1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh tỉnh tây ninh

70 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính Sách Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Tỉnh Tây Ninh
Tác giả Lê Huỳnh Chi Loan
Người hướng dẫn TS. Vũ Thành Tự Anh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM
Chuyên ngành Chuyên Ngành Chính Sách Công
Thể loại Luận Văn Thạc Sỹ Kinh Tế
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,25 MB

Cấu trúc

  • Chương 1: Giới thiệu vấn đề nghiên cứu (11)
    • 1.1 Bối cảnh nghiên cứu (11)
    • 1.2 Mục đích nghiên cứu (13)
    • 1.3 Câu hỏi nghiên cứu (13)
    • 1.4 Phương pháp nghiên cứu (13)
    • 1.5 Nội dung bố cục (15)
    • 1.6 Hạn chế của đề tài (15)
  • Chương 2: Bối cảnh tình hình phát triển kinh tế tỉnh Tây Ninh (17)
    • 2.1 Các chỉ tiêu phản ánh mức độ phát triển kinh tế (17)
      • 2.1.1 Tổng sản phẩm quốc nội và thu nhập bình quân đầu người (17)
      • 2.1.2 Cơ cấu kinh tế (23)
      • 2.1.3 Năng suất LĐ (26)
    • 2.2 Một số kết quả kinh tế trung gian (28)
      • 2.2.1 Xuất nhập khẩu (28)
      • 2.2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (29)
      • 2.2.3 Khu công nghiệp (32)
  • Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh tỉnh Tây Ninh (33)
    • 3.1 Các yếu tố lợi thế tự nhiên của địa phương (33)
      • 3.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên (33)
      • 3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên (33)
    • 3.2 Năng lực cạnh tranh ở cấp độ địa phương (35)
      • 3.2.1 Cơ sở hạ tầng xã hội (35)
      • 3.2.2 Cơ cấu ngân sách (38)
    • 3.3 NLCT ở cấp độ DN (43)
      • 3.3.1 Chất lượng môi trường kinh doanh và cơ sở hạ tầng kỹ thuật (43)
      • 3.3.2 Trình độ phát triển cụm ngành (46)
      • 3.3.3 Trình độ công nghệ sản xuất công nghiệp (47)
  • Chương 4: Đánh giá và gợi ý chính sách (50)
    • 4.1 Đánh giá năng lực cạnh tranh tỉnh Tây Ninh (50)
    • 4.2 Nhận dạng nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh tỉnh Tây Ninh (52)
    • 4.3 Gợi ý chính sách để nâng cao năng lực cạnh tranh tỉnh Tây Ninh (53)
  • PHỤ LỤC (60)
    • CN 57 Phụ lục 7 - Chỉ số công nghệ theo nhóm ngành .................................................................. 59 Phụ lục 8 - Chỉ số công nghệ theo địa lý hành chính và khu chế xuất, khu công nghiệp . 60 (0)

Nội dung

Giới thiệu vấn đề nghiên cứu

Bối cảnh nghiên cứu

Trong giai đoạn 2001-2010, tỉnh Tây Ninh ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng hơn 14% mỗi năm, gấp đôi bình quân cả nước và tương đương với các tỉnh lân cận khu vực Đông Nam Bộ Nhờ đó, thu nhập bình quân đầu người của tỉnh đã cải thiện đáng kể, đến năm 2010 cao hơn mức trung bình cả nước và dần thu hẹp khoảng cách với các tỉnh phát triển xung quanh.

Mặc dù Tây Ninh ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc trong nhiều chỉ tiêu, tỉnh vẫn chủ yếu là nông nghiệp với tỷ trọng nông nghiệp chiếm gần 27% GDP, cao hơn mức trung bình cả nước là 20% và vùng Đông Nam Bộ chỉ 7.2% Khu vực công nghiệp phát triển chậm, chỉ đạt 29% so với mục tiêu 37%, trong khi đầu tư nước ngoài vẫn khiêm tốn và chưa tạo đột phá như mong đợi Các dự án FDI chủ yếu có suất đầu tư thấp và thâm dụng lao động Kim ngạch xuất khẩu tăng cao, nhưng sản phẩm chủ yếu là hàng may mặc gia công và nguyên liệu sơ chế như mủ cao su, tinh bột mì, không mang lại giá trị gia tăng cao cho tỉnh.

Ngành dịch vụ có năng suất lao động cao nhất, tiếp theo là ngành công nghiệp Mặc dù năng suất lao động đã tăng liên tục qua các năm, nhưng vẫn có ít sự chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp có năng suất thấp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ có năng suất cao hơn Nguyên nhân chính là do hạn chế về trình độ, tay nghề và công tác đào tạo nghề của tỉnh còn yếu kém.

GDP của Tây Ninh có khoảng cách chênh lệch thấp hơn so với các tỉnh trong khu vực, đặc biệt là so với Bình Dương, nơi mà khoảng cách này càng rộng hơn sau 10 năm (2001-2010) Dù cả hai tỉnh đều có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi giống nhau, như cùng thuộc miền Đông Nam bộ, nằm trong Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam, tiếp giáp TPHCM, khí hậu ôn hòa và dân số trẻ, nhưng Bình Dương đã phát triển vượt bậc so với Tây Ninh chỉ sau vài năm Nguyên nhân cho sự khác biệt này chắc chắn nằm ở những chính sách phát triển khác nhau giữa hai tỉnh.

Để nâng cao năng lực cạnh tranh (NLCT) cho Tây Ninh trong bối cảnh hiện nay, cần thiết phải áp dụng những chính sách phù hợp nhằm đạt mục tiêu xây dựng tỉnh Tây Ninh trở thành một tỉnh công nghiệp vào năm 2020 Điều này bao gồm việc phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại và đồng bộ, kết nối với sự phát triển hạ tầng của vùng đô thị TP.HCM và toàn vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Đồng thời, cần duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ về tốc độ phát triển, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2011 – 2020, cần có mức tăng trưởng khoảng 15,0 – 15,5% Trong đó, nông, lâm nghiệp và thủy sản cần tăng trưởng bình quân từ 5,5 – 6,0%, công nghiệp và xây dựng từ 20,0 – 21,0%, và khu vực dịch vụ từ 14,7 – 15,2% Cơ cấu kinh tế dự kiến sẽ có nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm khoảng 11 – 12%, công nghiệp và xây dựng chiếm 44,5 – 45%, trong khi khu vực dịch vụ chiếm khoảng 43 – 43,5%.

Tây Ninh vẫn còn nhiều tiềm năng để phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh (NLCT), nhằm hoàn thành mục tiêu của tỉnh và theo kịp sự phát triển của các tỉnh lân cận Tuy nhiên, điều này đặt ra một thách thức lớn cho tỉnh Để giải quyết vấn đề này, tác giả đã chọn nghiên cứu về “Chính sách nâng cao NLCT tỉnh Tây Ninh” nhằm tìm ra những chính sách phù hợp, phục vụ cho mục tiêu phát triển trong giai đoạn 2011-2020.

Mục đích nghiên cứu

- Đánh giá những điểm cốt lõi thúc đẩy phát triển kinh tế tỉnh Tây Ninh

- Nhận dạng những rào cản làm cho Tây Ninh chưa phát huy hết tiềm năng phát triển

Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1: Những nhân tố cối lõi quyết định NLCT của tỉnh Tây Ninh?

Câu hỏi 2: Tỉnh Tây Ninh cần có những chính sách nào để nâng cao NLCT?

Phương pháp nghiên cứu

Theo khung lý thuyết, năng lực cạnh tranh (NLCT) của một nền kinh tế được định nghĩa là khả năng đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút đầu tư, duy trì ổn định kinh tế xã hội và nâng cao đời sống người dân NLCT được đo lường thông qua năng suất sử dụng các nguồn lực như vốn, con người và tài nguyên thiên nhiên.

Năng suất kinh tế được hình thành từ ba nhóm nhân tố chính: năng lực cạnh tranh vi mô ở cấp doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh vĩ mô tại địa phương, và các yếu tố lợi thế tự nhiên.

Trong nghiên cứu “Đồng bằng sông Cửu Long: Liên kết để tăng cường năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững” (2011), TS Vũ Thành Tự Anh đã áp dụng ba khung lý thuyết quan trọng Nghiên cứu này tập trung vào việc phát triển bền vững và nâng cao khả năng cạnh tranh của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thông qua các liên kết chiến lược.

Hình 1 - Khung lý thuyết về NLCT

(Nguồn: Porter (1990), được điều chỉnh bởi TS Vũ Thành Tự Anh (2011))

Nhóm nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp bao gồm các yếu tố tác động trực tiếp đến năng suất, như chất lượng môi trường kinh doanh, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, trình độ phát triển của các cụm ngành và chiến lược hoạt động của doanh nghiệp.

Môi trường kinh doanh và cơ sở hạ tầng kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất và khả năng đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Nghiên cứu này sử dụng chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với dự án Sáng kiến Năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI) phát triển, dựa trên các tiêu chí đánh giá về môi trường kinh doanh và cơ sở hạ tầng của các địa phương.

Hoạt động và chiến lược của doanh nghiệp (DN) được đánh giá dựa trên các điều kiện nội bộ nhằm tối ưu hóa năng suất và nâng cao khả năng đổi mới sáng tạo Nghiên cứu này phân tích trình độ công nghệ sản xuất công nghiệp của tỉnh thông qua các chỉ số liên quan đến kỹ thuật, con người, thông tin, tổ chức và mức độ đóng góp của công nghệ trong quá trình sản xuất công nghiệp.

Cụm ngành thể hiện sự tập trung địa lý của các doanh nghiệp và tổ chức trong những lĩnh vực cụ thể, phản ánh tác động của liên kết và lan tỏa giữa các bên trong môi trường cạnh tranh Sự phát triển của cụm ngành không chỉ nâng cao năng suất mà còn cải thiện hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp.

Nhóm nhân tố thứ hai, NLCT ở cấp độ địa phương, bao gồm các yếu tố cấu thành môi trường hoạt động của doanh nghiệp, được chia thành hai nhóm chính: chất lượng hạ tầng xã hội và các thể chế chính trị, pháp luật, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế; cùng với các thể chế, chính sách kinh tế như chính sách tài khóa, tín dụng và cơ cấu kinh tế Trong nghiên cứu này, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của hạ tầng xã hội, chính sách tài khóa và cơ cấu kinh tế trong việc phản ánh môi trường hoạt động của doanh nghiệp.

Nội dung bố cục

Phần thứ nhất: Bối cảnh tình hình phát triển kinh tế tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2001-2010

Bài viết sẽ phân tích tình hình phát triển kinh tế của tỉnh Tây Ninh trong giai đoạn 2001-2010 thông qua các chỉ báo như GDP, GDP/đầu người, cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngân sách, FDI, xuất nhập khẩu, KCN, du lịch và năng suất lao động Tác giả sẽ so sánh với các tỉnh lân cận, đặc biệt là tỉnh Bình Dương, để chỉ ra rằng sự phát triển của Tây Ninh vẫn chưa bền vững và chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh.

Phần thứ hai của bài viết tập trung vào thực trạng năng lực cạnh tranh (NLCT) của tỉnh Tây Ninh Dựa trên khung lý thuyết và các số liệu thứ cấp, tác giả sẽ từng bước phác họa bức tranh NLCT của tỉnh này, nhằm trả lời cho câu hỏi nghiên cứu đầu tiên.

Phần ba của bài viết sẽ đánh giá và đề xuất các chính sách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh (NLCT) của tỉnh, dựa trên phân tích thực trạng NLCT hiện tại và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 Tác giả sẽ đưa ra những chính sách ưu tiên, phù hợp với định hướng phát triển của tỉnh, nhằm đáp ứng yêu cầu của câu hỏi nghiên cứu thứ hai.

Hạn chế của đề tài

Do hạn chế về năng lực của tác giả và số liệu từ các tỉnh khu vực Đông Nam Bộ, cùng với quy định giới hạn của luận văn, báo cáo, vẫn còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu thêm.

4 Vũ Thành Tự Anh và đ.t.g (2011)

- Chưa đề cập đến hiệu quả hoạt động của các khu kinh tế cửa khẩu

- Chưa đề cập cụ thể đến hiệu quả của khu vực dân doanh

- Chưa đề cập đến vấn đề hợp tác, liên kết trong Vùng

- Chưa phân tích hết các yếu tố trong NLCT (y tế, văn hóa, chính sách tín dụng)

Một số chỉ tiêu trong nghiên cứu này không có so sánh với các tỉnh khác do thiếu số liệu Các dữ liệu sử dụng chủ yếu là dữ liệu thứ cấp từ nhiều nguồn khác nhau Mặc dù tác giả đã cân nhắc kỹ lưỡng về độ tin cậy của số liệu, nhưng vẫn có khả năng xuất hiện những thông tin không chính xác Do đó, một số nhận định có thể chưa phản ánh đúng thực tế Tác giả cam kết sẽ tiếp tục nghiên cứu để khắc phục những hạn chế này.

Bối cảnh tình hình phát triển kinh tế tỉnh Tây Ninh

Các chỉ tiêu phản ánh mức độ phát triển kinh tế

Nền kinh tế tỉnh Tây Ninh đã liên tục tăng trưởng với tốc độ cao trong những năm gần đây, đạt mức tăng trưởng GDP bình quân 14.1%/năm trong giai đoạn 2001-2005, vượt xa mức tăng trung bình của cả nước là 7.56%/năm Mặc dù tốc độ này thấp hơn tỉnh Bình Dương (15.32%), nhưng vẫn cao hơn so với mức tăng bình quân của giai đoạn 1996-2000 là 13.5%.

Giai đoạn 2006-2010, tỉnh có tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 14.2%, vượt xa mức tăng trưởng GDP bình quân của cả nước là 7.01%/năm Đây là tốc độ tăng GDP cao nhất trong Vùng Đông Nam Bộ, theo sau là tỉnh Bình Dương với 14.1%.

Bảng 1 – GDP tỉnh Tây Ninh qua các năm

Năm GDP (Tr.VND) Tốc độ tăng GDP (%)

(Nguồn: Cục thống kê Tây Ninh (2011), NGTK tỉnh Tây Ninh năm 2010)

Hình 2 - GDP tỉnh Tây Ninh qua các năm

(Nguồn: Cục thống kê Tây Ninh (2011), NGTK tỉnh Tây Ninh năm 2010)

Bảng 2 - Tốc độ tăng trưởng GDP của các tỉnh Vùng ĐNB (giá so sánh)

(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các số liệu trong NGTK các tỉnh năm 2010)

Mặc dù GDP của Tây Ninh đã tăng trưởng qua các năm, nhưng về giá trị tuyệt đối, tỉnh này vẫn kém xa so với các tỉnh khác trong Vùng Đông Nam Bộ, ngoại trừ Bình Phước Năm 2001, GDP của Tây Ninh chỉ đạt 3,838 tỷ đồng, đứng cuối cùng trong khu vực, trong khi Bình Dương, Đồng Nai, TPHCM và Bà Rịa – Vũng Tàu có GDP lần lượt là 4,755 tỷ đồng, 15,257 tỷ đồng, 84,852 tỷ đồng và 46,530 tỷ đồng Đến năm 2006, GDP của Tây Ninh tăng lên 7,874 tỷ đồng nhưng vẫn đứng cuối, và đến năm 2010, con số này đã đạt 12,989 tỷ đồng Tuy nhiên, khoảng cách so với các tỉnh trong Vùng vẫn còn lớn, đặc biệt là so với Bình Dương với GDP 16,370 tỷ đồng, cho thấy Tây Ninh cần duy trì tốc độ phát triển mạnh mẽ hơn nữa.

Giá thực tế Giá so sánh tăng trưởng GDP cao hơn Bình Dương 1-2%/ mới có thể bắt kịp đà phát triển của Bình Dương trong giai đoạn tới

Bảng 3 - So sánh GDP trong Vùng ĐNB (giá so sánh) – tỷ đồng

Bình Phước 3,274 4,294 4,890 5,387 6,081 Đồng Nai 21,941 25,266 29,172 31,903 36,202 TPHCM 99,672 112,271 124,303 135,053 150,943 Tây Ninh 7,874 9,209 10,491 11,654 12,989

(Nguồn: NGTK các tỉnh năm 2010)

Hình 3 - So sánh GDP Tây Ninh và Bình Dương

(Nguồn: NGTK tỉnh Tây Ninh và Bình Dương năm 2010)

Tây Ninh-Giá thực tế Tây Ninh-Giá so sánhBình Dương-Giá thực tế Bình Dương-Giá so sánh

2.1.1.2 GDP bình quân đầu người GDP bình quân đầu người của Tây Ninh đã tăng đáng kể trong giai đoạn 2001-2010 Theo giá thực tế, năm 2010 đạt 27.1 triệu đồng 6 , gấp gần 3 lần so với năm 2005 (9.9 triệu đồng), gấp hơn 6 lần so với năm 2001 (4.5 triệu đồng)

Từ năm 2002 đến 2010, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người của tỉnh Tây Ninh đạt 22.3%, vượt trội hơn so với mức tăng trưởng toàn quốc là 13.1% Sự chênh lệch này phản ánh sự phát triển vượt bậc của Tây Ninh trong bối cảnh kinh tế chung của cả nước.

Bảng 4 - GDP bình quân đầu người tỉnh Tây Ninh

GDP bình quân đầu người (triệu VNĐ)

Năm Giá thực tế Giá so sánh Tốc độ tăng

Giá thực tế Giá so sánh

(Nguồn: Cục Thống kê Tây Ninh (2011), NGTK tỉnh Tây Ninh năm 2010)

Năm 2010, do sự chênh lệch lớn giữa số liệu ước tính của NGTK Tây Ninh và thực tế, tác giả đã sử dụng số liệu từ báo cáo của Chủ tịch UBND Tây Ninh, Nguyễn Văn Nên, trong buổi làm việc với Đoàn công tác Chính phủ do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu vào ngày 11/8/2010.

Tác giả đã tiến hành phân tích dữ liệu GDP bình quân đầu người của Việt Nam từ năm 2002 đến 2010, sử dụng thông tin từ trang web của Ngân hàng Thế giới Số liệu này cung cấp cái nhìn tổng quan về sự phát triển kinh tế của đất nước trong giai đoạn này, cho thấy những biến động và xu hướng tăng trưởng của GDP bình quân đầu người.

Hình 4 - GDP bình quân đầu người tỉnh Tây Ninh

(Nguồn: Cục Thống kê Tây Ninh (2011), NGTK tỉnh Tây Ninh năm 2010)

Từ năm 1995 đến 2010, GDP bình quân đầu người của tỉnh Tây Ninh đã có sự tăng trưởng vượt bậc so với mức bình quân cả nước Năm 1995, GDP bình quân đầu người của Tây Ninh chỉ đạt 185.8 USD, thấp hơn 32% so với mức trung bình cả nước là 273.9 USD Đến năm 2005, con số này tăng lên 493 USD, nhưng vẫn thấp hơn 23.2% so với mức trung bình toàn quốc là 642 USD Tuy nhiên, đến năm 2010, GDP bình quân đầu người của Tây Ninh đã đạt 1390 USD, cao hơn 19% so với mức trung bình cả nước là 1168 USD, cho thấy sự phát triển đáng kể của tỉnh trong giai đoạn 2006-2010.

Trong giai đoạn 2006-2009, tỉnh Tây Ninh luôn có GDP bình quân đầu người thấp nhất trong khu vực Đông Nam Bộ, ngoại trừ tỉnh Bình Phước, mặc dù tốc độ tăng trưởng của Tây Ninh khá cao Đến năm 2010, GDP bình quân đầu người của Tây Ninh đạt 27.1 triệu đồng, cho thấy sự cải thiện khoảng cách so với tỉnh Bình Dương (30.1 triệu đồng) và Đồng Nai (29.5 triệu đồng), đồng thời tiến gần hơn đến mức bình quân của toàn khu vực.

8 Viện Chiến lược phát triển (2011)

10 Diễn đàn kinh tế Việt Nam (2011)

GDP/đầu người (Triệu VNĐ)

Giá thực tế của ĐNB là 33 triệu đồng, không bao gồm tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu do ảnh hưởng của yếu tố dầu khí Mức bình quân của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam ước đạt 31.4 triệu đồng.

Mặc dù GDP bình quân đầu người của Tây Ninh không thấp hơn nhiều so với các tỉnh trong khu vực, nhưng giá trị tuyệt đối của GDP (theo giá thực tế) lại chênh lệch đáng kể Nguyên nhân chủ yếu là do tốc độ tăng dân số của Tây Ninh thấp nhất trong khu vực, chỉ khoảng 0.7% trong giai đoạn 2007-2010, trong khi các tỉnh như Bình Dương và Đồng Nai có tốc độ tăng dân số lần lượt là 7.7% và 2.6%.

Bảng 5 – GDP bình quân đầu người với các tỉnh khu vực ĐNB

GDP/đầu người (triệu VND/người) - theo giá thực tế

(Nguồn: Tác giả tính toán từ số liệu NGTK các tỉnh)

Bảng 6 – Tốc độ tăng dân số các tỉnh khu vực ĐNB

Tốc độ tăng dân số

(Nguồn: Tác giả tính toán từ số liệu NGTK các tỉnh)

11 Tác giả tính bình quân từ GDP bình quân đầu người năm 2010 của 5 tỉnh trong khu vực ĐNB (không kể BR- VT)

12 Tác giả tính toán từ số liệu NGTK các tỉnh và tính bình quân cho vùng Đông Nam bộ

Trong giai đoạn 2001-2010, tỉnh Tây Ninh đã có sự phát triển đáng kể về GDP và GDP bình quân đầu người Tuy nhiên, khoảng cách chênh lệch với các tỉnh, thành phố phát triển năng động trong khu vực Đông Nam Bộ như TPHCM, Đồng Nai và Bình Dương vẫn còn rất lớn.

So với Bình Dương, khoảng cách chênh lệch về GDP giữa Tây Ninh và Bình Dương sau 10 năm phát triển ngày càng gia tăng Nếu Tây Ninh duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn Bình Dương 1% mỗi năm, thì sau hơn 20 năm nữa, Tây Ninh mới có khả năng bắt kịp sự phát triển của Bình Dương.

2.1.2 Cơ cấu kinh tế 2.1.2.1 Cơ cấu kinh tế theo khu vực kinh tế

Cơ cấu kinh tế theo khu vực đang chuyển dịch đúng hướng, tuy nhiên vẫn chưa đạt được các chỉ tiêu kế hoạch của tỉnh Tỷ trọng ngành nông nghiệp vẫn chiếm ưu thế lớn trong tổng thể cơ cấu kinh tế.

Vào năm 2005, cơ cấu ngành Nông lâm nghiệp, Công nghiệp xây dựng và Thương mại dịch vụ lần lượt chiếm 38.2%, 25.1% và 36.7% Đến năm 2010, tỷ trọng này đã thay đổi thành 26.80%, 29.0% và 44.20%, vượt kế hoạch của tỉnh với tỷ lệ dự kiến là 24%, 37% và 39%.

Hình 5 – Cơ cấu kinh tế năm 2005 và 2010

(Nguồn: Cục Thống kê Tây Ninh (2011), NGTK tỉnh Tây Ninh năm 2010)

Một số kết quả kinh tế trung gian

Trị giá xuất khẩu hàng hoá thời kỳ 2000-2010, có tốc độ tăng trưởng bình quân 31.5%/năm;

Trong đó: 2001-2005 tăng 35%/năm; 2006-2010 tăng 28.1%/năm Tổng kim ngạch xuất khẩu

Từ năm 2006 đến 2010, tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt 3.136 tỷ USD, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm hơn 70% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Giai đoạn 2005-2010, khu vực kinh tế nhà nước giảm 4.1%/năm, dân doanh tăng 32.03%/năm và FDI tăng 28.1%/năm

Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam hiện nay chủ yếu bao gồm hàng gia công và sơ chế, chiếm hơn 64% tổng giá trị xuất khẩu Trong đó, hàng dệt may là nhóm sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất với 32,94%, tiếp theo là sản phẩm cao su sơ chế Các mặt hàng khác như trang phục, giầy thể thao, mủ cao su, hạt điều và tinh bột mì cũng đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu.

13 Sở Công thương Tây Ninh (2011, tr 43-53)

Năng suất lao động (triệu đồng/người)

CN chế biến - chế tạo Xây dựng

Thương nghiệp, sửa chữaKhách sạn, nhà hàngVận tải, kho bãi, thông tin

Thị trường xuất khẩu của Tây Ninh đã phát triển mạnh mẽ, mở rộng ra 13 thị trường chính trên toàn cầu Trong đó, Mỹ, Trung Quốc, Đài Loan và Hàn Quốc là bốn thị trường hàng đầu, chiếm từ 68% đến 73.5% tổng giá trị xuất khẩu của tỉnh.

Kim ngạch nhập khẩu giai đoạn 2001-2005 tăng bình quân 34.4%/năm, giai đoạn 2006-2010 tăng bình quân 24.0%/năm Tổng kim ngạch nhập khẩu 2006-2010 đạt khoảng 1.914 tỷ USD

Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tại tỉnh bao gồm nguyên liệu, phụ liệu gia công và máy móc thiết bị Khu vực kinh tế có tỷ lệ nhập khẩu cao chủ yếu là FDI, chiếm hơn 90% tổng giá trị nhập khẩu của toàn tỉnh.

2.2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài Lũy kế tính đến cuối năm 2010, trên địa bàn tỉnh Tây Ninh có 206 dự án FDI còn hiệu lực với vốn đăng ký là 970.9 triệu USD 14 Trong đó FDI chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp (chiếm khoảng 82% tổng số vốn đăng ký), còn nông nghiệp cũng trên 8%, các ngành khác tỷ trọng không đáng kể 15 (Xem phụ lục 3)

Xét về số dự án, giai đoạn 2005-2008 Tây Ninh thu hút được nhiều dự án nhất (trung bình hơn

Trong giai đoạn 2005-2010, Tây Ninh chỉ thu hút trung bình 25 dự án mỗi năm, với vốn đầu tư đăng ký gần 100 triệu USD, thấp hơn nhiều so với các tỉnh lân cận như Bình Dương và Đồng Nai Đến cuối năm 2010, Bình Dương đã có 2.170 dự án với tổng vốn đăng ký 14,13 tỷ USD, trong khi Đồng Nai có 1.060 dự án và vốn đăng ký 16,79 tỷ USD, cho thấy Tây Ninh còn kém xa trong việc thu hút FDI.

Tác giả đã sử dụng số liệu từ Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Tây Ninh, tuy nhiên số liệu này có sự chênh lệch so với thông tin được công bố bởi Tổng cục Thống kê trên trang web chính thức.

(199 dự án và vốn đăng ký 919,2 triệu USD)

15 Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Tây Ninh (2011)

Hình 9 - Số dự án và vốn đăng ký FDI tỉnh Tây Ninh qua các năm

(Nguồn: Sở Kế Hoạch và Đầu Tư Tây Ninh (2011), Danh mục các dự án FDI tại Tây Ninh )

Tỉnh Tây Ninh có suất đầu tư trên một dự án thấp nhất trong khu vực Đông Nam Bộ, chỉ đạt khoảng 4.7 triệu USD, so với mức bình quân khu vực là 8.6 triệu USD Trong khi đó, Bình Dương và Đồng Nai lần lượt có suất đầu tư trung bình là 6.5 triệu USD và 15.8 triệu USD Mức bình quân cả nước, bao gồm cả các dự án dầu khí, là 15.6 triệu USD.

Bảng 8 - Đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo địa phương đến năm 2010 Địa phương Số dự án Vốn đăng ký

Vốn đầu tư/dự án (triệu USD)

(Nguồn: Tổng cục Thống kê (2011), Đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép phân theo địa phương)

Số dự án Vốn đăng ký

Các dự án FDI tại Tây Ninh chủ yếu tập trung vào các ngành thâm dụng lao động như may mặc, giày da, dệt nhuộm và chế biến nông sản Tính đến cuối năm 2010, khu vực FDI đã tạo ra khoảng 56,800 lao động Trung bình, mỗi dự án FDI (149 dự án) hoạt động sử dụng khoảng 380 lao động.

Giai đoạn 2006-2010, khu vực FDI đóng góp bình quân 47.6% vào giá trị sản xuất công nghiệp (GTSXCN) của tỉnh, thấp hơn so với khu vực Đông Nam Bộ (55.2%) và các tỉnh Bình Dương (69.5%) và Đồng Nai (80%) Giá trị xuất khẩu của khu vực FDI chiếm 79.4% tổng xuất khẩu tỉnh, trong khi nhập khẩu chiếm 93.6% Sản phẩm của các doanh nghiệp FDI chủ yếu là hàng xuất khẩu và hàng gia công tạm nhập tái xuất Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu, phụ liệu gia công và máy móc thiết bị phục vụ cho khu vực FDI Năm 2005, khu vực FDI chỉ đóng góp 15.8% vào GDP, sau 5 năm con số này chỉ tăng lên 18.5%.

Bảng 9 - Tỷ trọng đóng góp vào GTSXCN của khu vực FDI

(Nguồn: tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống kê, 2011)

Các dự án FDI tại Tây Ninh có đặc điểm chủ yếu là quy mô nhỏ, thâm dụng lao động với tỷ lệ đóng góp vào GTSXCN và GDP chưa cải thiện đáng kể Mặc dù đầu tư thấp và chủ yếu sử dụng lao động phổ thông, các dự án này vẫn tạo ra cơ hội việc làm cho lực lượng lao động tại địa phương.

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh “Nghiên cứu xác định và giải pháp nâng cao NLCT các sản phẩm công nghiệp tỉnh Tây Ninh khi hội nhập” đã cung cấp 17 số liệu quan trọng Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh (NLCT) của sản phẩm công nghiệp tại Tây Ninh trong bối cảnh hội nhập kinh tế Các giải pháp được đề xuất nhằm cải thiện NLCT, thúc đẩy sự phát triển bền vững cho ngành công nghiệp tỉnh nhà.

Ninh vẫn chưa thể hiện rõ lợi thế cạnh tranh so với TPHCM và các đặc điểm thuận lợi khác, do đó, tiềm năng của tỉnh này vẫn chưa được khai thác đầy đủ.

2.2.3 Khu công nghiệp Tính đến cuối năm 2010, có 05 KCN được thành lập và hoạt động, tổng diện tích 4326 ha, trong đó, có 02 khu đã hoàn chỉnh hạ tầng theo quy hoạch và có tỷ lệ lấp đầy trên 80%; các khu còn lại đang triển khai xây dựng hạ tầng và thu hút đầu tư Các KCN đã cho thuê 274.73/2162,66 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy 12.7%/đất công nghiệp cho thuê Đến năm 2010, các KCN thu hút 161 dự án, vốn đăng ký 641.1 triệu USD, trong đó có 125 dự án FDI (chiếm hơn 80% FDI toản tỉnh), với tổng vốn đăng ký là 486.6 triệu USD (chiếm 70% vốn FDI toàn tỉnh); kim ngạch xuất khẩu khoảng 456 triệu USD (chiếm 73% toàn tỉnh), nhập khẩu 240 triệu USD (chiếm 63%) Ngành nghề chủ yếu trong các KCN là gia công hàng may mặc, da giày, dệt nhuộm, sản xuất các sản phẩm nhựa…Tính đến thời điểm hết năm 2010 có khoảng 35 ngàn LĐ đang làm việc tại các KCN Nhìn chung, đa số các dự án đều có quy mô nhỏ (từ 2 đến 4 triệu USD/dự án) và thâm dụng LĐ, tương tự mặt bằng chung về FDI của cả tỉnh 18

Tây Ninh đã quy hoạch 09 khu công nghiệp (KCN) và 21 cụm công nghiệp đến năm 2020, với tổng diện tích 9.174 ha, bao gồm 02 khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và Xa Mát Tuy nhiên, tỷ lệ lấp đầy các KCN hiện tại còn thấp và luồng vốn đầu tư đang giảm Do đó, tỉnh cần tập trung vào việc hỗ trợ và xúc tiến đầu tư để lấp đầy các KCN hiện tại trước khi mở thêm KCN mới, nhằm tránh lãng phí tài nguyên và nguồn lực.

18 Ban Quản lý khu kinh tế Tây Ninh (2011)

Thực trạng năng lực cạnh tranh tỉnh Tây Ninh

Các yếu tố lợi thế tự nhiên của địa phương

Tây Ninh là tỉnh có đường biên giới dài 240 km với Campuchia, bao gồm 02 cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và Xa Mát, cùng với 04 cửa khẩu chính và nhiều cửa khẩu phụ Tỉnh này giáp ranh với các tỉnh Bình Dương, Bình Phước, TP.HCM và Long An Thị xã Tây Ninh nằm cách TP.HCM 99 km về phía Tây Bắc theo quốc lộ 22.

Tây Ninh đóng vai trò là cửa ngõ giao lưu quốc tế quan trọng giữa Việt Nam và các nước láng giềng như Campuchia, Thái Lan Tỉnh này cũng có vị trí chiến lược trong việc kết nối và trao đổi hàng hóa giữa các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Khí hậu Tây Ninh ôn hòa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Vùng này có chế độ bức xạ dồi dào, nhiệt độ cao và ổn định Đặc biệt, Tây Ninh nằm sâu trong lục địa, ít bị ảnh hưởng bởi bão và các yếu tố thiên nhiên bất lợi khác.

3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 3.1.2.1 Tài nguyên đất

Có 05 loại đất chính với tổng diện tích 402,817 ha; trong đó nhóm đất xám chiếm tỷ trọng lớn nhất khoảng 85.63%, phân bố ở địa hình cao; đặc điểm chung là thành phần cơ giới nhẹ, dễ thoát nước, phù hợp với nhiều loại cây trồng ngắn ngày, dài ngày, lâu năm Đây là một lợi thế để phát triển vùng nguyên liệu cây công nghiệp như cao su, mía, mì, điều…Nhóm đất đỏ vàng cũng đặc biệt phù hợp với cây công nghiệp, trồng rừng nhưng chiếm tỷ trọng không lớn, khoảng 6,850 ha, hay 1.7%, được phân bố vùng đồi núi ở huyện Tân Biên, Tân Châu

Tây Ninh sở hữu tiềm năng đất đai phong phú, tạo điều kiện cho việc phát triển bền vững ngành công nghiệp chế biến nông sản Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vùng đất thích hợp cho các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao nhưng chưa được khai thác hiệu quả, dẫn đến tình trạng hoang hóa và lãng phí tài nguyên.

3.1.2.2 Tài nguyên nước Nguồn nước mặt: Nguồn nước mặt phụ thuộc chủ yếu vào chế độ hoạt động của hệ thống hai con sông lớn, Sông Sài Gòn và Sông Vàm cỏ Cả hai có độ dốc lòng sông nhỏ nên khả năng gây lũ chậm

Hồ chứa nước Dầu Tiếng, nằm trên thượng nguồn sông Sài Gòn, là công trình thủy lợi lớn nhất Việt Nam với dung tích 1,5 tỷ m³ và tổng diện tích 27.000 ha, trong đó khoảng 20.000 ha thuộc huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh Hồ này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến nguồn nước mặt, nước ngầm và môi trường sinh thái của tiểu vùng, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển ngành thủy sản, một lĩnh vực chưa được khai thác đáng kể.

Nguồn nước ngầm phân bố rộng rãi trên địa bàn với lưu lượng lớn và chất lượng tốt, cho phép khai thác ngay cả trong mùa khô, đảm bảo cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất.

Tây Ninh sở hữu nguồn nước mặt và nước ngầm dồi dào với chất lượng tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp, đặc biệt là ngành thủy sản Ngoài ra, nguồn nước tại Tây Ninh còn đáp ứng đủ nhu cầu cho sản xuất công nghiệp và sinh hoạt Hệ thống cấp nước hiện tại có tổng công suất thiết kế khoảng 12,000 m3/ngày đêm, đảm bảo cung cấp nước cho cả sản xuất và đời sống.

3.1.2.3 Tài nguyên khoáng sản Chủ yếu thuộc nhóm khoáng sản phi kim loại như: than bùn, đá vôi, cuội, sỏi, cát, sét và đá xây dựng Than bùn có trữ lượng 16 triệu tấn, phân bố rải rác dọc theo sông Vàm Cỏ Đông, chất lượng rất tốt, dùng để chế biến phân vi sinh phục vụ sản xuất nông nghiệp để cải tạo đất Đá vôi có trữ lượng khoảng 100 triệu tấn Cuội, sỏi cát có trữ lượng khoảng 10 triệu m3 Đất sét dùng để sản xuất gạch ngói có trữ lượng khoảng 16 triệu m3, được phân bố ở nhiều nơi trong tỉnh Đá laterit có trữ lượng khoảng 4 triệu m3 và đá xây dựng các loại có trữ lượng vào khoảng 1.3 – 1.4 triệu m3, phân bố chủ yếu ở núi Phụng, núi Bà Đen thuộc thị xã Tây Ninh

Tây Ninh sở hữu đặc điểm tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển toàn diện nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Yếu tố tự nhiên được đánh giá là lợi thế lớn trong bối cảnh cạnh tranh của tỉnh Tuy nhiên, để tận dụng hiệu quả lợi thế này, Tây Ninh cần cải thiện hơn nữa trong việc khai thác nguồn lực tự nhiên.

Năng lực cạnh tranh ở cấp độ địa phương

3.2.1.1 Lao động và chất lượng nguồn lao động Dân số trung bình của tỉnh Tây Ninh năm 2010 là 1,075,341 người Dân số có cơ cấu trẻ, nhóm tuổi từ 0-14 chiếm 23.8%, dân số trong độ tuổi LĐ chiếm tỷ lệ lớn trong tổng dân số và tỷ lệ này ngày càng tăng qua cac giai đoạn: 59.8% năm 2001, 62.3% năm 2005 và đến năm

Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động tại Tây Ninh năm 2010 đạt 68.1%, trong khi Bình Dương là 77%, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nguồn nhân lực Tuy nhiên, cơ cấu dân số trẻ cũng đặt ra thách thức lớn do số lượng người bước vào độ tuổi lao động hàng năm khá cao Điều này yêu cầu tỉnh Tây Ninh phải giải quyết vấn đề việc làm, xóa đói giảm nghèo, và đặc biệt là nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, nhất là đào tạo nghề.

Bảng 10 - Quy mô dân số và lực lượng LĐ tỉnh Tây Ninh (giai đoạn 2005-2010)

I Dân số từ 15 tuổi trở lên 79.1% 79.4% 80.0% 76.2% 76.1% -0.08%

1 Số người hoạt động kinh tế 58.2% 58.6% 58.3% 57.7% 57.6% 0.13%

1.1 Có việc làm thường xuyên 57.3% 57.3% 57.5% 56.9% 56.8% 0.20%

1.2 Không có việc làm thường xuyên 0.9% 1.3% 0.8% 0.8% 0.9% -0.07%

2 Số người không hoạt động kinh tế 20.9% 20.9% 21.7% 18.5% 18.5% -0.22%

II Lực lượng trong độ tuổi

III Lực lượng LĐ đang LV 57.3% 57.3% 57.5% 56.9% 56.8% 0.20%

(Nguồn: Cục Thống kê Tây Ninh (2011), NGTK tỉnh Tây Ninh năm 2010)

Từ năm 1999 đến nay, chất lượng nguồn nhân lực của Tây Ninh đã được cải thiện, nhưng vẫn còn ở mức thấp Cụ thể, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo và dạy nghề giảm từ 73,2% năm 1999 xuống 55% năm 2010 Ngành nông nghiệp có tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo cao nhất với 63,04%, tiếp theo là ngành công nghiệp với 50,02%, trong khi ngành dịch vụ có tỷ lệ thấp nhất là 45,85%.

Cơ cấu đào tạo giữa các cấp hiện nay chưa hợp lý, dẫn đến trình độ kỹ năng lao động không đáp ứng được yêu cầu phát triển công nghiệp của tỉnh Theo số liệu năm 2010, chỉ có 6.74% người tốt nghiệp cao đẳng và đại học, 3.63% tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp, 5.07% tốt nghiệp trung cấp và cao đẳng nghề, trong khi 17.89% có trình độ sơ cấp nghề.

Cơ cấu lao động theo trình độ học vấn đã có những cải thiện đáng kể, với tỷ lệ lao động tốt nghiệp trung học cơ sở và trung tâm giáo dục thường xuyên có xu hướng tăng Đồng thời, tỷ lệ người không biết chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học cũng giảm dần qua các năm Cụ thể, vào năm 1999, tỷ lệ lao động có trình độ tốt nghiệp tiểu học chiếm 31.4%.

Tính đến năm 2010, tỷ lệ dân số có trình độ học vấn từ THCS trở lên tại tỉnh Tây Ninh có sự gia tăng đáng kể, với trình độ THCS chiếm 43.87% và trình độ THPT đạt 27.64% Tuy nhiên, tỷ lệ biết chữ của dân số từ 15 tuổi trở lên chỉ đạt 92.81%, thấp hơn mức trung bình của vùng Đông Nam Bộ là 96.3%.

Hình 10 - Trình độ học vấn của nhân lực Tây Ninh năm 2010

(Nguồn: Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Tây Ninh (2011), Đề án Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Tây Ninh thời kỳ 2011-2020)

Chất lượng đội ngũ lao động đang được cải thiện, tuy nhiên, tốc độ phát triển còn chậm so với các nước trong khu vực Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo vẫn còn cao, đặc biệt là đối với công nhân kỹ thuật.

Tình trạng lao động tại tỉnh Tây Ninh hiện nay đang đối mặt với nhiều thách thức, khi tỷ lệ lao động chưa tốt nghiệp tiểu học vẫn còn cao Mặc dù có sự gia tăng về trình độ lao động sơ cấp nghề từ 8.67% năm 2005 lên 17.89% năm 2010, nhưng sự phát triển này chủ yếu tập trung ở khu vực công nghiệp và dịch vụ, trong khi lao động có trình độ trung cấp, cao đẳng và đại học lại tăng rất chậm Thực trạng này phản ánh sự yếu kém trong trình độ công nghệ của các doanh nghiệp địa phương, dẫn đến tình trạng “thừa nhưng vẫn thiếu lao động.” Nếu không khắc phục kịp thời, tình hình này sẽ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế của tỉnh trong tương lai, khiến các dự án đầu tư trở nên lạc hậu và không mang lại giá trị gia tăng cao.

3.2.1.2 Đào tạo và dạy nghề Trên địa bàn tỉnh mới chỉ có một trường Cao đẳng Sư phạm, chưa có trường đại học, còn lại là các lớp đại học tại chức, đại học từ xa, các lớp liên kết với các trường đại học Chất lượng các chương trình liên kết, tại chức, từ xa hầu như ở đâu cũng kém Do đó đầu ra của những chương trình này hầu như không đáp ứng được yêu cầu nhân lực tại chỗ có trình độ cho nền kinh tế Ngoài ra, có hai trường Trung cấp chuyên nghiệp trực thuộc tỉnh (Kỹ thuật và Y tế) Mạng lưới dạy nghề đến năm 2010 có 198 cơ sở, chủ yếu là quy mô nhỏ và không chuyên nghiệp, trong đó có 03 trường trung cấp nghề và 03 trung tâm dạy nghề (có 01 trung tâm dạy nghề nằm trong KCN Trảng Bàng nhưng chưa được đầu tư trang thiết bị nên chưa hoạt động, còn 02 trung tâm đã hoạt động nhưng máy móc, trang thiết bị không được nâng cấp đã trở nên lạc hậu) Cơ sở công lập tuy chiếm tỷ lệ thấp (8.58%) nhưng vẫn đóng vai trò chủ lực về dạy nghề chính quy của tỉnh Với hiện trạng về đào tạo nghề như hiện nay thì khó đáp ứng được nhu cầu thị trường LĐ

Trong giai đoạn 2006-2010, ngân sách nhà nước dành cho giáo dục, đào tạo và dạy nghề trung bình đạt 831 tỷ đồng mỗi năm Tuy nhiên, trong tổng vốn đầu tư cho cơ sở vật chất và đào tạo chuyên nghiệp, tỷ lệ chi cho dạy nghề chỉ chiếm 2.8%.

19 Sở Lao động - Thương Binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh (2011, tr 18-30)

Đội ngũ giáo viên tại các trường Trung cấp nghề và trung tâm dạy nghề trong tỉnh hiện có 129 giáo viên chính thức, bên cạnh đó còn có giáo viên thỉnh giảng và hợp đồng ngắn hạn Tỷ lệ học sinh/giáo viên khoảng 33, dẫn đến tình trạng thiếu hụt về số lượng và không ổn định, đồng thời kỹ năng thực hành của giáo viên còn yếu và ít có cơ hội cập nhật kiến thức Về trình độ chuyên môn, chỉ có 3.1% giáo viên có trình độ thạc sĩ, 90.7% có trình độ đại học và 6.2% có trình độ cao đẳng trở xuống.

Cơ cấu lao động và chất lượng nguồn lao động là những yếu tố quan trọng trong sự phát triển của các tỉnh thành trên cả nước Tỉnh Tây Ninh đang đối mặt với tình trạng cơ cấu lao động cần được cải thiện để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế.

Cơ cấu vàng hiện tại là lợi thế lớn để nâng cao năng lực cạnh tranh khu vực và thu hút các dự án FDI công nghệ cao Tuy nhiên, chất lượng lao động và mạng lưới đào tạo hiện tại còn hạn chế, gây khó khăn trong việc cải thiện chất lượng lao động đáp ứng nhu cầu trong tương lai Tây Ninh cần nhận thức rõ tầm quan trọng của nguồn lao động và có chính sách phù hợp để phát huy lợi thế này, đồng thời thu hút lao động trình độ cao từ các tỉnh lân cận, nhằm phá vỡ vòng cung cầu lao động trình độ thấp hiện nay.

3.2.2 Cơ cấu ngân sách 3.2.2.1 Thu ngân sách Tổng thu ngân sách của tỉnh tăng liên tục qua các năm Tốc độ tăng trung bình hàng năm giai đoạn 2007-2010 là 17.5%, trong đó thu trên địa bàn tỉnh tăng 24.6%/năm Cơ cấu ngân sách mặc dù vẫn còn phụ thuộc khá nhiều vào trợ cấp từ Trung ương nhưng tỷ trọng trong cơ cấu thu đã giảm dần (từ 30% vào năm 2007, 2008 xuống 17% năm 2009, 2010) Thu ngân sách trên địa bàn chiếm tỷ trọng khá khiêm tốn trong tổng nguồn thu ngân sách nếu so với các tỉnh trong khu vực (năm 2009 tỷ lệ này là 57%, trong khi Bình Dương là 81%)

Bảng 11 – Cơ cấu thu ngân sách 2007-2010 (tỷ đồng)

Giá trị Tỷ lệ Giá trị Tỷ lệ Giá trị Tỷ lệ Giá trị Tỷ lệ

Thu bổ sung từ NS cấp trên 939 30% 1,156 31% 645 17% 862 17%

(Nguồn: Cục Thống kê Tây Ninh (2011), NGTK tỉnh Tây Ninh năm 2010)

Hình 11 – Cơ cấu thu ngân sách

(Nguồn: Cục Thống kê Tây Ninh (2011), NGTK tỉnh Tây Ninh năm 2010)

Bảng 12 – So sánh cơ cấu thu ngân sách 2009 (tỷ đồng)

Năm 2009 Tây Ninh Bình Dương

Giá trị Tỷ lệ Giá trị Tỷ lệ Tổng thu ngân sách địa phương (triệu đồng) 3,904 100% 17,673 100%

Thu bổ sung từ ngân sách Trung ương 645 17% 262 1%

Huy động đầu tư theo K3, Đ8 Luật NSNN 210 5% 0 0%

Thu kết dư ngân sách 128 3% 2,508 14%

Thu chuyển nguồn ngân sách năm trước 700 18% 685 4%

(Nguồn: Bộ Tài chính (2011), Quyết toán thu chi ngân sách năm 2009 của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương)

Cơ cấu thu ngân sách (tỷ đồng)

Thu trên địa bàn Thu bổ sung từ NS cấp trên Thu khác

Bảng 13 – Cơ cấu thu ngân sách trên địa bàn Tây Ninh (tỷ đồng)

TỔNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

I Thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước 83.8% 59.7% 63.3% 63.5% 66.2%

Thu từ DNNN trung ương 8.2% 4.6% 4.8% 5.0% 6.5%

Thu từ DNNN địa phương 33.8% 7.4% 7.0% 4.5% 6.7%

Thu từ DN có vốn đầu tư nước ngoài 5.3% 4.0% 6.9% 4.7% 4.6%

Thu từ khu vực ngoài quốc doanh 13.0% 15.9% 17.1% 16.9% 20.2%

Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao 3.4% 2.8% 3.8% 5.7% 6.4%

II Thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế TTĐB, VAT hàng NK do Hải quan thu 11.3% 10.4% 9.6% 6.8% 6.3%

III Các khoản thu huy động để lại chi quản lý qua NSNN 29.6% 27.6%

Thu xổ số kiến thiết 24.6% 24.2%

(Nguồn: tác giả tổng hợp từ NGTK Tây Ninh năm 2010 và báo cáo Quyết toán ngân sách năm 2009, 2010 của tỉnh Tây Ninh)

Giai đoạn 2005-2010, cơ cấu thu ngân sách trên địa bàn có sự thay đổi không đồng đều và chưa đáng kể Nguồn thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước trước năm 2005 chiếm tỷ trọng lớn, với 83.8% vào năm 2005, trong đó DN nhà nước chiếm 42% Tuy nhiên, đến năm 2007, tỷ lệ này giảm xuống còn khoảng 12% và duy trì mức này đến nay Khu vực ngoài quốc doanh tăng từ 13% lên 20.2% vào năm 2010, trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chỉ chiếm 5.3% và không có sự thay đổi đáng kể trong giai đoạn 2006-2010.

NLCT ở cấp độ DN

Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng chỉ số NLCT cấp tỉnh (PCI) để đánh giá chất lượng môi trường kinh doanh tại các tỉnh Chỉ số PCI được thiết kế nhằm đo lường mức độ thuận lợi của môi trường kinh doanh, chất lượng điều hành kinh tế và nỗ lực cải cách hành chính của chính quyền địa phương ở Việt Nam, với mục tiêu thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.

Bảng 16 - Tổng hợp kết quả chỉ số PCI 2007-2011 tỉnh Tây Ninh

Năm Điểm tổng hợp Kết quả xếp hạng Nhóm điều hành

(Nguồn: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2012), Chỉ số năng lực cạnh tranh tranh cấp tỉnh PCI)

Theo kết quả PCI từ năm 2006 đến 2011, điểm số của Tây Ninh tăng dần, cho thấy sự cải thiện trong môi trường kinh doanh Mặc dù thứ hạng có xu hướng thấp đi, tỉnh đã vươn lên từ nhóm Trung bình, Tương đối thấp đến Khá, và vào năm 2011 đã thuộc nhóm Tốt Điều này phản ánh tín hiệu tích cực cho khu vực kinh tế tư nhân tại Tây Ninh.

Theo Báo cáo PCI năm 2012 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Tây Ninh nổi bật với một số chỉ số thành phần đạt điểm cao, như chi phí gia nhập thị trường (đứng thứ 7/63 cả nước và 1/7 khu vực Đông Nam Bộ), tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất (3/63 và 1/7), cùng với chi phí không chính thức (2/63 và 2/7) Tuy nhiên, cũng có một số chỉ số quan trọng khác của tỉnh nằm dưới mức trung bình, bao gồm đào tạo lao động, tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh, cũng như dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp.

Một số chỉ số đã cải thiện tích cực, bao gồm tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin, sự phát triển của thiết chế pháp lý, tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh, cũng như giảm thiểu chi phí không chính thức.

Bảng 17 - Tổng hợp kết quả chỉ số thành phần PCI tỉnh Tây Ninh 2006-2011

STT Chỉ số thành phần PCI 2006 PCI 2007 PCI 2008 PCI 2009 PCI 2010 PCI 2011

5 Chi phí không chính thức 6.12 6.99 6.96 7.51 6.66 8.57

10 Ưu đãi DNNN 4.42 4.60 6.56 Điểm tổng 48.35 53.92 45.09 59.03 57.93 60.34

(Nguồn: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2012),

Chỉ số năng lực cạnh tranh tranh cấp tỉnh PCI)

Từ năm 2005 đến nay, Tây Ninh luôn xếp hạng cuối hoặc gần cuối trong khu vực Đông Nam Bộ về chất lượng môi trường kinh doanh, chỉ vượt qua Bình Phước vào các năm 2007, 2009 và 2010 Sự chênh lệch này cho thấy áp lực cạnh tranh mạnh mẽ từ các tỉnh lân cận trong việc cải thiện môi trường đầu tư, điều này đặt ra thách thức lớn cho Tây Ninh trong việc thu hút đầu tư.

Bảng 18 – So sánh chỉ số PCI 2007-2011 Tỉnh, thành PCI 2007 PCI 2008 PCI 2009 PCI 2010 PCI 2011 Điểm Xếp hạng Điểm Xếp hạng Điểm Xếp hạng Điểm Xếp hạng Điểm Xếp hạng

Bình Phước 50.37 49 53.71 32 56.15 42 57.24 36 65.87 8 Đồng Nai 62.33 16 59.62 15 63.16 18 59.49 25 64.77 9 Tây Ninh 53.92 35 45.1 56 59.03 28 57.93 33 60.43 25

(Nguồn: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2012), Chỉ số năng lực cạnh tranh tranh cấp tỉnh PCI)

3.3.1.2 Cơ sở hạ tầng giao thông

Hạ tầng giao thông tỉnh Tây Ninh đã được chú trọng đầu tư, nhưng do nguồn lực hạn chế, hệ thống vẫn chưa đồng bộ và chưa đáp ứng yêu cầu phát triển Mạng lưới giao thông đường bộ chủ yếu dựa vào 2 tuyến Quốc lộ và 43 tuyến tỉnh lộ.

326 tuyến huyện lộ và mạng đường giao thông nông thôn tạo thành hệ thống các trục dọc và trục ngang phân bố tương đối đều trên toàn tỉnh

Quốc lộ 22 là tuyến đường xuyên Á kết nối quốc lộ 1A từ TPHCM đến tỉnh Tây Ninh và Campuchia qua cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, với tổng chiều dài 58,6 km Đường có bề rộng 18m, gồm 4 làn xe, đạt tiêu chuẩn cấp II Chính phủ đã quy hoạch xây dựng đường cao tốc TPHCM – Mộc Bài dài 55 km, dự kiến hoàn thành vào năm 2020.

Quốc lộ 22B, dài 87.675 km, nằm trong tỉnh Tây Ninh, kết nối từ quốc lộ 22 tại Thị trấn Gò Dầu đến cửa khẩu quốc tế Xa Mát (huyện Tân Biên) đi Campuchia Tuyến đường này đạt tiêu chuẩn cấp III với 2 làn xe, đóng vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội, an ninh và quốc phòng của địa phương và khu vực Mặc dù có tầm quan trọng lớn, cả hai tuyến quốc lộ vẫn chưa được đầu tư tương xứng Quốc lộ 22B là cửa ngõ giao thông duy nhất nối với TPHCM, giữ vị trí quan trọng trong việc vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ.

Tỉnh Tây Ninh chưa tận dụng được lợi thế phát triển giao thông từ các tỉnh lân cận như Bình Dương và Đồng Nai, nơi đã khai thác hiệu quả sự kết nối đến sân bay Long Thành và cảng Cái Mép – Thị Vải Việc quy hoạch các tuyến đường kết nối với các tỉnh có hạ tầng giao thông phát triển sẽ giúp Tây Ninh nâng cao khả năng phát triển kinh tế và kết nối với các điểm quan trọng trong khu vực.

Các tuyến tỉnh lộ và huyện lộ kết nối đến các khu công nghiệp (KCN) chưa được triển khai đồng bộ, ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng thu hút đầu tư Chẳng hạn, tuyến đường chính vào KCN Bourbon An Hòa vẫn chưa được mở rộng sau gần 4 năm hoạt động, dẫn đến việc thu hút đầu tư rất kém Tình trạng tương tự cũng diễn ra tại các KCN Chà Là, Phước Đông – Bời Lời và các cụm công nghiệp khác.

Tây Ninh không có hệ thống sông ngòi phong phú như các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nhưng có hai con sông chính là sông Vàm Cỏ Đông và sông Sài Gòn, giúp kết nối Tây Ninh với các tỉnh trong vùng Mặc dù lòng sông rộng và sâu, phù hợp cho tàu lớn, nhưng cầu Gò Dầu hiện tại không đáp ứng tiêu chuẩn cho tàu lớn, do đó chưa khai thác được tiềm năng giao thông của sông.

Ngoài ra, có nhiều bến và cảng sông nhỏ cho phép neo đậu và xếp dỡ hàng hóa, chủ yếu phục vụ cho các phương tiện nhỏ với tải trọng 10-20 tấn Tuy nhiên, các bến này hiện chỉ là bến tạm và chưa có cầu tàu Các bến cảng phục vụ cho các khu công nghiệp vẫn chỉ nằm trong quy hoạch mà chưa đáp ứng được nhu cầu cấp thiết.

Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông tỉnh Tây Ninh hiện còn nhiều hạn chế, không đáp ứng được tầm quan trọng chiến lược của nó trong phát triển kinh tế.

3.3.2 Trình độ phát triển cụm ngành Hiểu theo đúng khái niệm cụm ngành được Giáo sư Michael Porter định nghĩa là “một nhóm công ty và các tổ chức liên kết gần gũi với nhau về mặt địa lý trong một lĩnh vực cụ thể, kết nối với nhau bởi những điểm tương đồng và tương hỗ cho nhau” thì Tây Ninh chưa có cụm ngành nào đúng nghĩa

Tỉnh sở hữu lợi thế về đất đai và khí hậu thuận lợi cho việc phát triển cây công nghiệp như cao su, điều, mía, và mì, cùng với ngành chế biến nông sản Tuy nhiên, hiện tại, sản phẩm chủ yếu là sơ chế như mủ cao su, hạt điều, và tinh bột mì, dẫn đến giá trị gia tăng không cao Nếu các ngành này được phát triển mạnh mẽ thành cụm ngành thực sự, tỉnh có thể tận dụng hiệu quả hơn những lợi thế từ điều kiện tự nhiên của mình.

Tóm lại, nhân tố trình độ phát triển cụm ngành hiện tại vẫn chưa phát triển nhưng đã manh nha và sớm hình thành trong tương lai

Đánh giá và gợi ý chính sách

Đánh giá năng lực cạnh tranh tỉnh Tây Ninh

Tỉnh Tây Ninh sở hữu lợi thế lớn về điều kiện tự nhiên, nằm trong vùng Đông Nam Bộ với vị trí địa lý thuận lợi và tiềm năng kinh tế vượt trội Khu vực này có các trục giao thông quan trọng, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, giúp tỉnh đạt được nhịp độ tăng trưởng cao nhất cả nước Những thành tựu phát triển đã đạt được cũng góp phần tạo ra lợi thế cạnh tranh hàng đầu cho Tây Ninh.

Tỉnh Tây Ninh tiếp giáp với các tỉnh thành đã và đang phát triển rất nhanh: Bình Dương, Long

Trảng Bàng, huyện nằm cách trung tâm TPHCM chỉ 50km từ cửa ngõ Tây Ninh, có vị trí thuận lợi với khoảng cách 40-80km đến sân bay Tân Sơn Nhất và các cảng quốc tế, nội địa Tây Ninh cũng sở hữu 240km đường biên giới với Campuchia, đóng vai trò là cửa ngõ quan trọng trong việc kết nối các nền kinh tế xuyên Á.

Khí hậu ổn định và ôn hòa của khu vực giúp hạn chế tác động của thiên tai, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp Tài nguyên đất và nước phong phú, lý tưởng cho việc trồng các loại cây công nghiệp ngắn và dài ngày như cao su, mía và mì, mang lại lợi thế tự nhiên so với các tỉnh lân cận.

Cơ cấu dân số tỉnh Tây Ninh được đánh giá là “cơ cấu vàng” với 68% dân số trong độ tuổi lao động vào năm 2010 Tỷ lệ dân số trẻ, cụ thể nhóm tuổi từ 0-14, chiếm 23.8%, cho thấy tiềm năng duy trì lực lượng lao động cao trong tương lai.

4.1.2 Điểm yếu Hiện tại tỉnh có nhiều điểm yếu cần khắc phục nếu muốn đạt được mục tiêu trong giai đoạn tới, tập trung vào 3 điểm yếu cốt lõi sau:

Chất lượng nguồn lao động ở Tây Ninh mặc dù dồi dào nhưng vẫn còn thấp, không đáp ứng được nhu cầu phát triển nhanh và mạnh của tỉnh Mặc dù thống kê cho thấy Tây Ninh có thừa nguồn lao động, nhưng vấn đề chất lượng vẫn cần được cải thiện để hỗ trợ mục tiêu phát triển.

LĐ nhưng hầu hết các DN đều gặp khó khăn khi tuyển dụng LĐ địa phương, nhất là những

Lao động có tay nghề và trình độ đáp ứng yêu cầu công việc đang gặp khó khăn trong việc thu hút lao động ngoại tỉnh, đặc biệt là lao động trình độ cao, do chính sách về nhà ở và dịch vụ xã hội chưa phát triển Mạng lưới đào tạo nghề chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến chất lượng đào tạo nghề còn hạn chế do thiếu trang thiết bị và máy móc tiên tiến, cùng với đội ngũ giảng dạy chưa đủ số lượng và trình độ Những rào cản này ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng thu hút các dự án quy mô lớn và công nghệ cao vào tỉnh, bởi với chất lượng lao động hiện tại, việc làm chủ các phương tiện kỹ thuật và tiếp thu công nghệ tiên tiến là rất khó khăn.

Cơ sở hạ tầng giao thông tỉnh Tây Ninh chưa đồng bộ và không đáp ứng yêu cầu phát triển, với hai tuyến quốc lộ 22 và 22B có quy mô nhỏ so với nhu cầu vận chuyển Các tuyến đường huyện lộ và tỉnh lộ kết nối đến các khu công nghiệp vẫn chưa được nâng cấp, hạn chế giao thương và thu hút đầu tư Trục đường Hồ Chí Minh đang xây dựng dở dang nhưng tiến độ chậm do thiếu vốn, trong khi việc xây dựng và nâng cấp các cảng sông và nạo vét sông Vàm Cỏ vẫn nằm trong quy hoạch Đây là một trong những yếu tố cốt lõi nhưng còn hạn chế của tỉnh.

Tây Ninh sở hữu lợi thế về thổ nhưỡng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các cụm ngành công nghiệp chế biến, đặc biệt là vùng nguyên liệu cây công nghiệp tập trung rộng lớn.

Hiện tại, tỉnh Tây Ninh chưa hình thành cụm ngành nào đúng nghĩa, dẫn đến sự phát triển rời rạc và sản phẩm chủ yếu chỉ ở giai đoạn sơ chế với giá trị gia tăng thấp Việc phát triển cụm ngành sẽ giúp tận dụng hiệu quả lợi thế tự nhiên của tỉnh, tăng năng suất, nâng cao giá trị gia tăng và góp phần chuyển dịch nhanh chóng cơ cấu kinh tế địa phương.

4.1.3 Cơ hội Tỉnh Tây Ninh vẫn còn nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế nhanh và mạnh hơn nữa do vẫn chưa khai thác hết những lợi thế sẵn có Ngành công nghiệp chế biến chưa phát triển đúng mức, mang lại giá trị gia tăng thấp; vị trí địa lý thuận lợi để phát triển khu công nghiệp nhưng vẫn chưa được quan tâm đúng mức để thu hút đầu tư; nguồn lao động trẻ còn dồi dào nhưng chất lượng còn thấp; giao thương với Campuchia chưa đáng kể; liên kết vùng còn yếu kém…

Kinh tế thế giới và Việt Nam đang đối mặt với nhiều khó khăn, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt tại tỉnh Tây Ninh Tình trạng giải thể, phá sản và thu hẹp quy mô sản xuất ngày càng gia tăng, dẫn đến sự sụt giảm đáng kể trong thu hút đầu tư, đặc biệt là từ các nhà đầu tư FDI Do đó, việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa trong giai đoạn 2011 trở đi trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

2020 là một thách thức rất lớn của tỉnh

Tây Ninh đang phải đối mặt với thách thức cạnh tranh khốc liệt từ các tỉnh lân cận, nơi có điều kiện thuận lợi hơn trong việc thu hút các dự án lớn và công nghệ cao Chính sách thu hút đầu tư và phát triển khu công nghiệp ở Tây Ninh cần được cải thiện để tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

Tỉnh cần thiết lập các chính sách phù hợp nhằm tối ưu hóa lợi thế hiện có và khắc phục những hạn chế, rào cản về năng lực cạnh tranh (NLCT) để đạt được mục tiêu tăng trưởng trong thời gian tới.

Nhận dạng nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh tỉnh Tây Ninh

4.2.1 Chất lượng nguồn LĐ (cải thiện cả hai nhóm yếu tố bất lợi lớn về chất lượng môi trường kinh doanh và hạ tầng xã hội)

Cải thiện chất lượng nguồn lao động sẽ tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư mới, đặc biệt là các dự án công nghệ cao, đồng thời khuyến khích mở rộng các dự án hiện có và nâng cao trình độ ứng dụng khoa học công nghệ Điều này sẽ giúp lấp đầy và phát triển các khu, cụm công nghiệp, tận dụng lợi thế về vị trí địa lý, tăng năng suất lao động, góp phần vào sự gia tăng GDP và thúc đẩy chuyển dịch nhanh chóng cơ cấu kinh tế.

4.2.2 Cơ sở hạ tầng giao thông (cải thiện yếu tố bất lợi lớn về hạ tầng kỹ thuật và tận dụng lợi thế từ yếu tố vị trí địa lý)

Hiện trạng giao thông hạn chế đang cản trở sự cải thiện năng lực cạnh tranh (NLCT) của tỉnh, vì hạ tầng giao thông là yếu tố then chốt cho sự phát triển địa phương Theo quy hoạch tổng thể giai đoạn 2010-2020, trung ương dự kiến đầu tư nâng cấp quốc lộ 22 và mở rộng quốc lộ 14 cùng 14C, nhằm kết nối Bình Phước với Tây Ninh và khu vực Tây.

Nguyên tiếp tục phát triển tuyến đường HCM qua Tây Ninh và đầu tư vào tuyến đường sắt nhẹ cùng cao tốc từ TPHCM đến Mộc Bài Tỉnh cũng ưu tiên nâng cấp các tuyến tỉnh lộ 782, 784, 786, 787, 794, 795, 799, các đường vành đai biên giới, đê bao tuyến đường sông Vàm Cỏ Đông và nhiều tuyến đường khác Đây là cơ hội để hệ thống giao thông Tây Ninh chuyển từ bất lợi lớn thành lợi thế lớn trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

4.2.3 Phát triển cụm ngành sản phẩm từ cây công nghiệp (tận dụng yếu tố lợi thế về vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên)

Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP của Tây Ninh hiện đạt 26.8%, và mục tiêu giảm xuống còn 11-12% đến năm 2020 để trở thành tỉnh công nghiệp là một thách thức lớn Tây Ninh có lợi thế phát triển cây công nghiệp, vì vậy việc hình thành các cụm ngành chế biến sản phẩm từ cây công nghiệp sẽ không chỉ tăng giá trị gia tăng cho sản phẩm mà còn tận dụng hiệu quả vùng nguyên liệu, từ đó nâng cao giá trị sản xuất công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đúng định hướng của tỉnh.

Gợi ý chính sách để nâng cao năng lực cạnh tranh tỉnh Tây Ninh

Bài viết đề xuất các chính sách cho chính quyền tỉnh Tây Ninh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh (NLCT) và duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững trong giai đoạn 2011-2020 Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức, cũng như nhận diện các nhân tố cốt lõi ảnh hưởng đến NLCT của tỉnh.

4.3.1 Nâng cao chất lượng nguồn lao động Nguồn LĐ phân theo địa phương thì gồm hai dạng: LĐ địa phương và LĐ nhập cư; phân theo khu vực làm việc thì gồm hai dạng: LĐ làm việc trong khu vực hành chính sự nghiệp của nhà nước và LĐ làm việc trong các DN

4.3.1.1 Đối với LĐ nhập cư làm việc trong khu vực hành chính sự nghiệp của tỉnh Mặc dù tỉnh đã có chính sách thu hút nhân tài để khuyến khích các nhân lực có kinh nghiệm, trình độ cao đến làm việc ở Tây Ninh, tuy nhiên chính sách này hầu như không phát huy hiệu quả do nguồn nhân lực dạng này có rất nhiều cơ hội lựa chọn công việc tốt, họ ngại thay đổi nơi sống để định cư ở Tây Ninh Do đó, trong khu vực này, tác giả gợi ý tỉnh nên tận dụng nguồn LĐ tại địa phương, những CBCC, viên chức có tiềm năng tốt, hỗ trợ đào tạo sau đại học trong nước hay nước ngoài; đồng thời thống kê những học sinh sinh viên có kết quả học tập tốt, chuyên ngành phù hợp, hỗ trợ đào tạo và cam kết về địa phương làm việc Đây sẽ là giải pháp tốt hơn để nâng cao chất lượng LĐ làm việc trong các cơ quan nhà nước của tỉnh, mà cũng giảm được tình trạng “chảy máu chất xám” nguồn LĐ chất lượng cao của địa phương

4.3.1.2 Đối với LĐ nhập cư làm việc trong các DN Để thu hút những LĐ ngoại tỉnh có trình độ, tay nghề đến làm việc, ngoài mức thu nhập hấp dẫn của DN để cạnh tranh với các tỉnh lân cận, tỉnh cần hỗ trợ về hạ tầng dịch vụ lưu trú, ăn uống, vui chơi, giải trí, trường học, bệnh viện…gần những nơi tập trung nhiều DN như khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế để tạo môi trường sống ổn định cho LĐ nhập cư và LĐ địa phương ở xa

4.3.1.3 Đối với LĐ địa phương làm việc trong các DN: Để nâng cao chất lượng lực lượng này, tỉnh cần có chính sách về đào tạo, dạy nghề gắn với dự báo về nhu cầu LĐ và việc làm từ các DN Chính sách cụ thể gợi ý như sau:

Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cần mở rộng mạng lưới đào tạo và dạy nghề thông qua các hình thức công lập, tư nhân và hợp tác công tư Đồng thời, khuyến khích các cơ sở sản xuất và doanh nghiệp thành lập cơ sở đào tạo nhằm tận dụng máy móc và trang thiết bị, từ đó đáp ứng yêu cầu lao động có tay nghề và kỹ thuật phù hợp với công nghệ sản xuất và nhu cầu thị trường lao động.

Cải thiện chất lượng đội ngũ giảng dạy là một nhiệm vụ quan trọng, tỉnh cần quy định tỷ lệ cụ thể về trình độ của giảng viên trong cả hệ thống công lập và tư nhân Đồng thời, cần hỗ trợ nâng cao chất lượng giảng viên hoặc thay thế những người không đáp ứng đủ yêu cầu về trình độ chuyên môn.

Đầu tư nâng cấp trang thiết bị, máy móc và cơ sở hạ tầng cho các cơ sở giáo dục là cần thiết để đáp ứng yêu cầu giảng dạy thực tế Tỉnh cần quy định cụ thể về cấp phép cho các cơ sở tư nhân, đồng thời thực hiện kiểm tra thường xuyên chất lượng đầu ra nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo.

Áp dụng mô hình kết hợp dạy nghề và dạy văn hóa cho học sinh tốt nghiệp phổ thông cơ sở nhằm giúp họ đạt trình độ phổ thông trung học và tay nghề phù hợp với yêu cầu công việc thực tế Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ lao động nông nghiệp, nông thôn dưới 35 tuổi học các nghề phi nông nghiệp để tạo điều kiện cho họ chuyển đổi nghề nghiệp.

Thứ năm, thành lập một "Trung tâm thông tin và dự báo thị trường LĐ” trực thuộc Sở LĐ –

Trung tâm TB và XH có vai trò quan trọng trong việc cập nhật thông tin và dự báo nhu cầu việc làm, ngành nghề, yêu cầu trình độ và tiêu chuẩn lao động từ các khu vực kinh tế Kế hoạch đào tạo lao động sẽ được xây dựng dựa trên thông tin mà trung tâm cung cấp và phân bổ cho các cơ sở Ngoài ra, trung tâm cũng cung cấp thông tin cho các đơn vị kinh tế về nguồn lao động của tỉnh và có thể hoạt động như một sàn giao dịch việc làm để tạo thêm nguồn thu.

Mở rộng mạng lưới giới thiệu việc làm, đặc biệt ở khu vực nông thôn, nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang ngành công nghiệp và dịch vụ.

Cần ưu tiên tăng tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục, đào tạo và dạy nghề, vì hiện tại tỷ lệ này còn rất thấp trong cơ cấu chi của tỉnh Việc tăng cường đầu tư cho giáo dục sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển bền vững.

Tỉnh cần khai thác đa dạng nguồn vốn ngoài ngân sách, bao gồm vốn ODA, FDI, hợp tác quốc tế, vốn từ doanh nghiệp và sự đóng góp của người dân thông qua xã hội hóa, nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính cho chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

4.3.2 Nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông Ngoài những tuyến giao thông được quy hoạch giai đoạn 2011-2020, tỉnh có thể mở rộng kết nối giao thông với các tỉnh phát triển lân cận để tận dụng hạ tầng giao thông tiếp nối đến các đầu mối giao thông lớn, chẳng hạn: kết nối đến đường vành đai 4 để kết nối nhanh với các tỉnh trong khu vực ĐNB và đến cảng Hiệp Phước, kết nối đường Mỹ Phước - Tân Vạn (Bình Dương) để kết nối đường Vành đai 3, kết nối đường Thủ Dầu Một – Long Thành để rút ngắn khoảng cách đến sân bay quốc tế Long Thành, cảng biển Bà Rịa – Vũng Tàu…tạo thuận lợi trong kết nối vùng, liên vùng để tăng cường giao thương, làm nền tảng cho phát triển

Việc nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông đòi hỏi nguồn vốn lớn, do đó cần thiết lập thứ tự ưu tiên Tác giả đề xuất thứ tự ưu tiên dựa trên mức độ quan trọng và tính cấp thiết trong từng giai đoạn.

Ngày đăng: 02/11/2023, 00:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tây Ninh (2011), “Chương 6: Những kết quả chính của điều tra khảo sát”, Điều tra tổng thể hiện trạng công nghệ ngành sản xuất công nghiệp của địa phương, xây dựng cơ sở dữ liệu về công nghệ, trang 19-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra tổng thể hiện trạng công nghệ ngành sản xuất công nghiệp của địa phương, xây dựng cơ sở dữ liệu về công nghệ
Tác giả: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tây Ninh
Năm: 2011
14. Sở Lao động - Thương Binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh (2011), “Chương II: Đặc điểm phát triển nhân lực tỉnh Tây Ninh 2001-2010”, Đề án Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Tây Ninh thời kỳ 2011-2020, trang 18-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Tây Ninh thời kỳ 2011-2020
Tác giả: Sở Lao động - Thương Binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh
Năm: 2011
15. Thủ tướng Chính phủ (2008), Quyết định số 1734/QĐ-TTg ngày 01/12/2008 về việc Phê duyệt quy hoạch phát triển mạng đường bộ cao tốc Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn sau 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1734/QĐ-TTg ngày 01/12/2008 về việc Phê duyệt quy hoạch phát triển mạng đường bộ cao tốc Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn sau 2020
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2008
18. Tổng cục Thống kê (2011b), “Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép phân theo địa phương”, Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thống kê, truy cập ngày20/2/2012 tại địa chỉ:http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=392&idmid=3&ItemID=11370 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép phân theo địa phương
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thống kê
Năm: 2011
19. Viện Chiến lược phát triển (2011), “Vùng Đông Nam bộ”, Viện Chiến lược phát triển - Trung tâm nghiên cứu kinh tế miền Nam, truy cập ngày 20/2/2012 tại địa chỉ:http://www.svec.org.vn/Pages/Article.aspx?id=26Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vùng Đông Nam bộ
Tác giả: Viện Chiến lược phát triển
Nhà XB: Viện Chiến lược phát triển - Trung tâm nghiên cứu kinh tế miền Nam
Năm: 2011
16. Thủ tướng Chính phủ (2010), Quyết định số 2044/QĐ-TTg ngày 09/11/2010 về việc Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Tây Ninh đến năm 2020 Khác
w