Cần Thơ, 11/ 2014
Trang 2GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh SVTH: Võ Thị Kim Hoa
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 3GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh SVTH: Võ Thị Kim Hoa
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 4GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh SVTH: Võ Thị Kim Hoa
MỤC LỤC
Trang PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu đề tài 2
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỜI KỲ HÔN NHÂN TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM 4
1.1 Một số khái niệm chung về hôn nhân 4
1.1.1 Khái niệm hôn nhân 4
1.1.2 Khái niệm kết hôn 5
1.1.3 Khái niệm chấm dứt quan hệ hôn nhân 6
1.2 Khái niệm thời kỳ hôn nhân 7
1.3 Sơ lược lịch sử phát triển của quy định về xác định thời kỳ hôn nhân 8
1.3.1 Luật cổ và tục lệ 8
1.3.2 Luật cận đại trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 10
1.3.3 Luật hiện đại sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 10
1.3.3.1 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 10
1.3.3.2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 11
1.3.3.3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 12
1.3.3.4 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 12
1.4 Ý nghĩa của việc xác định thời kỳ hôn nhân 12
1.4.1 Xác định thời gian phát sinh, chấm dứt quan hệ nhân thân giữa vợ chồng 13
1.4.2 Xác định thời gian phát sinh, chấm dứt quan hệ tài sản giữa vợ chồng 13
1.4.3 Xác định cha mẹ cho con 14
CHƯƠNG 2: CÁC CĂN CỨ XÁC ĐỊNH THỜI KỲ HÔN NHÂN TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM 16
2.1 Xác định thời kỳ hôn nhân trong trường hợp có đăng ký kết hôn 16
2.1.1 Xác định thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân 16
2.1.2 Xác định thời điểm chấm dứt thời kỳ hôn nhân 17
2.1.2.1 Xác định thời điểm chấm dứt thời kỳ hôn nhân do ly hôn 17
Trang 5GVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh SVTH: Võ Thị Kim Hoa
2.1.2.2 Xác định thời điểm chấm dứt thời kỳ hôn nhân do vợ, chồng chết hoặc bị tòa
án tuyên bố là đã chết 18
2.2 Xác định thời kỳ hôn nhân trong các trường hợp chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn được đồng hóa là hôn nhân hợp pháp 20
2.2.1 Quy định của pháp luật về chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được đồng hóa là hôn nhân hợp pháp 20
2.2.2 Thời điểm bắt đầu và kết thúc thời kỳ hôn nhân trong các trường hợp chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được đồng hóa là hôn nhân hợp pháp 21
2.2.2.1 Xác định thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân 21
2.2.2.2 Xác định thời điểm chấm dứt thời kỳ hôn nhân 23
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ XÁC ĐỊNH THỜI KỲ HÔN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN 26
3.1 Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật về xác định thời kỳ hôn nhân 26
3.1.1 Xác định thời kỳ hôn nhân trong trường hợp chuyển hóa quan hệ pháp luật từ hôn nhân trái pháp luật sang hôn nhân hợp pháp 27
3.1.1.1 Xác định thời kỳ hôn nhân khi có sự chuyển hóa từ hôn nhân vi phạm độ tuổi kết hôn sang hôn nhân hợp pháp 27
3.1.1.2 Xác định thời kỳ hôn nhân khi có sự chuyển hóa từ hôn nhân vi phạm chế độ một vợ một chồng sang hôn nhân hợp pháp 30
3.1.2 Xác định thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân trong trường hợp chung sống như vợ chồng không có đăng ký kết hôn 32
3.1.3 Xác định thời điểm chấm dứt thời kỳ hôn nhân trong trường hợp vợ hoặc chồng bị tuyên bố là đã chết 34
3.2 Một số giải pháp góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về xác định thời kỳ hôn nhân 35
3.2.1 Các giải pháp về mặt lập pháp 36
3.2.2 Các giải pháp về công tác hướng dẫn và thi hành pháp luật 37
KẾT LUẬN 39 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu
Gia đình hình thành, tồn tại và phát triển qua các giai đoạn, nó mang những chức năng
tự nhiên và xã hội riêng biệt mà các thiết chế xã hội khác không có Các chức năng của gia
đình hình thành gắn liền với sự phát triển của loài người và được chính con người xã hội
hóa chúng Và khởi nguồn để hình thành nên một gia đình là việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa hai người nam và người nữ Hôn nhân là một hiện tượng xã hội, là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà được pháp luật thừa nhận để xây dựng gia đình và chung sống với nhau suốt đời Sự liên kết đó phải dựa trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, sự liên kết bền vững trên cở sở tình yêu thương, quý trọng lẫn nhau và nó tồn tại trong suốt thời kỳ hôn nhân Do đó, thời kỳ hôn nhân đã trở thành một chế định được quy định trong
hệ thống pháp luật về Hôn nhân và gia đình Việt Nam Bên cạnh đó, khi quan hệ hôn nhân tồn tại thì các quan hệ về nhân thân và tài sản giữa vợ chồng được hình thành theo trên cơ
sở đó phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau
Tuy nhiên làm thế nào để xác định chính xác thời điểm phát sinh và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đó theo đúng tinh thần của pháp luật là một vấn đề thật sự đáng quan tâm Từ quan hệ hôn nhân làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, và sau đó là giữa cha mẹ và con cái Việc quy định thời kỳ hôn nhân là căn cứ quan trọng xác định quyền và nghĩa vụ nhân thân như nghĩa vụ chung thủy, yêu thương giúp đỡ nhau của vợ chồng Đây chính là quyền và nghĩa vụ quan trọng và chính yếu nhất của mục đích hôn nhân Thời điểm bắt đầu của thời kỳ hôn nhân cũng chính là thời điểm hình thành khối tài sản chung từ con số không Bên cạnh đó xác định thời kỳ hôn nhân còn làm cơ sở để xác
định quan hệ cha mẹ và con trong giá thú, quyền được đại diện cho nhau, quyền thừa kế của
vợ chồng và những quyền và nghĩa vụ khác nữa
Do đó việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về xác định thời kỳ hôn nhân nhằm làm cho mọi người hiểu rõ và góp phần nâng cao ý thức pháp luật trong việc chấp hành những quy định của pháp luật Đặc biệt nghiên cứu các quy định của pháp luật về cách xác
định thời kỳ hôn nhân còn nhằm nâng cao hiệu quả công tác xét xử của Tòa án nhân dân đối
với các tranh chấp hôn nhân và gia đình nói chung và tranh chấp liên quan đến việc xác định các quyền và nghĩa vụ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nói riêng là vô cùng cần thiết
Từ những lý do cơ bản nêu trên, người viết đã lựa chọn đề tài “Xác định thời kỳ hôn
nhân trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt
nghiệp cử nhân luật của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Người viết chọn đề tài “Xác định thời kỳ hôn nhân trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam” nhằm có điều kiện tìm hiểu sâu hơn các quy định của pháp luật để có thể áp
Trang 7dụng chính xác theo đúng tinh thần của pháp luật Từ đó tìm ra những giải pháp để có thể góp phần hoàn thiện luật pháp tốt hơn
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên luận văn cần phải giải quyết những nhiệm vụ cụ
thể sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về hôn nhân và thời kỳ hôn nhân: quan niệm về hôn nhân, những yếu tố tác động đến việc xác định thời kỳ hôn nhân và cách xác định thời
kỳ hôn nhân trong các trường hợp: có đăng ký kết hôn, chung sống như vợ chồng mà không
có đăng ký kết hôn nhưng được đồng hóa là hôn nhân hợp pháp
- Đánh giá thực trạng công tác xác định thời kỳ hôn nhân trong việc giải quyết các vấn
đề về tài sản và con cái của vợ chồng trong các vụ án hôn nhân và gia đình, các quy định
của pháp luật cũng như việc áp dụng các quy định của pháp luật trong việc giải quyết các vấn đề
- Đưa ra phương hướng nhằm hoàn thiện pháp luật Hôn nhân và gia đình về cách xác
định thời kỳ hôn nhân
3 Phạm vi nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này người viết tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, những căn cứ xác định thời kỳ hôn nhân và thực trạng công tác xác định thời kỳ hôn nhân giữa công dân Việt Nam với nhau trên lãnh thổ Việt Nam Từ đó tìm ra những điểm bất cập, chưa hợp lý; trên cơ sở đó đưa ra những đề xuất của bản thân, đồng thời rút ra những kinh nghiệm cho bản thân nhằm phục vụ tốt hơn cho việc công tác sau này
Thời gian thực hiện: đề tài này được nghiên cứu thực hiện trong thời gian từ tháng 6 năm 2014 đến tháng 11 năm 2014
4 Phương pháp nghiên cứu
Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài luận văn tốt nghiệp này, người viết đã sử
dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: phương pháp nghiên cứu và phân tích luật viết, đồng thời kết hợp với các phương pháp như quy nạp, diễn dịch, phương pháp nghiên cứu trên tài liệu, sách vở bình luận khoa học về hôn nhân và gia đình, phương pháp sưu tầm, tổng hợp thông tin qua các bài viết trên các tạp chí của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân và các công trình nghiên cứu chuyên ngành khác
5 Kết cấu đề tài
Đề tài nghiên cứu bao gồm các phần: mục lục, phần mở đầu, nội dung, kết luận và
danh mục các tài liệu tham khảo
Nội dung đề tài được chia làm ba phần:
Chương 1: Khái quát chung về thời kỳ hôn nhân trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
Trong phần này người viết sẽ trình bày một cách chung nhất về hôn nhân và thời kỳ hôn nhân từ những khái niệm: một số khái niệm chung về hôn nhân, khái niệm thời kỳ hôn
Trang 8nhân, từ đó thể hiện rõ ý nghĩa của việc xác định thời kỳ hôn nhân giữa vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Bên cạnh đó người viết cũng trình bày một cách sơ lược về lịch sử phát triển của quy định về xác định thời kỳ hôn nhân Ở phần lịch sử phát triển người viết chia ra các giai đoạn: từ luật cổ và tục lệ Việt Nam đến luật cận đại trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, đến luật hiện đại sau Cách mạng tháng Tám năm 1945
Chương 2: Các căn cứ xác định thời kỳ hôn nhân trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
Trong phần này, người viết sẽ trình bày những căn cứ xác định thời điểm bắt đầu và thời điểm chấm dứt thời kỳ hôn nhân theo pháp luật hôn nhân và gia đình Người viết sẽ dựa trên căn cứ có đăng ký kết hôn và không có đăng ký kết hôn để xác định thời kỳ hôn nhân trong những trường hợp cụ thể
Chương 3: Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật về xác định thời kỳ hôn nhân và giải pháp góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật
Ở phần này, người viết sẽ trình bày thực trạng công tác áp dụng quy định của pháp luật
về xác định thời kỳ hôn nhân, những điểm còn hạn chế và đưa ra những giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật
Trong quá trình nghiên cứu đề tài mặc dù được sự hướng dẫn nhiệt tình của giảng viên hướng dẫn và sự cố gắng của bản thân nhưng không thể không có những thiếu sót, hạn chế nhất định và kiến thức của bản thân còn hạn chế Vì vậy, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến, nhận xét của quý thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Trang 9CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỜI KỲ HÔN NHÂN TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM
Vào thời điểm hiện nay, con người vẫn coi hôn nhân là sự kiện trọng đại, thiêng liêng
và gia đình là phương thức sinh sống quan trọng nhất của hầu như tất cả mọi người Hôn nhân chính là cơ sở để hình thành quan hệ giữa vợ chồng trước pháp luật, và trên cơ sở đó quyền và nghĩa vụ của vợ chồng phát sinh và tồn tại suốt thời kỳ hôn nhân Sau đây là một vài vấn đề lý luận về thời kỳ hôn nhân trong pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
1.1 Một số khái niệm chung về hôn nhân
1.1.1 Khái niệm hôn nhân
Hôn nhân và gia đình là một hiện tượng liên quan chặt chẽ tới toàn bộ hệ thống xã hội
và là một trong những biểu hiện sắc thái văn hóa của con người Hôn nhân dẫn đến sự tạo lập hạt nhân gia đình mới, hoặc làm thay đổi quy mô hình thái cấu trúc cũ của gia đình Hơn nữa hôn nhân còn ảnh hưởng trực tiếp và thường xuyên, liên tục đến đời sống của mỗi cá nhân trong xã hội Tùy thuộc vào điều kiện xã hội và những yếu tố văn hóa mà hôn nhân diễn ra theo nhiều hình thái khác nhau, vừa phản ánh quy luật chung nhất sự phát triển của
xã hội loài người qua các giai đoạn lịch sử, vừa mang những đặc thù văn hóa dân tộc Vì vậy, vấn đề hôn nhân và gia đình luôn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học
Thực tế cho thấy quan hệ hôn nhân là một quan hệ xã hội, là một hiện tượng mang tính giai cấp, ở xã hội nào thì có hình thái hôn nhân xã hội đó và chế độ hôn nhân nhất định Ở chế độ phong kiến thì có hôn nhân phong kiến, ở chế độ xã hội chủ nghĩa có hôn nhân xã hội chủ nghĩa Hôn nhân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là sự liên kết tự nguyện, bình đẳng,
sự liên kết bền vững trên cở sở tình yêu thương, quý trọng lẫn nhau Các hình thái hôn nhân
và gia đình này phản ánh bản chất xã hội mà hình thái hôn nhân và gia đình đó đang tồn tại, một xã hội không bình đẳng sẽ có cuộc sống hôn nhân bất bình đẳng, ngược lại một xã hội bình đẳng sẽ tạo ra một cuộc sống hôn nhân bình đẳng Trong khoa học pháp lý nói chung
và khoa học luật Hôn nhân và gia đình nói riêng, việc đưa ra khái niệm đầy đủ về hôn nhân
có ý nghĩa rất quan trọng
Theo nghĩa thông thường thì hôn nhân là việc trai lấy vợ, gái lấy chồng, trai gái lấy nhau làm vợ chồng Trong pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành, khái niệm hôn nhân đã được các nhà làm luật đã quan tâm hơn Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
hiện hành quy định tại Khoản 6 Điều 8: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ chồng sau khi đã kết
1
Đặng Thị Kim Oanh, Đặc tính của Hôn nhân dưới góc nhìn nhân học, Tạp chí phát triển khoa học và công nghệ, Đại
học quốc gia Tp Hồ Chí Minh, tập 9, 03/2006, trang 220
Trang 10hôn” Hôn nhân theo Luật Hôn nhân và gia đình 2000 là sự kết hợp giữa người nam và
người nữ tuân theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn, thủ tục đăng ký kết hôn, cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn Theo sự giải thích của Tiến sĩ luật học Nguyễn Ngọc
Điện thì:“Hôn nhân là sự kết hợp giữa hai người, một nam và một nữ để chung sống, để
dành cho nhau sự giúp đỡ và hỗ trợ cần thiết”.2
Như vậy, hôn nhân theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng và tự nguyện theo quy định của pháp luật nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc,
1.1.2 Khái niệm kết hôn
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
yếu của hôn nhân, là bước phát triển tiếp theo của hôn nhân, gia đình chỉ được phát triển tốt
đẹp nếu hôn nhân được hình thành hợp pháp và cuộc sống hôn nhân đạt được mục đích của
nó Hôn nhân là sự liên kết suốt đời của vợ chồng Hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu nam và
nữ, giữa vợ và chồng chính là điều kiện quan trọng đảm bảo cho sự liên kết đó được hạnh phúc và lâu dài Vì vậy để có được nền tảng vững vàng cho hôn nhân thì hôn nhân phải
được pháp luật công nhận dưới hình thức pháp lý đó chính là đăng ký kết hôn
Kết hôn là một trong các quyền của cá nhân và được ghi nhận tại Điều 39 Bộ luật Dân
sự năm 2005: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình có quyền tự do kết hôn” Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và Luật Hôn nhân
và gia đình năm 1986 đã quy định về chế định kết hôn nhưng không giải thích cụ thể về thuật ngữ “kết hôn” Khắc phục điều này, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã đưa ra
định nghĩa kết hôn cụ thể tại Khoản 2 Điều 8: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ
vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” Theo quy
định tại Khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì: “Kết hôn là việc nam và
nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của luật này về điều kiện kết hôn và
đăng ký kết hôn”
Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì nam nữ kết hôn được coi là hợp pháp và
được pháp luật bảo hộ khi đảm bảo các yếu tố sau:
Trang 11- Phải thể hiện ý chí mong muốn được kết hôn, ý chí mong muốn đó được thể hiện bằng lời khai của họ trong tờ khai đăng ký kết hôn cũng như trước cơ quan đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật
nhận khi việc xác lập quan hệ hôn nhân, cụ thể là kết hôn phải tuân thủ các quy định của
pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn
Vậy kết hôn là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về
điều kiện kết hôn và trình tự thủ tục đăng ký kết hôn Chỉ khi nam, nữ đáp ứng đủ điều kiện
kết hôn theo quy định của pháp luật thì họ mới trở thành vợ chồng và bắt đầu thời kỳ hôn nhân Quan hệ hôn nhân mà vi phạm các quy định điều kiện về nội dung và hình thức của việc kết hôn thì không được coi là một quan hệ hôn nhân và không thể làm phát sinh các
quan hệ pháp lý giữa vợ và chồng
Quá trình chung sống của các cặp vợ chồng là quá trình gắn kết giữa hai con người có những hoàn cảnh, môi trường giáo dục, tâm lý và tính cách khác nhau Nếu không có sự nỗ lực hòa nhập từ hai phía để giữ gìn sự ổn định, vun đắp hạnh phúc chung thì thường sẽ không tránh khỏi những va chạm, mâu thuẫn xung đột và hậu quả xấu nhất là dẫn đến hôn nhân bị chấm dứt
Các trường hợp chấm dứt hôn nhân theo quy định được xếp thành hai nhóm:
“Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc của cả hai vợ chồng”.5 Tuy nhiên nếu dựa trên câu chữ của luật thì
có thể hiểu nhầm là chỉ cần công nhận bằng quyết định hoặc bản án thì vấn đề ly hôn có hiệu lực Nếu không phải là người hiểu biết pháp luật thì nhìn vào Điều luật thì sẽ không biết được thời điểm có hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án Để câu chữ của luật rõ ràng, áp dụng thống nhất khi giải quyết mâu thuẫn thì Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã quy định cụ thể hơn câu chữ của luật Theo Khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình
2014 thì “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án” Vì vậy thời kỳ hôn nhân chỉ thực sự kết thúc khi có quyết định hoặc
5
Khoản 8 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010)
Trang 12bản án của tòa án có hiệu lực pháp luật Và chỉ có Tòa án mới là cơ quan duy nhất có trách nhiệm ra phát quyết chấm dứt thời kỳ hôn nhân của vợ chồng Phán quyết của Tòa án thể hiện dưới hình thức: bản án hoặc quyết định
Nếu hôn nhân là sự kiện bình thường, là thời điểm đầu tiên của hôn nhân thì trường
tuyên bố chết, theo quy định tại Khoản 1 Điều 82 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì “Khi quyết
định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn
nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người chết” Ngày chấm dứt thời kỳ hôn nhân chính là ngày chết hoặc ngày tuyên bố chết
có hiệu lực pháp luật Trường hợp không xác định được ngày chết thì ngày chết là ngày bản
đã chết thì quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng đương nhiên được chấm dứt, người vợ hoặc
chồng có quyền kết hôn với người khác, thì lần kết hôn sau là kết hôn hợp pháp Nhưng nếu một người bị tuyên bố là đã chết mà trở về, nếu người vợ hoặc chồng chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được khôi phục
1.2 Khái niệm thời kỳ hôn nhân
Quan hệ pháp luật hay quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng được phát sinh do sự kiện kết hôn và hành vi pháp lý đi đăng ký kết hôn Nội dung quan hệ pháp luật giữa vợ chồng bao gồm các quan hệ nhân thân và tài sản, chính là nội dung các quyền và nghĩa vụ, mà quyền
và nghĩa vụ về nhân thân là nội dung chủ yếu trong quan hệ vợ chồng, các quyền này được phát sinh trong thời kỳ hôn nhân
Theo từ điển Tiếng Việt: “Thời kỳ là khoảng thời gian được phân chia ra theo một sự việc hay một sự kiện nào đó”
Theo Khoản 7 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000:“Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân” Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được ghi nhận tại Khoản 13 Điều 3:
“Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân” Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định câu
chữ của luật rõ ràng hơn, tuy xét về bản chất là không có sự hiểu không thống nhất cách xác
định thời kỳ hôn nhân “được” tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân
Nhà làm luật mong muốn làm rõ câu chữ của luật, áp dụng theo đúng tinh thần của pháp luật
Kết hôn được xem là bước khởi đầu cho đời sống vợ chồng, khoảng thời gian từ ngày
đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân được gọi là thời kỳ hôn nhân Như vậy đăng
Trang 13ký kết hôn là nghi thức duy nhất làm phát sinh quan hệ hôn nhân Muốn trở thành vợ chồng, nam nữ phải xin đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn có thẩm quyền Chỉ khi nào cơ quan đăng ký đăng ký việc kết hôn cho họ, ghi vào sổ và trao giấy chứng nhận kết hôn thì giữa họ mới phát sinh quan hệ vợ chồng Trong thời kỳ này các quan hệ về nhân thân và các quan hệ về tài sản giữa vợ và chồng phát sinh và được pháp luật bảo vệ tại Điều 4 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm
2013 tại Khoản 2 Điều 36: “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em”
Tuy nhiên, từ các quy định của Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội ngày 09 tháng 6 năm 2000 về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (Nghị quyết 35/2000/QH10) có thể suy ra hai trường hợp đặc biệt mà thời kỳ hôn nhân được tính theo cách khác, đó là trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 mà không đăng ký kết hôn và trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trong khoảng thời gian từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 mà đăng ký kết hôn trong khoảng từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003 (thời kỳ hôn nhân được tính từ ngày quan hệ vợ chồng thực tế được xác lập đến ngày chấm dứt hôn nhân)
Như vậy việc đưa ra khái niệm rõ ràng về thời kỳ hôn nhân là căn cứ quan trọng trong việc xác định các quan hệ pháp luật hôn nhân giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con và là cơ
sở để xác định thời điểm phát sinh cũng như chấm dứt các quan hệ đó, góp phần làm cho công tác áp dụng pháp luật trong giải quyết các tranh chấp về hôn nhân được thống nhất và hoàn thiện hơn
1.3 Sơ lược lịch sử phát triển của quy định về xác định thời kỳ hôn nhân
1.3.1 Luật cổ và tục lệ
Quan hệ hôn nhân và gia đình qua các truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh, Tiên Dung
- Chữ Đồng Tử,… cho thấy, hôn nhân được cử hành qua hôn lễ, con gái được cưới về nhà chồng và cũng có việc thách cưới, người con gái cũng có vai trò chủ động trong hôn nhân
tại quan hệ hôn nhân là khoảng thời gian nào
Trong xã hội phong kiến Việt Nam, các quan hệ hôn nhân và gia đình ảnh hưởng nặng
nề tư tưởng Nho giáo Nho giáo trở thành tử tưởng thống trị trong xã hội Một trong những mối quan hệ cơ bản, quan trọng nhất trong xã hội là quan hệ phu phụ hay quan hệ vợ chồng Quan hệ này phát sinh và tồn tại trong suốt thời kỳ hôn nhân, nhưng lại chưa được quy định
cụ thể trong Bộ Hình Thư của vua Lý Thái Tông năm 1042 (Luật thành văn đầu tiên của nước ta), trong Bộ Hình Thư chỉ có quy định các trường hợp cấm kết hôn
Cho đến thời kỳ Lê sơ, Bộ luật Hồng Đức tên gọi thông dụng của Bộ Quốc triều hình luật được khởi thảo dưới thời vua Lê Thái Tổ, tiếp tục được bổ sung dưới các triều Lê Thái
8
Đại học Cần Thơ, Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, trang 27
Trang 14Tông, Lê Nhân Tông và được hoàn chỉnh dưới thời vua Lê Thánh Tông Là một bộ luật tổng hợp bao gồm nhiều quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: lĩnh vực luật hình sự, luật tố tụng, luật dân sự, luật hành chính và có hẵn một chương quy định về hôn nhân và gia đình chính là Chương Hộ hôn gồm 58 điều, điều chỉnh các vấn đề: hộ tịch, hộ khẩu, hôn nhân gia đình và các tội phạm trong lĩnh vực này Pháp luật nhà Lê đã quy định những quyền và nghĩa vụ cơ bản của vợ chồng như: nghĩa vụ đồng cư, nghĩa vụ phù trợ, nghĩa vụ trung thành và nghĩa vụ tòng phu Hình thức thể hiện các chế độ hôn nhân của Bộ Quốc triều hình luật cũng rất tiến bộ Các hình thức và thủ tục kết hôn cũng như chấm dứt hôn nhân được quy định rõ ràng Tuy không định nghĩa hay quy định cụ thể về thời kỳ hôn nhân nhưng có thể hình dung được thời kỳ hôn nhân qua các quy định liên quan Điều 314
Luật Hồng Đức quy định: “Việc đăng ký kết hôn chỉ được coi là hợp pháp khi được sự đồng
ý của hai bên cha mẹ, có việc trao đổi sính lễ trước sự có mặt của họ hàng hai bên” Và
hôn nhân chỉ có giá trị pháp lý từ sau lễ đính hôn (hiệu lực của đính hôn nảy sinh từ khi nhà
trai đặt đồ sính lễ và nhà gái nhận) được quy định tại Điều 315 Luật Hồng Đức:“Gã con gái
đã nhận đồ sính lễ mà lại thôi không gã nữa thị phải phạt 80 trượng…Còn người con gái
phải gã cho người hỏi trước” Như vậy, đính hôn là hình thức tiên quyết của kết hôn Chỉ
khi thành hôn thì cuộc hôn nhân mới có giá trị thực tế, mà không cần phải lập văn tự hôn thú, có lẽ nhà làm luật dành quy định này cho phong tục tập quán điều chỉnh
Và hôn nhân chấm dứt khi xảy ra một trong hai trường hợp: do một bên vợ hoặc chồng chết trước, do ly hôn
điều nào quy định trực tiếp nhưng có hai điều khoản gián tiếp quy định về trường hợp này
Theo tinh thần được quy định tại Điều 2 và Điều 230, nếu người vợ chết trước thì quan hệ hôn nhân chấm dứt ngay Ngược lại, nếu người chồng chết trước, quan hệ hôn nhân chưa chấm dứt ngay mà vẫn tồn tại trong thời gian vợ để tang chồng, hôn nhân chỉ chấm dứt ngay sau khi mãn tang chồng Do đó, thời kỳ hôn nhân có thể hiểu được tính từ ngày sau lễ đính hôn đến ngày vợ chết hoặc ngày vợ mãn tang chồng nếu chồng chết
phải ly hôn vì hôn nhân quy phạm các quy định cấm kết hôn, ly hôn do lỗi của người vợ và
ly hôn do lỗi của người chồng được quy định tại các điều 308, 310, 317, 318, 323, 324 và
điều 334 Thủ tục ly hôn cũng rất đơn giản là 2 bên vợ chồng viết giấy, viết giấy giáp lai và
cùng ký, sau đó mỗi bên giữ một tờ Việc ly hôn được sự đồng ý của hai bên vợ chồng và
được chứng nhận bằng văn bản, không cần sự cho phép của nhà chức trách
Vậy căn cứ xác định thời kỳ hôn nhân trong giai đoạn này là thời điểm hôn nhân có giá trị pháp lý chính là thời điểm sau lễ đính hôn và hôn nhân chấm dứt do ly hôn, một trong hai người chết Nếu chồng chết thì thời kỳ hôn nhân kết thúc khi vợ mãn tang chồng, ngược lại nếu vợ chết thì thời kỳ hôn nhân chấm dứt ngay khi người vợ chết
Trang 15Đến Bộ Hoàng Việt Luật Lệ một thành tựu điển hình trong hoạt động lập pháp của
triều Nguyễn, có tính khái quát cao và phân ngành rõ ràng hơn so với Quốc triều hình luật
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một bộ luật thống nhất từ Đàng trong đến Đàng ngoài được ban hành, bao gồm 398 điều, chia thành 22 quyển Bộ luật này đã tiếp tục kế thừa và
phát triển những quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về hôn nhân nói riêng đã quy định về thủ tục ly hôn Về thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân được quy định giống như
Bộ luật Hồng Đức Việc chấm dứt thời kỳ hôn nhân cũng được quy định tương tự, tuy nhiên
có quy định cụ thể thủ tục ly hôn đều phải trình lên quan ty, không được tự tiện; hai bên có thể làm “Tư ước” hoặc “Văn thư” thì mới được chấp nhận Do đó việc chấm dứt thời kỳ hôn nhân do ly hôn phải được sự chấp nhận của cơ quan chức trách, thì mới có giá trị pháp luật
Trước cách mạng tháng Tám năm 1945 Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến, nên chế độ hôn nhân gia đình là công cụ pháp lý của nhà nước thực dân phong kiến
được ban hành dựa trên những phong tục tập quán lạc hậu của xã hội phong kiến nhằm mục đích củng cố và bảo vệ lợi ích của giai cấp địa chủ phong kiến
Pháp luật về hôn nhân và gia đình trong thời kỳ này có đặt ra các vấn đề phát sinh trong thời kỳ hôn nhân và hậu quả pháp lý của việc chấm dứt thời kỳ hôn nhân nhưng vẫn chưa đưa ra được khái niệm cụ thể về thời kỳ hôn nhân Vì vậy để có căn cứ xác định thời
kỳ hôn nhân thì phải thông qua các điều luật quy định gián tiếp có liên quan đến thời điểm bắt đầu và kết thúc của thời kỳ này Chẳng hạn như về thủ tục kết hôn được quy định tại
Điều 77, Điều 78 Bộ Dân luật Bắc kỳ: việc kết hôn phải do hai bên nam nữ bằng lòng và
phải được khai với chính quyền (hộ lại) thì mới có giá trị Về tiêu hôn và ly hôn thì tại các
Điều 82, 86, 87, 116,117, 118, 119, 120 của Bộ Dân luật Bắc kỳ và chỉ có Tòa án mới có
quyền quyết định
1.3.3.1 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa mới được thành lập chưa kịp xây dựng và ban hành văn bản pháp luật về hôn nhân và gia
đình thì phải đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp lần thứ 2 kéo dài
9 năm Nhà nước chưa có điều kiện để xây dựng pháp luật mới về hôn nhân và gia đình, vì vậy pháp luật của chế độ củ ở ba miền tạm thời được áp dụng Đến năm 1946 Hiến pháp
đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời ghi nhận quyền bình đẳng của nam
nữ tại Điều 9: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” chính là cơ sở pháp
lý đầu tiên để xác lập các quan hệ về hôn nhân trong chế độ mới
Hòa bình được lặp lại năm 1954, Miền bắc được giải phóng và tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đây là giai đoạn đẩy mạnh vận động xây dựng chế độ hôn nhân
và gia đình mới, tập trung vào việc bài trừ, xóa bỏ những tàn tích của chế độ hôn nhân và
Trang 16gia đình phong kiến Đến năm 1959 Luật Hôn nhân và gia đình còn gọi là đạo luật số 13 về hôn nhân và gia đình được Quốc Hội khóa I, kỳ họp thứ 11 chính thức thông qua ngày 29/12/1959 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 13/01/1960, luật này gồm 6 chương, 35 điều Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam có một văn bản pháp luật chỉ quy định riêng về gia
đình Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 được xây dựng và thực hiện với hai nhiệm vụ cơ
bản: xóa bỏ tàn tích của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến lạc hậu và xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình mới của chế độ xã hội chủ nghĩa
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 không có một điều khoản nào định nghĩa trực tiếp về thời kỳ hôn nhân Nhưng trên tinh thần của luật thì có thể hiểu được thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ hôn nhân Thông qua các điều luật quy định về việc
kết hôn và ly hôn “Việc kết hôn phải được Ủy ban hành chính cơ sở nơi trú quán của bên người con trai hoặc bên người con gái công nhận và ghi vào sổ kết hôn Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp luật” 9 Ly hôn do hai bên thuận tình ly hôn hay do một
bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn đều phải được sự công nhận của tòa án Đối với trường hợp hoặc vợ hoặc chồng chết thì đương nhiên thời kỳ hôn nhân sẽ chấm dứt Vì khi hôn nhân còn tồn tại thì vợ chồng là một, khi hôn nhân chấm đứt do có người chết thì vợ chồng chỉ còn một người; nếu hôn nhân chấm dứt do ly hôn thì đúng là có hai người nhưng không phải là vợ chồng Vậy có thể hiểu thời điểm bắt đầu của thời kỳ hôn nhân chính là thời điểm việc đăng ký kết hôn được ghi vào sổ kết hôn tại cơ quan hành chính có thẩm quyền, thời
điểm kết thúc thời kỳ hôn nhân là thời điểm một trong hai bên vợ hoặc chồng chết hoặc là
thời điểm Tòa án công nhận việc ly hôn
1.3.3.2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986
Với thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 30 tháng 4 năm
1975 thống nhất hai miền Nam – Bắc, trước công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ đất nước nói chung và việc xây dựng Nhà nước và pháp luật nói riêng được Đảng và Nhà nước
ta hết sức quan tâm Đánh dấu sự đổi mới chính là Quốc hội cho ra đời bản Hiến pháp 1980,
đây là bản hiến pháp đầu tiên thống nhất hai miền Và Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 được Quốc Hội khóa VII, kỳ họp thứ 12 thông qua ngày 29 tháng 12 năm 1986 trên cơ sở
kế thừa và phát triển những quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, tiếp tục xây dựng và củng cố gia đình xã hội chủ nghĩa Luật gồm 10 chương, 57 điều được xây dựng và thực hiện với nguyên tắc hôn nhân và gia đình tự nguyện và tiến bộ; một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; bảo vệ quyền lợi của cha mẹ và con; bảo vệ bà mẹ và trẻ em Về thời kỳ hôn nhân Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 cũng ghi nhận tương tự Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 Tức là thời kỳ hôn nhân bắt đầu được tính kể thời điểm việc đăng ký kết hôn được ghi vào sổ kết hôn và kết thúc do một trong hai bên vợ chồng chết hoặc được Tòa
án công nhận việc ly hôn của vợ chồng
9
Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959
Trang 171.3.3.3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
Ngày 09/6/2000 Quốc hội Việt Nam ban hành Luật Hôn nhân và gia đình mới thay thế Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 gồm 13 chương
và 110 điều và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2001 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
được ban hành trên cơ sở kế thừa Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 và sửa đổi, bổ sung
một số quy định mới nhằm hoàn thiện pháp luật về hôn nhân và gia đình, đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn
Thời kỳ hôn nhân theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 là “khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt quan hệ hôn nhân” 10 Vậy thời kỳ hôn nhân theo luật hiện hành được tính từ ngày vợ chồng hoàn thành thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền và kết thúc khi quan hệ hôn nhân chấm dứt do ly hôn hoặc vợ hoặc chồng hoặc chết sinh học hoặc chết pháp lý
Bên cạnh đó theo quy định tại Nghị quyết số 35/2000/QH10 có quy định thêm hai trường hợp xác định thời kỳ hôn nhân trong trường hợp không có đăng ký kết hôn được
đồng hóa là hôn nhân hợp pháp Đó là thời kỳ hôn nhân được xác định kể từ thời điểm bắt đầu xác lập quan hệ chung sống như vợ chồng trên thực tế đến ngày chấm dứt quan hệ hôn
nhân
1.3.3.4 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ra đời và được áp dụng gần 14 năm, do đó có những quy định không phù hợp với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội đòi hỏi cần phải có những quy định mới sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực trạng xã hội Chính vì vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã được thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2014 tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIII và chính thức có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2015
Thời kỳ hôn nhân theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được quy định tại Khoản
13 Điều 3 “Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ
ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân” Việc quy định thời kỳ hôn nhân theo
Luật mới 2014 không có gì khác so với Luật hiện hành
1.4 Ý nghĩa thực tiễn của việc xác định thời kỳ hôn nhân
Hôn nhân là sợi dây pháp lý liên kết giữa người nam và người nữ, kể từ đây họ là vợ là chồng của nhau và giữa họ phát sinh những quan hệ pháp lý được luật Hôn nhân và gia đình bảo vệ Họ sẽ có những quyền, nghĩa vụ mà chỉ khi họ là vợ và chồng của nhau mới có như quyền đại diện cho nhau, quyền của chủ sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng, quyền
được hưởng cấp dưỡng, các quyền khác và phải thực hiện nghĩa vụ như nghĩa vụ cấp dưỡng,
nghĩa vụ nuôi dưỡng con cái Hôn nhân sẽ làm phát sinh hậu quả pháp lý về mặt nhân thân
và tài sản giữa vợ và chồng, vì vậy việc xác định thời điểm bắt đầu và kết thúc của thời kỳ hôn nhân là cần thiết
10
Khoản 7 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010)
Trang 18Việc xác định thời kỳ hôn nhân chính là căn cứ quan trọng trong việc xác định khoảng thời gian phát sinh, tồn tại hay chấm dứt các quan hệ pháp luật sau:
Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng là mối quan hệ thiêng liêng mà về bản chất là không vụ lợi, sẵn sàng chia sẻ và hy sinh và là nền tảng để xây dựng một gia đình hạnh
tình yêu giữa nam và nữ và được quy định tại Điều 18 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Khi nam nữ yêu thương nhau, hiểu nhau thì họ quyết định xác lập quan hệ hôn nhân để trở thành vợ chồng của nhau, tình cảm yêu thương đó được duy trì trong suốt thời kỳ hôn nhân
và là cơ sở duy trì quan hệ hôn nhân bền vững
nhân phẩm, uy tín của vợ chồng; tôn trọng quyền tự do, tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng
được quy định từ Điều 19 đến Điều 22 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
Các nhóm quyền và nghĩa vụ này phát sinh dựa vào sự kiện kết hôn (trừ trường hợp chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn nhưng thỏa điều kiện để được đồng hóa là hôn nhân hợp pháp), và kết thúc dựa vào thời điểm chấm dứt hôn nhân
1.4.2 Xác định thời gian phát sinh, chấm dứt quan hệ tài sản giữa vợ chồng
Quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản chung
Theo quy đinh tại Khoản 1 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà
vợ chồng thoả thuận là tài sản chung”
Còn theo quy định tại Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động
sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và những thu nhập hợp pháp
khác trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung”
Đây là nhóm tài sản chủ yếu của vợ chồng, gắn liền với việc phát sinh quan hệ nhân
thân giữa vợ, chồng và cùng tồn tại với sự tồn tại của quan hệ hôn nhân Khối tài sản chung của vợ chồng được sinh ra từ thời kỳ hôn nhân Chính từ ngày kết hôn khối tài sản chung bắt đầu tích tụ từ con số không Có thể nhận thấy rằng sự hình thành và phát triển của khối tài sản chung gắn liền với hôn nhân, nếu không có hôn nhân thì không có tài sản chung, hôn
11
Nguyễn Thanh Tâm, Ly hôn – nghiên cứu các trường hợp Hà Nội, Nhà xuất bản khoa học xã hội – trung tâm khoa
học xã hội và nhân văn quốc gia, Hà Nội, 2002, trang 98
Trang 19nhân càng dài thì khối tài sản chung càng có điều kiện tốt về thời gian để phát triển lớn
Quyền thừa kế của vợ chồng
Vợ chồng có quyền thừa kế di sản của nhau khi một bên chết Việc thừa kế có thể theo
di chúc, theo pháp luật và thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
Vợ chồng là hàng thừa kế thứ nhất của nhau theo pháp luật, cùng với cha, mẹ và con của người chết Để được thừa kế di sản của nhau tại thời điểm vợ hoặc chồng chết, hai người vẫn được pháp luật thừa nhận là vợ chồng của nhau, tức là thời kỳ hôn nhân còn tồn tại giữa hai người
Đại diện cho nhau giữa vợ chồng
Trong thời kỳ hôn nhân vợ và chồng có quyền và nghĩa vụ đại diện cho nhau trong một số trường hợp vợ chồng không thể bài tỏ được ý chí của mình Việc đại diện cho nhau
có thể là: vợ chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch
mà theo quy định của pháp luật phải có sự đồng ý của vợ chồng như: bán tài sản chung của
vợ chồng; là người giám hộ khi một bên vợ, chồng bị mất năng lực hành vi dân sự, bên vợ hoặc chồng còn lại có đủ điều kiện để làm người giám hộ
Xác định cha mẹ cho con được tiến hành theo hai trường hợp: xác định cha mẹ cho con khi giữa cha mẹ tồn tại mối quan hệ hôn nhân hợp pháp và xác định cha mẹ cho con khi giữa cha mẹ không tồn tại mối quan hệ hôn nhân hợp pháp
Khi giữa cha mẹ tồn tại hôn nhân hôn pháp thì việc xác định con chung hay con trong giá thú của vợ chồng được tiến hành theo phương pháp suy đoán pháp lý Việc xác định cha
mẹ cho con được quy định tại Điều 63 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng” Như vậy căn cứ xác định con chung là dựa vào thời kỳ hôn nhân của cha mẹ
Việc xác định con chung của vợ chồng trên cơ sở suy đoán có thể xuất hiện hai trường hợp:
Thứ nhất, Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân: Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân
thuộc một trong hai trường hợp sau:
đứa trẻ đương nhiên là con chung của vợ chồng, trừ trường hợp người chồng có chứng cứ
khác chứng minh rằng đứa trẻ đó không phải là con của mình
đứa trẻ này vẫn được xác định là con chung của vợ chồng vì nó thỏa mãn được quy định tại Điều 63 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 là được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân, trừ
12
Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Tập II – Các quan hệ tài sản giữa vợ chồng, Nhà xuất bản Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2004, trang 41
Trang 20trường hợp người chồng không thừa nhận đứa trẻ đó là con của mình, tuy nhiên người chồng cũng phải có chứng cứ chứng minh
Thứ hai, Con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân và sinh ra sau khi hôn nhân
chấm dứt Trường hợp này đứa trẻ được mang thai trong thời kỳ hôn nhân nhưng được sinh
ra khi người chồng của mẹ đứa trẻ đã chết hoặc đã ly hôn với người mẹ của đứa trẻ Người chồng đã chết hoặc ly hôn này được suy đoán là cha của đứa trẻ
Theo khoản 2 Điều 21 của Nghị định 70/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 03 tháng
10 năm 2001 quy định chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (Nghị định
70/2001/NĐ-CP) có quy đinh cụ thể: “Con sinh ra trong vòng 300 ngày, kể từ ngày người chồng chết hoặc kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án xử cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực pháp luật, thì được xác định là con chung của hai người”
Bên cạnh đó việc xác định chính xác thời kỳ hôn nhân còn là căn cứ để xác định các hành vi vi phạm chế độ hôn nhân và gia đình như: vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng và bạo hành gia đình Thứ nhất, nếu giữa nam và nữ thời kỳ hôn nhân còn tồn tại thì
về mặt pháp luật họ vẫn là vợ chồng của nhau Vì vậy nếu họ kết hôn hoặc chung sống như
vợ chồng với người khác: người chưa có vợ có chồng hoặc người đã có vợ có chồng thì họ
đã vi phạm nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng chính là vi phạm chế độ hôn nhân một vợ
một chồng Thứ hai, nếu hai người vẫn còn tồn tại quan hệ vợ chồng thì mọi hành vi ngược
đãi, hành hạ, xúc phạm lẫn nhau thì sẽ vi phạm tội ngược đãi hành hạ vợ, chồng Những
hành vi này sẽ bị xử lý hành chính, nghiêm trọng hơn có thể dẫn đến xử lý hình sự
Vì vậy việc xác định thời kỳ hôn nhân rất có ý nghĩa về mọi mặt trong đời sống xã hội
Trang 21CHƯƠNG 2 CÁC CĂN CỨ XÁC ĐỊNH THỜI KỲ HÔN NHÂN TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM
Thông qua cơ sở lý luận Chương 1 đã cho thấy việc xác định thời kỳ hôn nhân có ý nghĩa rất quan trọng Chính vì vậy cần tìm hiểu chính xác những quy định của pháp luật để hiểu và áp dụng đúng theo tinh thần của pháp luật Tại Chương này, trên cơ sở luật thực
định, luận văn đi sâu phân tích các quy định của pháp luật về các căn cứ xác định thời kỳ
hôn nhân Người viết trình bày hai căn cứ để xác định thời kỳ hôn nhân: có đăng ký kết hôn
và không có đăng ký kết hôn nhưng được đồng hóa là hôn nhân hợp pháp
2.1 Xác định thời kỳ hôn nhân trong trường hợp có đăng ký kết hôn
Theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình hiện hành thì thời kỳ hôn nhân bắt
đầu được tính từ khi kết hôn tức là ngày Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn – nơi cư trú
của vợ hoặc chồng ghi vào Sổ đăng ký kết hôn và cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho hai vợ chồng và chấm dứt phụ thuộc vào sự kiện làm cơ sở để chấm dứt quan hệ hôn nhân: một bên vợ hoặc chồng chết hoặc bị tuyên bố là đã chết hoặc ly hôn (từ khi phán quyết của Tòa
án có hiệu lực pháp luật)
2.1.1 Xác định thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân
Để xác định chính xác thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân trong trường hợp vợ chồng
có đăng ký kết hôn thì cần xác định thời điểm ghi vào Sổ đăng ký kết hôn hay sổ hộ tịch và giá trị pháp lý của Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn Hộ tịch theo quy định tại Khoản 1
Điều 1 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính Phủ về đăng ký và quản
lý hộ tịch (Nghị định158/2005/NĐ-CP) là: “những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết” Cũng theo Nghị định thì thủ tục đăng ký
kết hôn là một trong các thủ tục đăng ký hộ tịch của cá nhân và Giấy chứng nhận kết hôn
cũng là một trong các loại giấy tờ hộ tịch của cá nhân “Giấy tờ hộ tịch do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân theo quy định của pháp luật về hộ tịch là căn cứ pháp
lý xác nhận sự kiện hộ tịch của cá nhân đó”.13
Theo quy định về đăng ký kết hôn tại Khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành thì việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền – Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên thực hiện theo một nghi thức do pháp luật quy định Mọi nghi thức kết hôn khác như tổ chức lễ cưới tại gia đình, kết hôn theo phong tục tập quán, tiến hành theo nghi lễ tôn giáo tại nhà thờ mà không có Giấy chứng nhận kết hôn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp thì không được công nhận là hợp
13
Khoản 1 Điều 5 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính Phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch
Trang 22pháp có giá trị pháp lý, hai bên không phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa vợ chồng với nhau Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan có thẩm quyền thực hiện theo nghi thức quy định tại Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành và Điều 9 Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2014 Nghi thức đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật: “Khi tổ chức
đăng ký kết hôn phải có mặt của hai bên nam, nữ kết hôn Đại diện cơ quan đăng ký kết hôn
yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn thì đại diện
cơ quan đăng ký kết hôn trao giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên”
Như vậy đăng ký kết hôn là một thủ tục, một nghi thức do pháp luật quy định như là một điều kiện về mặt hình thức nhằm công nhận việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa hai bên nam nữ là hợp pháp Muốn trở thành vợ chồng, nam nữ phải xin đăng ký kết hôn tại cơ quan
đăng ký kết hôn Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn có giá trị kể từ ngày tổ chức lễ đăng ký
kết hôn theo nghi thức nói trên Vì vậy, hiệu lực của hôn thú hay nói chính xác là thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân được xác định là ngày vào Sổ đăng ký kết hôn
2.1.2 Xác định thời điểm chấm dứt thời kỳ hôn nhân
Theo quy định tại Khoản 7 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành:“Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân” Ngày chấm dứt hôn nhân được xác định trong các trường hợp sau:
- Khi vợ hoặc chồng còn sống, thì hôn nhân chấm dứt bằng ly hôn, tính từ thời điểm phán quyết về ly hôn của Tòa án có thẩm quyền có hiệu lực
- Trường hợp một bên vợ hoặc chồng chết hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố vợ hoặc chồng là đã chết (khi quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật)
2.1.2.1 Xác định thời điểm chấm dứt thời kỳ hôn nhân do ly hôn
Nếu kết hôn là hiện tượng bình thường nhằm xác lập quan hệ vợ chồng thì ly hôn là hiện tượng bất bình thường, là mặt trái của hôn nhân, nhưng là mặt không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân thực tế đã đỗ vỡ, quan hệ vợ chồng đã hoàn toàn mất hết ý nghĩa Ly
hôn được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành là: “Là sự chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc của
cả hai vợ chồng”.14 Theo quy định tại Khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014 là: “việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án” Hậu quả của việc ly hôn sẽ kéo theo sự chấm dứt hoàn toàn của quan hệ nhân
thân và quan hệ tài sản Thời điểm có hiệu lực của việc ly hôn là thời điểm có hiệu lực của bản án, quyết định cho ly hôn của Tòa án
Như vậy, thời kỳ hôn nhân chỉ chấm dứt khi có bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án Tòa án ra bản án ly hôn hoặc quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn phải thông qua thủ tục theo quy định của pháp luậtvề tố tụng Kể từ thời điểm thụ lý cho đến trước thời
điểm bản án ly hôn hoặc quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn của đương sự của tòa án
14
Khoản 8 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010)
Trang 23có hiệu lực pháp luật thì về mặt pháp lý thì các bên vẫn có quan hệ vợ chồng, thời kỳ hôn nhân chưa chấm dứt Về thời điểm có hiệu lực của bản án ly hôn, quyết định công nhận sự thuận tình của đương sự thì Bộ luật Tố tụng dân sự quy định như sau:
- Đối với bản án ly hôn thì theo quy định tại Điều 17 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2004: “…Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật; đối với bản án, quyết
định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị phải được xét xử phúc thẩm Bản án, quyết định
phúc thẩm có hiệu lực pháp luật”
Như vậy theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì sau 30 ngày kể từ ngày tuyên án nếu không có kháng cáo, kháng nghị cùng cấp; 45 ngày kháng nghị cấp trên thì bản án có hiệu lực pháp luật cũng chính là thời điểm quan hệ hôn nhân giữa hai người chính thức không còn tồn tại trước pháp luật Nếu bản án bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc
án bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì thời kỳ hôn nhân giữa nam và nữ chưa được chấm dứt, lúc này hai bên vẫn còn ràng buộc quyền và nghĩa vụ pháp lý với nhau Và chỉ chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày tuyên án bản án phúc thẩm của Tòa án
- Đối với quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự được quy định tại Điều
188 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004:
“1 Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
2 Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.”
Tóm lại, khi phán quyết ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật, quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng sẽ chấm dứt hoàn toàn Về mặt pháp luật họ không còn là vợ chồng với nhau, các ràng buộc về quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên chính thức chấm dứt hoàn toàn Các bên vợ, chồng đã ly hôn có quyền kết hôn với người khác
2.1.2.2 Xác định thời điểm chấm dứt thời kỳ hôn nhân do vợ hoặc chồng chết hoặc bị tòa án tuyên bố là đã chết
Nếu kết hôn là sự kiện pháp lý liên kết những cá nhân độc lập với nhau trở thành một nhằm mục đích chung sống với nhau suốt đời, xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững, thì cái chết là một sự biến làm chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng Khi một trong hai bên vợ hoặc chồng chết hoặc bị tuyên bố là đã chết thì quan hệ hôn nhân đương nhiên chấm dứt Ngoại lệ, theo Điều 83 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 26 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2000 quy định: “khi Tòa án hủy bỏ tuyên bố một người là đã chết theo quy định tại
15
Khoản 1 Điều 245, Khoản 1 Điều 252 và Khoản 6 Điều 279 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)