1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghĩa vụ cung cấp thông tin trong r nhợp Đồng bảo hiểm nhân thọ

59 11 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghĩa Vụ Cung Cấp Thông Tin Trong Hợp Đồng Bảo Hiểm Nhân Thọ
Tác giả Nguyễn Tấn Dũng
Người hướng dẫn TS. Bùi Thị Hằng Nga
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế - Luật
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 662,4 KB

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (7)
  • 2. Tình hình nghiên cứu (8)
  • 3. Mục đích và đối tượng nghiên cứu (9)
  • 4. Phạm vi nghiên cứu (9)
  • 5. Các phương pháp tiến hành nghiên cứu (10)
  • 6. Ý nghĩa và giá trị ứng dụng của đề tài (10)
  • 7. Kết cấu của Khóa luận (11)
  • CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN (12)
    • 1.1. Tổng quan về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (12)
      • 1.1.1. Lý luận chung về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (0)
      • 1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (17)
      • 1.1.3. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (22)
      • 1.1.4. Nguyên tắc trung thực tuyệt đối trong việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin (25)
    • 1.2. Nghĩa vụ cung cấp thông tin trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (27)
      • 1.2.1. Nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn tiền giao kết hợp đồng (27)
      • 1.2.2. Nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn thực hiện hợp đồng (30)
      • 1.2.3. Nghĩa vụ cung cấp thông tin khi xảy ra sự kiện bảo hiểm (32)
      • 1.2.4. Hậu quả pháp lý của việc vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin (33)
  • CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI THỰC HIỆN NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN TRONG BẢO HIỂM NHÂN THỌ (38)
    • 2.1. Phân loại thông tin trong nghĩa vụ cung cấp thông tin (38)
      • 2.1.1. Xác định loại thông tin trong nghĩa vụ cung cấp thông tin (38)
      • 2.1.2. Thông tin mang tính quyết định (material facts) và thông tin không mang tính quyết định (39)
      • 2.1.3. Hậu quả pháp lý khi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin đối với từng loại thông tin (42)
      • 2.2.1. Xác định lỗi và hậu quả pháp lý của các bên khi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin (43)
      • 2.2.2. Nghĩa vụ chứng minh của bên vi phạm và bên bị vi phạm (47)
    • 2.3. Điều khoản không rõ ràng trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và nguyên tắc giải thích hợp đồng (49)
      • 2.3.1. Điều khoản không rõ ràng trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (49)
      • 2.3.2. Hậu quả pháp lý khi điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm không rõ ràng và nguyên tắc giải thích hợp đồng (50)
    • 2.4 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật áp dụng đối với việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin trong bảo hiểm nhân thọ (53)
  • KẾT LUẬN (57)

Nội dung

Hiện nay, phần đa các vụ tranh chấp liên quan đến hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đều xoay quanh việc doanh nghiệp bảo hiểm quyết định từ chối trả tiền bảo hiểm đối với rủi ro của người được

Tình hình nghiên cứu

Hơn 20 năm kể từ khi Chính phủ ban hành nghị định 100-CP, lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm (KDBH) đã có nhiều bước tiến quan trọng về mặt pháp lý Nhiều công trình nghiên cứu về pháp luật KDBH đã được công bố, trong đó nổi bật là cuốn sách “Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm” của Trương Mộc Lâm và Lưu Nguyên Khánh (2001), được coi là tác phẩm đầu tiên đề cập đến đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm Các tác phẩm tiếp theo như “Giáo trình Bảo hiểm” của Nguyễn Văn Định (2008), “Giáo trình Bảo hiểm nhân thọ” của Đoàn Minh Phụng và Hoàng Mạnh Cừ (2011), cùng “Pháp luật kinh doanh bảo hiểm” của Bùi Thị Hằng Nga (2015) cũng đã đóng góp quan trọng vào việc nghiên cứu và hiểu biết về pháp luật KDBH.

Trong lĩnh vực luận văn và luận án, Trịnh Thị Bích Thủy đã nghiên cứu về "Bảo hiểm nhân thọ theo pháp luật Việt Nam" trong luận văn Thạc sĩ Luật học năm 2014, trong khi Trần Vũ Hải tập trung vào "Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam: những vấn đề lý luận và thực tiễn".

Luận án Tiến sĩ Luật học năm 2014 đã chỉ ra nhiều khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực bảo hiểm Các tài liệu tham khảo đáng chú ý bao gồm bài viết của Phí Thị Quỳnh Nga về "Giải thích hợp đồng bảo hiểm" (2007), Đỗ Văn Đại với "Một số vấn đề pháp lý phát sinh trong thực tiễn về bảo hiểm nhân thọ" (2018), và Trần Minh Hiệp phân tích "Bất cập trong quy định của pháp luật điều chỉnh hợp đồng bảo hiểm nhân thọ" (2020) Ngoài ra, nghiên cứu của Nguyễn Minh Nhật và Lâm Hồng Loan Chị về "Những hạn chế của pháp luật về hợp đồng kinh doanh Bảo hiểm trong Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện" (2020) cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về các vấn đề pháp lý hiện tại trong ngành bảo hiểm.

Các nghiên cứu pháp lý về kinh doanh bảo hiểm (KDBH) tại Việt Nam rất đa dạng và có giá trị tham khảo cao Tuy nhiên, hầu hết các tác phẩm chưa đi sâu vào nghiên cứu nghĩa vụ cung cấp thông tin, mà chỉ đề cập một cách rải rác trong các chương, mục và tiểu mục của các nghiên cứu đó.

Mục đích và đối tượng nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp nhằm phân tích và tổng hợp các quy định pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin, bao gồm nguyên tắc, khái niệm, đặc điểm và vai trò của các điều khoản liên quan Dựa trên cơ sở lý luận này, nghiên cứu sẽ đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin, đặc biệt trong lĩnh vực hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là hệ thống quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cùng với các bản án liên quan.

Các phương pháp tiến hành nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp, tác giả đã phân tích vấn đề HĐBHNT từ góc độ luật học, kết hợp lý luận các quy định pháp luật với thực tiễn áp dụng và xét xử Ngoài ra, tác giả cũng áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau.

- Phương pháp phân tích và tổng hợp

Phương pháp nghiên cứu này được áp dụng xuyên suốt trong bài khóa luận tốt nghiệp, nhằm tìm hiểu lý luận và quá trình thực hiện HĐBHNT Qua việc tổng hợp và phân tích, bài viết đưa ra những lập luận khách quan, từ đó chỉ ra những hạn chế còn tồn tại, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.

- Phương pháp so sánh pháp luật

So sánh những quy định của Pháp luật Việt Nam về HĐBHNT và một số văn bản pháp luật khác

- Phương pháp logic – hệ thống

Thông qua phương pháp nghiên cứu này, tác giả hệ thống hóa các luận điểm và đưa ra đánh giá khách quan, nhằm tìm hiểu thực tiễn, phát hiện những bất cập và đề xuất các kiến nghị để hoàn thiện.

Ý nghĩa và giá trị ứng dụng của đề tài

Bài viết này sẽ phân tích tổng quan về pháp luật hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (HĐBHNT) và cung cấp cái nhìn thực tiễn về nghĩa vụ cung cấp thông tin giữa các bên liên quan.

Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (HĐBHNT) và quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin là cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh Luật Kinh doanh bảo hiểm sắp được sửa đổi.

7 nhằm phù hợp với cam kết trong hai Hiệp định Thương mại tự do mà Việt Nam đã gia nhập gần đây là EVFTA và CPTPP.

Kết cấu của Khóa luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, khóa luận có bố cục gồm 02 chương Cụ thể như sau:

Chương 1: Khái quát chung về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật đối với việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin trong bảo hiểm nhân thọ

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN

Tổng quan về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

1.1.1 Lý luận về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

1.1.1.1 Khái quát chung về hợp đồng và hợp đồng bảo hiểm nhân thọ a Khái quát chung về hợp đồng

Hợp đồng là cơ chế quan trọng giúp xã hội vận hành, với luật hợp đồng đóng vai trò như dầu nhờn, làm cho cơ chế này hoạt động hiệu quả hơn Luật hợp đồng bao quát tất cả các khía cạnh liên quan đến việc hứa hẹn và thực hiện cam kết Là nền tảng của khối luật tư, luật hợp đồng tạo ra một môi trường công bằng và tự do cho các bên tham gia giao dịch dân sự.

Pháp luật về hợp đồng tại Việt Nam được quy định chủ yếu trong Bộ luật Dân sự (BLDS), Luật Thương mại (LTM) và các luật chuyên ngành khác BLDS đóng vai trò là văn bản định hướng chung, tạo nền tảng cho pháp luật hợp đồng Các văn bản luật chuyên ngành cung cấp quy định cụ thể cho từng loại hợp đồng, nhằm phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực.

Trong quá trình đàm phán hợp đồng, mỗi bên đều có ý chí riêng Khi ý chí của các bên gặp nhau, sự thoả thuận sẽ được hình thành, dẫn đến việc ký kết hợp đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, mỗi bên cần nỗ lực tuân thủ các cam kết đã thỏa thuận Nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ, họ có thể phải chịu các chế tài đã được quy định hoặc theo luật pháp hiện hành.

2 Jay M Feinman (2018), Law 101: Everything you need to know about American Law, NXB Oxford University Press, Tr 296

Trong quá trình giải quyết tranh chấp, việc xác định sự tồn tại của hợp đồng giữa các bên là bước đầu tiên và quan trọng Nếu hợp đồng tồn tại, cơ quan giải quyết tranh chấp sẽ áp dụng luật hợp đồng để điều chỉnh quan hệ giữa các bên; ngược lại, nếu hợp đồng không tồn tại, quan hệ đó sẽ được điều chỉnh bởi các ngành luật khác Theo lý thuyết, một hợp đồng được coi là tồn tại khi đáp ứng hai điều kiện cơ bản.

(i) Có sự thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa các bên; Và

(ii) Thỏa thuận đó nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên

Các điều kiện này cũng chính là hai yếu tố cấu thành nên khái niệm của hợp đồng được quy định trong BLDS 3

Ngoài hai điều kiện cơ bản, các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thể bao gồm các điều kiện bổ sung theo quy định của luật chuyên ngành Hợp đồng này là công cụ pháp lý linh hoạt, giúp các bên phân chia lợi ích và chia sẻ rủi ro một cách hiệu quả.

BHNT là loại bảo hiểm đảm bảo quyền lợi cho người được bảo hiểm trong trường hợp sống hoặc chết Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (HĐBHNT) có tính chất phức tạp, thường liên quan đến bốn bên: doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH), bên mua bảo hiểm (BMBH), người được bảo hiểm (NĐBH) và người thụ hưởng (NTH).

Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (HĐBHNT) là văn bản thể hiện sự thỏa thuận và thống nhất giữa bên mua bảo hiểm (BMBH) và doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) Mục đích chính của HĐBHNT là xác lập quyền lợi và nghĩa vụ của cả hai bên Nghĩa vụ cơ bản của BMBH là đóng phí bảo hiểm, trong khi DNBH có trách nhiệm chi trả số tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

Hợp đồng bảo hiểm không chỉ cần tuân thủ các điều kiện hình thành theo Bộ luật Dân sự mà còn phải đáp ứng các yêu cầu về hiệu lực theo quy định của pháp luật.

3 Điều 385 Bộ luật dân sự 2015

Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (HĐBHNT) có những điều kiện quan trọng như hình thức, năng lực chủ thể, nội dung và mục đích Đặc điểm nổi bật của HĐBHNT là tính song vụ và tính đền bù Tính song vụ thể hiện qua nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) là chi trả tiền khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, đồng thời, bên mua bảo hiểm (BMBH) có quyền yêu cầu chi trả số tiền bảo hiểm BMBH phải đóng phí bảo hiểm, trong khi DNBH có quyền thu phí này Tính đền bù trong HĐBHNT cho thấy rằng BMBH sẽ nhận được tiền bảo hiểm từ DNBH nếu xảy ra sự kiện chết hoặc sống của người được bảo hiểm (NĐBH), đổi lại, BMBH phải trả phí cho DNBH DNBH nhận tiền phí bảo hiểm từ NĐBH và cam kết thực hiện chi trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận.

1.1.1.2 Các loại hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cơ bản tại Việt Nam

Bảo hiểm nhân thọ (BHNT) có nhiều loại hợp đồng đa dạng và phức tạp, với thời hạn từ mười năm đến hàng chục năm Tại Việt Nam, các sản phẩm BHNT cơ bản bao gồm bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm trả tiền định kỳ và các nghiệp vụ khác theo quy định của Chính phủ Trong số đó, bảo hiểm tử kỳ là một sản phẩm nổi bật.

Bảo hiểm tử kỳ là một sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, chủ yếu bảo vệ người tham gia trước rủi ro tử vong Để được chi trả, sự kiện tử vong phải thỏa mãn hai điều kiện cụ thể.

(i) Thuộc phạm vi bảo hiểm; Và

Trong thời gian hiệu lực của hợp đồng, doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) có trách nhiệm chi trả một khoản tiền theo thỏa thuận khi người được bảo hiểm (NĐBH) qua đời, với điều kiện là phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm.

4 Khoản 1 Điều 402 Bộ luật Dân sự 2015

5 Điều 7 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010, 2019

6 Khoản 14, Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010, 2019

Phí bảo hiểm tử kỳ thường thấp hơn nhiều so với số tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm cam kết chi trả, do tính chắc chắn trong việc chi trả khoản tiền này không cao và phải đáp ứng điều kiện về thời hạn hợp đồng Trong khi đó, bảo hiểm trọn đời cung cấp sự bảo vệ lâu dài hơn.

Bảo hiểm trọn đời là sản phẩm bảo hiểm nhân thọ (BHNT) với tính năng bảo vệ cho trường hợp tử vong của người được bảo hiểm (NĐBH) Khác với bảo hiểm tử kỳ, hợp đồng bảo hiểm trọn đời không có thời hạn xác định Do đó, nếu hợp đồng vẫn còn hiệu lực, doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) sẽ chi trả số tiền bảo hiểm đã thỏa thuận cho người thụ hưởng bất cứ lúc nào khi NĐBH qua đời, với điều kiện là phí bảo hiểm đã được đóng đầy đủ.

Nghĩa vụ cung cấp thông tin trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

1.2.1 Nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn tiền giao kết hợp đồng

Giai đoạn tiền giao kết hợp đồng bảo hiểm bắt đầu khi doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) hoặc bên mua bảo hiểm (BMBH) thể hiện ý định ký kết hợp đồng qua việc gửi thư yêu cầu, thương lượng và đàm phán Trong giai đoạn này, cả DNBH và BMBH chưa bị ràng buộc bởi hợp đồng bảo hiểm, nhưng đã hình thành mối liên kết giữa hai bên.

49 Khoản 3 Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015

24 giữa các bên thông qua quá trình tìm hiểu, trao đổi và thỏa thỏa thuận các vấn đề liên quan đến nội dung hợp đồng

Một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu trong quá trình trao đổi giữa các bên là việc cung cấp thông tin nhằm tăng cường sự hiểu biết về đối phương Những thông tin này có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định giao kết hợp đồng Mục đích chính của bảo hiểm là bảo vệ trước các rủi ro trong tương lai, đặc biệt là trong bảo hiểm nhân thọ, nơi đối tượng bảo hiểm là tuổi thọ và tính mạng con người, những yếu tố vô hình và khó xác định Thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm có thể rất xa so với lúc hợp đồng được thiết lập Hơn nữa, số tiền bảo hiểm và số lượng hợp đồng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ rất lớn, yêu cầu một tiềm lực kinh tế đáng kể từ doanh nghiệp bảo hiểm Do đó, việc cung cấp và đánh giá thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng là vô cùng quan trọng.

DNBH yêu cầu BMBH điền vào bản tự khai với các thông tin quan trọng như sức khỏe, tiền sử bệnh tật, thông tin nhân thân, gia đình, và thói quen sinh hoạt Những thông tin này giúp DNBH quyết định việc ký hợp đồng và tính phí bảo hiểm Đặc biệt, thông tin về sức khỏe và tiền sử bệnh tật thường có sai sót, dẫn đến tranh chấp Do đó, BMBH phải cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực và chính xác để đảm bảo quyền lợi của cả hai bên.

50 Khoản 1, Điều 34, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2010, 2019

51 Điểm b, Khoản 1, Điều 17 và Điểm b, Khoản 2 Điều 18 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2010, 2019

DNBH có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin về hợp đồng bảo hiểm, bao gồm hướng dẫn và giải thích các điều khoản, quyền và nghĩa vụ của các bên, cũng như điều kiện bảo hiểm cho BMBH Hợp đồng bảo hiểm thường được soạn thảo bởi các chuyên gia pháp lý, do đó BMBH, với kiến thức và thời gian hạn chế, có thể gặp khó khăn trong việc hiểu rõ nội dung Vì vậy, DNBH cần phải giải thích một cách khách quan và trung thực những thuật ngữ chuyên ngành cũng như hậu quả pháp lý có thể xảy ra để BMBH nắm rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình.

BMBH quan tâm đến việc xác minh khả năng chi trả của DNBH khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, tuy nhiên, hiện tại pháp luật chưa quy định rõ ràng về nghĩa vụ cung cấp thông tin để đảm bảo khả năng thanh toán của DNBH đối với BMBH.

Mặc dù kinh doanh bảo hiểm là ngành nghề có điều kiện, chịu sự giám sát của

Bộ Tài chính cùng các cơ quan liên quan yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ (DNBH) phải đáp ứng điều kiện về vốn pháp định tối thiểu là 600 tỉ đồng hoặc 1000 tỉ đồng Ngoài ra, DNBH cũng cần đảm bảo sở hữu tài sản tối thiểu theo quy định.

Các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) nước ngoài cần có vốn tối thiểu 2 tỷ đô la Mỹ, trong khi DNBH Việt Nam yêu cầu ít nhất 2.000 tỷ đồng Ngoài ra, có những yêu cầu đặc biệt khác Tuy nhiên, nếu có cơ chế cho phép các BMBH tiếp cận những số liệu cần thiết, quyền lợi của họ sẽ được đảm bảo phần nào.

Các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) nắm giữ nhiều thông tin cá nhân bí mật của người mua bảo hiểm, điều này tạo ra rủi ro cho việc tiết lộ thông tin cho bên thứ ba không vì mục đích thực hiện hợp đồng Theo quy định pháp luật, DNBH có thể trở thành mục tiêu của tội phạm mạng, những kẻ có ý định đánh cắp thông tin cá nhân để bán lại và thu lợi bất chính.

52 Điểm a, Khoản 2, Điều 17 và Khoản 1, Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2010, 2019

Điều 7 trong Nghị định 73/2016/NĐ-CP quy định chi tiết về việc thi hành Luật kinh doanh bảo hiểm, cũng như các sửa đổi và bổ sung liên quan đến một số điều của luật này Nghị định này nhằm mục đích tạo ra khung pháp lý rõ ràng và cụ thể cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm, đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong việc quản lý và giám sát ngành bảo hiểm.

Khách hàng là người duy nhất có quyền quyết định ai được tiếp cận dữ liệu cá nhân của họ, ngoại trừ trường hợp phải cung cấp theo yêu cầu của pháp luật, như từ cơ quan điều tra Do đó, các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) có trách nhiệm bảo mật thông tin khách hàng, đảm bảo an toàn dữ liệu và không sử dụng thông tin cho mục đích trái pháp luật Họ cũng cần thực hiện các biện pháp bảo vệ cơ sở dữ liệu để ngăn chặn sự xâm nhập từ tin tặc.

Nghĩa vụ bảo mật thông tin đã được quy định trong một số văn bản luật, nhưng chỉ áp dụng cho “thông tin bí mật” Những thông tin không phải bí mật không thuộc nghĩa vụ này Hiện tại, chưa có định nghĩa rõ ràng về “thông tin bí mật”, nhưng có thể hiểu là thông tin không được công bố rộng rãi hoặc chỉ được chia sẻ trong một nhóm người nhất định với cam kết bảo mật Đến nay, Luật KDBH vẫn chưa quy định cụ thể về nghĩa vụ bảo mật thông tin của DNBH đối với thông tin do BMBH cung cấp.

Một vấn đề đáng chú ý là các câu hỏi từ DNBH có thể không liên quan hoặc không phục vụ cho việc giao kết HĐBH, dẫn đến BMBH trả lời sai hoặc không muốn cung cấp thông tin Đồng thời, yêu cầu từ BMBH đối với DNBH về báo cáo kết quả kinh doanh và các khoản lãi lỗ có thể vi phạm chính sách bảo mật Tuy nhiên, việc không cung cấp thông tin từ các bên liệu có được xem là vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin hay không vẫn chưa được pháp luật quy định rõ ràng.

1.2.2 Nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn thực hiện hợp đồng

Sau khi ký hợp đồng, các bên bắt đầu thực hiện quyền và nghĩa vụ theo thỏa thuận Tuy nhiên, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thường có thời hạn dài, trong khi nhu cầu của bên mua bảo hiểm có thể thay đổi Việc khai báo thông tin ban đầu có thể chứa sai sót, dẫn đến hợp đồng không còn phù hợp với thực tế hiện tại, gây bất lợi cho các bên liên quan.

54 Khoản 1, Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2010, 2019

55 Khoản 2, Điều 387, Bộ luật Dân sự 2015

Việc bổ sung và thay đổi thông tin cần thiết trong hợp đồng là rất quan trọng, giúp đánh giá lại các điều khoản và xem xét nhu cầu của các bên liên quan Cần xác định nguyên nhân của sự thay đổi và lựa chọn phương án giải quyết phù hợp để đảm bảo lợi ích kinh tế cho tất cả.

Nghĩa vụ cung cấp thông tin giữa các bên vẫn tiếp tục tồn tại ngay cả sau khi hợp đồng đã được ký kết Việc thực hiện nghĩa vụ này thể hiện rõ nguyên tắc trung thực và thiện chí trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI THỰC HIỆN NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN TRONG BẢO HIỂM NHÂN THỌ

Phân loại thông tin trong nghĩa vụ cung cấp thông tin

2.1.1 Xác định loại thông tin trong nghĩa vụ cung cấp thông tin

Nghĩa vụ cung cấp thông tin là một yêu cầu bắt buộc trong hợp đồng, theo quy định của Luật KDBH hiện hành Luật này quy định rõ về việc vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin và hậu quả pháp lý liên quan Tuy nhiên, không phải tất cả thông tin sai lệch đều được coi là vi phạm; cần phân loại thông tin để xác định rõ vi phạm hay không Việc không phân loại thông tin có thể dẫn đến hiểu lầm, khiến bên nhận thông tin cho rằng bên cung cấp đã vi phạm, từ đó có thể áp dụng các biện pháp nghiêm khắc như hủy bỏ hợp đồng hoặc đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng.

Các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) thường yêu cầu bên mua bảo hiểm (BMBH) cung cấp nhiều thông tin khi ký kết hợp đồng Tuy nhiên, không phải tất cả thông tin đều liên quan trực tiếp đến giao kết Mức độ quan trọng của các thông tin này thay đổi tùy theo từng BMBH, đối tượng bảo hiểm và gói bảo hiểm cụ thể Trong trường hợp DNBH đã giải thích các điều khoản hợp đồng, nhưng do số lượng câu hỏi quá lớn và tính chất phức tạp, BMBH có thể không hiểu đúng hoặc nghĩ rằng mình đã hiểu, dẫn đến việc điền sai thông tin Nếu DNBH cho rằng BMBH vi phạm nghĩa vụ, cần xem xét loại thông tin mà BMBH đã cung cấp để tìm ra giải pháp pháp lý thích hợp Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có quy định rõ ràng về vấn đề này.

35 có văn bản pháp luật nào quy định về việc phân loại thông tin theo nghĩa vụ cung cấp thông tin trong HĐBH nhân thọ

2.1.2 Thông tin mang tính quyết định (material facts) và thông tin không mang tính quyết định

Nếu một bên sở hữu thông tin có thể ảnh hưởng đến việc chấp nhận hợp đồng, họ phải thông báo ngay cho bên kia Bên mua bảo hiểm sẽ vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin nếu không thực hiện thông báo này.

(i) BMBH có hành vi khai báo thông tin không đúng theo yêu cầu của DNBH;

(ii) Thông tin được yêu cầu cung cấp là căn cứ quyết định việc giao kết hợp đồng của DNBH

Thông tin quyết định là yếu tố then chốt trong việc giao kết hợp đồng bảo hiểm (HĐBH) Nếu nhà đầu tư bảo hiểm (DNBH) biết trước những thông tin này, họ có thể xem xét lại hoặc từ chối giao kết HĐBH với bên mua bảo hiểm (BMBH) BMBH cần cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ và rõ ràng để tránh gây nhầm lẫn cho DNBH Ngược lại, thông tin không mang tính quyết định không ảnh hưởng đến quyết định giao kết HĐBH.

(i) DNBH đã biết hoặc buộc phải biết tại thời điểm giao kết; Hoặc

(ii) Cho dù DNBH biết thông tin đó trước thời điểm giao kết thì vẫn không làm ảnh hưởng đến ý định giao kết HĐBH với BMBH

Trong Bản án 313/2016/DS-PT ngày 16/03/2016, liên quan đến tranh chấp hợp đồng bảo hiểm, bà H là người được bảo hiểm trong hợp đồng nhân thọ ký kết bởi chồng bà với công ty bảo hiểm C Trong đơn yêu cầu bảo hiểm, công ty đã đặt câu hỏi về việc trong 5 năm qua, bà H và chồng có thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán như X-quang, siêu âm, điện tim đồ, thử máu hay sinh thiết, cũng như có mắc bệnh hay không.

72 Khoản 1, Điều 387, Bộ luật Dân sự 2015

Bà H đã không khai báo về tình trạng sức khỏe của mình trong Đơn yêu cầu bảo hiểm, mặc dù một năm trước đó, bà đã thực hiện xét nghiệm hóa sinh máu và phát hiện mỡ máu tăng Sau khi bà H tử vong, công ty bảo hiểm từ chối chi trả tiền bảo hiểm, cho rằng bà đã vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin DNBH khẳng định rằng nếu biết tình trạng sức khỏe của bà, họ sẽ không ký hợp đồng bảo hiểm.

Như đã phân tích ở trên, để xác định bà H vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin cần thỏa mãn hai điều kiện:

(i) Bà H khai báo thông tin không đúng theo yêu cầu của DNBH; Và

(ii) Thông tin bà H khai là thông tin mang tính quyết định để DNBH giao kết hợp đồng

Có thể thấy rằng với điều kiện (i), bà H mặc dù đã xét nghiệm máu trong vòng

Trong vòng 5 năm qua, việc không cung cấp thông tin đúng hạn có thể được xem là hành vi cung cấp thông tin sai lệch.

Tuy nhiên, với điều kiện (ii), cần tìm câu trả lời cho câu hỏi: Nếu tại thời điểm giao kết, DNBH biết bà H đã từng xét nghiệm máu, liệu họ có thay đổi ý định giao kết hoặc từ chối ký kết HĐBH hay không? Trên thực tế, DNBH cũng

Mặc dù Tòa án nhận định rằng bà H không biết và không buộc phải biết về các biện pháp khám chữa bệnh được thực hiện, tác giả cho rằng với trình độ tương đương và hoàn cảnh tương tự, bà H chắc chắn sẽ biết rằng cơ sở y tế đã tiến hành xét nghiệm máu cho mình Là một cán bộ giáo dục, bà H cần có sự quan tâm đến sức khỏe bản thân, cùng với nhiều lần khám định kỳ trước đó, bà có trách nhiệm phải hiểu các biện pháp khám chữa bệnh thông thường, bao gồm cả xét nghiệm máu Hơn nữa, việc nhân viên y tế lấy máu trong quá trình khám là bằng chứng rõ ràng cho thấy bà H phải nhận thức rằng mình đã được xét nghiệm máu trong đợt khám định kỳ này.

Trong trường hợp ký kết hợp đồng bảo hiểm với cá nhân có tình trạng "mỡ máu tăng cao", DNBH đã đồng ý bán sản phẩm với mức phí chuẩn, cho thấy khả năng họ cũng sẽ ký hợp đồng với bà H nếu biết về bệnh lý này Mặc dù DNBH khẳng định sẽ từ chối bảo hiểm nếu biết kết quả xét nghiệm của bà H, luật sư của họ lại cho rằng sẽ chỉ "cân nhắc" việc ký hợp đồng Sự không nhất quán trong cách giải quyết cho thấy DNBH chưa có phương án cụ thể nếu biết trước tình trạng sức khỏe của bà H.

Các lập luận trên chứng minh rõ ràng rằng DNBH không có cơ sở để tuyên bố sẽ thay đổi ý định hoặc từ chối ký kết hợp đồng bảo hiểm nếu như biết thông tin về bà.

H đã từng xét nghiệm máu cho chỉ số mỡ máu cao

Thông tin về mức độ mỡ máu của NĐBH không phải là yếu tố quyết định trong việc ký hợp đồng bảo hiểm Dù DNBH không cần biết thông tin bệnh lý của bà H, nhưng có bằng chứng cho thấy họ vẫn ký hợp đồng bảo hiểm ngay cả khi biết về tình trạng bệnh lý trước đó Cụ thể, DNBH đã ký hợp đồng với một cá nhân khác có tình trạng bệnh lý tương tự và mức phí bảo hiểm cũng tương tự như của bà H.

Qua phân tích bản án, có thể thấy rằng việc xác định thông tin quyết định cần dựa vào bằng chứng cụ thể, và chỉ khi xảy ra tranh chấp, các bằng chứng này mới được cơ quan có thẩm quyền làm sáng tỏ Trong vụ án này, BMBH may mắn có nhân chứng là khách hàng của DNBH, người đã đứng ra làm chứng về tiền sử bệnh tật, lý do DNBH từ chối bảo hiểm Điều này cho thấy DNBH sẽ đối xử với NĐBH tương tự nếu biết trước tiền sử bệnh của họ, do đó không thể từ chối bảo hiểm Trong những vụ án khác không có nhân chứng, diễn biến có thể khác biệt Những tình huống pháp lý tương tự có thể xảy ra, vì khi giao kết BMBH, thông tin quan trọng không được biết rõ.

DNBH sẽ không thanh toán tiền bảo hiểm nếu có khai báo sai, vì vậy BMBH cần điền thông tin một cách chính xác hoặc yêu cầu DNBH giải thích rõ ràng Do đó, pháp luật cần thiết lập các quy định cụ thể về phân loại thông tin để hạn chế các tình huống tương tự xảy ra.

2.1.3 Hậu quả pháp lý khi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin đối với từng loại thông tin

Khi phân loại thông tin mà BMBH cung cấp cho DNBH thành hai loại: thông tin mang tính quyết định và thông tin không mang tính quyết định, chúng ta nhận thấy rằng hậu quả pháp lý của từng loại thông tin này là khác nhau.

Điều khoản không rõ ràng trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và nguyên tắc giải thích hợp đồng

2.3.1 Điều khoản không rõ ràng trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Đối tượng HĐBH nhân thọ là rủi ro có thể xảy ra nhưng vì là rủi ro nên không thể lường trước được Do đó các bên đều phải tính toán, cân nhắc các lợi ích được và mất trước khi tham gia giao kết BMBH sẽ cân nhắc giữa thu nhập kinh tế bị mất nếu rủi ro xảy ra và khoản phí bảo hiểm phải đóng Ngược lại DNBH cân nhắc giữa phí bảo hiểm nhận được và số tiền bảo hiểm phải chi trả khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Khi sự tính toán lợi lịch của các bên gặp nhau sẽ là điều kiện để hình thành nên thỏa Với vai trò là bên soạn thảo nội dung trong HĐBH nhân thọ, các chuyên gia pháp lý của DNBH sẽ tiến hành soạn các điều khoản để phân bổ rủi ro Đặc biệt là DNBH sẽ soạn ra bộ câu hỏi xoay quanh về nhiều vấn đề liên quan đến BMBH và yêu cầu BMBH phải trả lời trung thực nhằm hiểu biết nhiều nhất về các rủi ro

Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thường chứa nhiều câu hỏi phức tạp, dẫn đến ngôn ngữ không rõ ràng và dễ gây nhầm lẫn cho các bên liên quan Do HĐBH là hợp đồng theo mẫu, bên mua bảo hiểm (BMBH) chỉ có thể chấp nhận hoặc từ chối toàn bộ nội dung mà không có quyền đàm phán hay sửa đổi Điều này có thể tạo ra tình huống hiểu lầm, khi bên mua hỏi một vấn đề nhưng bên bảo hiểm (DNBH) lại trả lời không đúng hoặc không liên quan Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, DNBH có thể từ chối thanh toán vì cho rằng BMBH đã không khai báo trung thực, trong khi BMBH lại khẳng định rằng câu trả lời của họ là chính xác.

85 Khoản 3, Điều 351 và Điều 363 Bộ luật Dân sự năm 2015

Trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, tranh cãi về cách hiểu các điều khoản thường không xảy ra trong giai đoạn tiền giao kết mà chỉ bùng phát khi có sự kiện bảo hiểm Trước khi chi trả tiền bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) cần đánh giá thông tin và hồ sơ liên quan đến bên mua bảo hiểm (BMBH), đặc biệt là việc BMBH có vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin hay không DNBH có thể phát hiện thông tin không chính xác trong đơn yêu cầu bảo hiểm của BMBH, dẫn đến việc từ chối chi trả Trong khi đó, BMBH khẳng định thông tin mình cung cấp là chính xác, tạo ra sự khác biệt trong cách hiểu giữa hai bên về các điều khoản hợp đồng Điều khoản không rõ ràng, thường do trình độ soạn thảo kém hoặc thiếu sự thống nhất về định nghĩa, có thể gây khó khăn trong việc hiểu và thực hiện hợp đồng.

2.3.2 Hậu quả pháp lý khi điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm không rõ ràng và nguyên tắc giải thích hợp đồng

Trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, điều khoản giải thích các thuật ngữ và định nghĩa pháp lý rất quan trọng để đảm bảo sự hiểu biết thống nhất giữa các bên Những điều khoản này thường được đặt ở phần đầu của hợp đồng Nếu các điều khoản giải thích không đầy đủ hoặc không rõ ràng, các thuật ngữ sẽ được hiểu theo các nguyên tắc pháp luật hiện hành Những nguyên tắc này không chỉ bổ sung cho các quy định trong hợp đồng mà còn hướng dẫn cách giải thích các điều khoản và thuật ngữ đã được các bên thỏa thuận.

(i) Điều khoản không rõ ràng, khó hiểu và có nhiều cách hiểu khác nhau; Hoặc

86 Đỗ Văn Đại, 2019, Giải quyết tranh chấp hợp đồng – Những điều doanh nhân cần biết, Nhà xuất bản Thanh niên, trang 59 – trang 63

(ii) Các điều khoản do một bên soạn ra và có thể khiến cho bên còn lại gặp bất lợi

Để đánh giá hợp đồng bảo hiểm một cách toàn diện, cần xem xét mối quan hệ giữa tất cả các điều khoản, không chỉ tập trung vào từ ngữ tranh chấp Cần đánh giá ý chí của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng, mục đích và tính chất của hợp đồng, cũng như bối cảnh lịch sử tại thời điểm giao kết Ngoài ra, ngôn ngữ và phong tục tập quán nơi giao kết cũng đóng vai trò quan trọng, và trong một số trường hợp, thói quen đã được các bên xây dựng trong quá khứ cũng cần được xem xét.

Nếu vị thế của các bên trong hợp đồng không cân bằng, với một bên đưa ra nội dung bất lợi hoặc hợp đồng mẫu có điều khoản không rõ ràng, thì hợp đồng sẽ được giải thích có lợi cho bên bị thiệt thòi Bên đưa ra nội dung bất lợi và hợp đồng mẫu được coi là bên có vị thế mạnh hơn, trong khi BMBH được xem là bên yếu thế Do đó, DNBH, bên cung cấp hợp đồng mẫu, sẽ phải chịu bất lợi khi có sự không rõ ràng trong việc giải thích các điều khoản.

Bản án 313/2016/DS-PT ngày 16/03/2016 liên quan đến tranh chấp hợp đồng bảo hiểm đã nêu rõ các vấn đề trong Đơn yêu cầu bảo hiểm, đặc biệt là việc xác định tính hợp lệ của yêu cầu Tình huống cụ thể trong vụ án này làm nổi bật các điều khoản và điều kiện của hợp đồng bảo hiểm, cũng như quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan Việc xem xét kỹ lưỡng các chứng cứ và quy định pháp luật là cần thiết để giải quyết tranh chấp một cách công bằng và hợp lý.

NĐBH đã bị từ chối thanh toán bảo hiểm sau khi tử vong do DNBH phát hiện có tiền sử “đau dạ dày” trước khi ký hợp đồng DNBH lập luận rằng cụm từ “rối loạn dạ dày” đã bao hàm tất cả các bệnh liên quan, bao gồm cả “đau dạ dày”, dẫn đến việc NĐBH không khai báo trung thực và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin.

87 Điều 404, Bộ luật Dân sự

88 Khoản 6, Điều 404 và Khoản 2, Điều 405, Bộ luật Dân sự

89 Điều 21, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2010, năm 2019

Trong trường hợp bảo hiểm, có 48 lý do khiến hợp đồng bảo hiểm không có hiệu lực Bên mua bảo hiểm (BMBH) cho rằng "rối loạn dạ dày" khác với "đau dạ dày", do đó việc không khai báo là hợp lý Tuy nhiên, câu hỏi trong Đơn yêu cầu bảo hiểm từ doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) không rõ ràng, dẫn đến sự hiểu nhầm giữa các bên Trọng tâm của tranh cãi pháp lý là liệu "rối loạn dạ dày" có bao gồm "đau dạ dày" hay không Cơ quan xét xử đã không chấp nhận lý do từ chối bảo hiểm của DNBH vì không có cơ sở cho rằng BMBH đã vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi không trả lời câu hỏi về "rối loạn dạ dày", mặc dù trước đó BMBH đã bị "đau dạ dày".

DNBH có trách nhiệm giải thích các điều khoản và điều kiện trong hợp đồng, đặc biệt là các thuật ngữ chuyên ngành như y học, khoa học và kinh tế Khi xảy ra tranh chấp, DNBH phải chứng minh đã giải thích rõ ràng các điều khoản cho BMBH, giúp họ thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác BMBH không thể lạm dụng nghĩa vụ của DNBH để cho rằng tất cả các thuật ngữ trong HĐBH đều khó hiểu Những thuật ngữ mà BMBH cần hiểu phải là những thuật ngữ cơ bản, đơn giản mà người bình thường có trình độ tương tự có thể hiểu Tuy nhiên, DNBH không thể chứng minh đã giải thích cụm từ “rối loạn dạ dày” cho BMBH.

Cụm từ "đau dạ dày" không chỉ đơn thuần là kiến thức thông thường mà còn là đối tượng cần được cung cấp thông tin DNBH không thể viện dẫn rằng đây là kiến thức phổ thông, vì cụm từ này không nằm trong câu hỏi mà họ đưa ra Những thông tin không được đề cập trong câu hỏi không tự động trở thành nghĩa vụ cung cấp thông tin Hơn nữa, trong phiên xét xử, DNBH cũng không đưa ra được bất kỳ cơ sở khoa học nào để chứng minh cho quan điểm của mình.

90 Đỗ Văn Đại, 2019, Giải quyết tranh chấp hợp đồng – Những điều doanh nhân cần biết, Nhà xuất bản Thanh niên, Trang 64 - 67

91 Đỗ Văn Đại (2018), Một số vấn đề pháp lý phát sinh trong thực tiễn về bảo hiểm nhân thọ, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 7 (119), Trang 56

Bệnh "rối loạn dạ dày", bao gồm cả "đau dạ dày", thường gặp phải sự nhầm lẫn do các điều khoản trong hợp đồng không rõ ràng, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau giữa các bên liên quan.

Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (HĐBH) là mẫu hợp đồng do doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) soạn thảo, trong khi bên mua bảo hiểm (BMBH) không có quyền đàm phán và thường thiếu thời gian cũng như nguồn lực để hiểu rõ nội dung hợp đồng Điều này tạo ra sự bất lợi cho BMBH, do đó pháp luật bảo vệ quyền lợi của họ bằng cách giải thích HĐBH theo hướng có lợi cho BMBH Hai bên có trách nhiệm khác nhau: BMBH không vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin, và DNBH không thể từ chối chi trả số tiền bảo hiểm.

Kiến nghị hoàn thiện pháp luật áp dụng đối với việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin trong bảo hiểm nhân thọ

vụ cung cấp thông tin trong bảo hiểm nhân thọ

Hoàn thiện pháp luật hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, đặc biệt là nghĩa vụ cung cấp thông tin của các bên, là cần thiết để khuyến khích giao kết hợp đồng và giảm thiểu rủi ro pháp lý Điều này không chỉ giảm tổn thất cho xã hội mà còn thúc đẩy sự phát triển của ngành bảo hiểm nhân thọ Dựa trên lý luận về nghĩa vụ cung cấp thông tin và phân tích thực tiễn, tác giả đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm cải thiện quy định về nghĩa vụ này.

Nguyên tắc trung thực và thiện chí là yếu tố cốt lõi trong pháp luật về hợp đồng, đặc biệt trong lĩnh vực hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Nguyên tắc này yêu cầu sự trung thực tuyệt đối trong việc cung cấp thông tin, phản ánh tính đặc thù của ngành bảo hiểm Nó được áp dụng không chỉ trong giai đoạn trước khi ký kết hợp đồng mà còn kéo dài đến giai đoạn sau khi ký kết và khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

Tuy nhiên, Điều 6 của Luật Kinh doanh bảo hiểm không đề cập đến nguyên tắc trung thực tuyệt đối trong hoạt động bảo hiểm Do đó, cần xem xét và bổ sung nguyên tắc này để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong ngành bảo hiểm.

Nguyên tắc trung thực tuyệt đối là một trong những nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm, đặc biệt là trong bảo hiểm nhân thọ, và đóng vai trò định hướng quan trọng trong toàn bộ Luật Kinh doanh bảo hiểm.

Bảo hiểm BMBH yêu cầu kê khai nhiều thông tin đầy đủ và chính xác để tránh rủi ro bị từ chối thanh toán khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Đồng thời, DNBH cũng có trách nhiệm giải thích hợp đồng Tuy nhiên, do khối lượng thông tin lớn, BMBH có thể gặp sai sót, và không phải tất cả thông tin đều quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng giao kết của DNBH.

Để đảm bảo tính chính xác và trung thực trong việc cung cấp thông tin, DNBH cần phân loại thông tin một cách rõ ràng, giúp BMBH tập trung vào các thông tin quyết định cho việc giao kết hợp đồng Việc phân loại này cũng là cơ sở để xác định khi nào việc cung cấp sai thông tin trở thành hành vi vi phạm nghĩa vụ, dẫn đến khả năng DNBH chấm dứt hợp đồng Do đó, cần sớm hoàn thiện quy định về các tiêu chí xác định “thông tin mang tính chất quyết định” và “thông tin không mang tính chất quyết định”, cùng với các phương pháp phân loại thông tin và định nghĩa, giải thích các thuật ngữ liên quan.

Cần bổ sung quy định pháp luật về nghĩa vụ bảo mật thông tin, xác định rõ thông tin bí mật và các biện pháp mà doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) phải thực hiện để bảo vệ thông tin Thời gian nắm giữ thông tin của bên mua bảo hiểm (BMBH) chỉ được giới hạn trong thời gian hợp đồng bảo hiểm nhân thọ còn hiệu lực Sau khi hợp đồng hết hiệu lực, DNBH phải xóa tất cả thông tin cá nhân của khách hàng, có thể thỏa thuận mua lại thông tin người dùng hoặc ít nhất là ký kết cam kết giữ bí mật thông tin của BMBH.

Đảm bảo quyền lợi của bên yếu thế là ưu tiên hàng đầu của pháp luật Bên mua bảo hiểm (BMBH) sẽ được pháp luật bảo vệ khi hợp đồng chứa các điều khoản không rõ ràng do bên doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) soạn thảo Việc giải thích các điều khoản không rõ ràng phải được thực hiện theo hướng có lợi cho BMBH.

Pháp luật cần quy định rõ ràng về việc BMBH từ bỏ quyền lợi của bên yếu thế Khi các bên đã thảo luận và BMBH chấp nhận rủi ro liên quan đến các điều khoản hợp đồng, việc giải thích hợp đồng có thể diễn ra theo hướng có lợi hoặc bất lợi cho BMBH Thỏa thuận này phải dựa trên sự tự nguyện của các bên, trừ khi BMBH không biết đến sự tồn tại của điều khoản bất lợi Do đó, BMBH không thể viện dẫn các điều khoản bất lợi để không tuân thủ hợp đồng đã ký kết Pháp luật cần đảm bảo rằng BMBH đã đọc, hiểu rõ các hậu quả pháp lý và đồng ý với các điều khoản trong hợp đồng, đồng thời từ bỏ quyền yêu cầu các điều khoản không có hiệu lực hoặc được giải thích có lợi cho bên yếu thế.

Khi các bên vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin có thể dẫn đến hậu quả là

Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thể bị vô hiệu, cho phép một bên đơn phương đình chỉ hoặc hủy bỏ hợp đồng Tuy nhiên, hậu quả pháp lý của hai hành động này là khác nhau Cần làm rõ cách sử dụng thuật ngữ “đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng” để hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan.

Hợp đồng vô hiệu do vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin cần được xem xét lại, nhằm đảm bảo tính thống nhất trong quy định pháp luật Việc sửa đổi các quy định liên quan sẽ giúp cải thiện tính minh bạch và hiệu quả trong việc thực thi hợp đồng.

Thuật ngữ “đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng” hiện chưa thống nhất với các quy định pháp luật hiện hành, đặc biệt là trong Luật KDBH, nơi không có quy định rõ ràng về hậu quả pháp lý của việc này Trong khi đó, quy định tương tự chỉ xuất hiện trong Điều 310 của Luật Thương mại, nơi “đình chỉ thực hiện hợp đồng” được coi là chế tài thương mại áp dụng cho các bên Tuy nhiên, khoản 1 và khoản 2 Điều 20 của Luật KDBH lại không thuộc trường hợp áp dụng chế tài thương mại, do đó cần xem xét sửa đổi các khoản này để đảm bảo tính thống nhất và rõ ràng trong quy định pháp luật.

Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) không chấp nhận giảm phí bảo hiểm hoặc bên mua bảo hiểm (BMBH) không đồng ý với việc tăng phí bảo hiểm, bên còn lại có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng Tương tự, theo Khoản 2 Điều 35 của Luật Kinh doanh bảo hiểm, khi BMBH vi phạm thời hạn gia hạn, thuật ngữ “đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng” cần được điều chỉnh thành “đơn phương chấm dứt hợp đồng” để phản ánh đúng bản chất của hành vi vi phạm.

Khi xử lý thông tin không chính xác, cần phân biệt giữa lỗi cố ý và lỗi vô ý của bên cung cấp Đối với lỗi cố ý, bên bị vi phạm có quyền đơn phương đình chỉ hoặc hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại Ngược lại, trong trường hợp lỗi vô ý, có thể xem xét giảm nhẹ trách nhiệm và xác định tính quyết định của thông tin sai lệch Nếu thông tin không mang tính quyết định, các bên nên sửa đổi hợp đồng thay vì hủy bỏ Pháp luật cần quy định rõ ràng về tình huống này trong các văn bản luật để hạn chế việc hủy bỏ hoặc đình chỉ hợp đồng.

Ngày đăng: 16/12/2024, 10:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3.1. Đỗ Văn Đại (2018), Một số vấn đề pháp lý phát sinh trong thực tiễn về bảo hiểm nhân thọ, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 7 (119) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề pháp lý phát sinh trong thực tiễn về bảo hiểm nhân thọ
Tác giả: 1. Đỗ Văn Đại
Năm: 2018
3.5. Trương Nhật Quang (2020), Nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 17 (417) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng
Tác giả: 5. Trương Nhật Quang
Năm: 2020
3.6. Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (2020), Bản tin Bảo hiểm và Đời sống, số 139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin Bảo hiểm và Đời sống
Tác giả: 6. Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam
Năm: 2020
1.1. Bộ luật Dân sự 2015, Quốc hội ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2015 Khác
1.4. Nghị định 73/2016/NĐ-CP, Chính phủ ban hành ngày 01 tháng 07 năm 2016, quy định chi tiết thi hành Luật kinh doanh bảo hiểm và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật kinh doanh bảo hiểm Khác
2. Bản án xét xử tại Việt Nam Bản án 313/2016/DS-PT ngày 16/03/2016 về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.3. Tạp chí nghiên cứu Khác
3. Jay M. Feinman (2018), Law 101: Everything you need to know about American Law, NXB Oxford University Press, Tr. 296 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w