Giới thiệu vấn đề nghiên cứu
Bối cảnh nghiên cứu
Tây Ninh là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam của Việt Nam, bao gồm các tỉnh như Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, và TPHCM Vùng này nổi bật với sự phát triển kinh tế năng động, dân số đông, và đứng đầu cả nước về kim ngạch xuất khẩu, đầu tư nước ngoài, và GDP Tây Ninh giáp Vương quốc Campuchia ở phía Tây và Bắc, trong khi phía Đông giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước, và phía Nam giáp TPHCM cùng tỉnh Long An.
Từ năm 2001 đến 2010, tỉnh Tây Ninh đã ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng, đạt hơn 14% mỗi năm, gấp đôi mức trung bình cả nước và tương đương với các tỉnh lân cận trong khu vực Đông Nam Bộ Sự tăng trưởng này đã góp phần cải thiện đáng kể thu nhập bình quân đầu người, đến năm 2010, Tây Ninh đã vượt qua mức bình quân cả nước và dần thu hẹp khoảng cách với các tỉnh phát triển xung quanh.
Mặc dù Tây Ninh ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc trong giai đoạn này, tỉnh vẫn chủ yếu là nông nghiệp với tỷ trọng nông nghiệp chiếm gần 27% GDP, cao hơn mức trung bình cả nước (20%) và vùng Đông Nam Bộ (7.2%) Khu vực công nghiệp chuyển dịch chậm, chỉ chiếm 29% so với mục tiêu 37%, trong khi đầu tư nước ngoài vẫn khiêm tốn và chưa đạt kỳ vọng Các dự án FDI chủ yếu có suất đầu tư thấp và thâm dụng lao động Mặc dù kim ngạch xuất khẩu tăng cao, cơ cấu sản phẩm chủ yếu là hàng may mặc gia công và sản phẩm sơ chế như mủ cao su và tinh bột mì, không mang lại giá trị gia tăng cao cho tỉnh.
Ngành dịch vụ hiện có năng suất lao động cao nhất, tiếp theo là ngành công nghiệp Mặc dù năng suất lao động đã tăng liên tục qua các năm, nhưng vẫn có ít sự chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp, nơi có năng suất thấp, sang khu vực công nghiệp và dịch vụ có năng suất cao hơn Nguyên nhân chính là do trình độ, tay nghề của lao động và công tác đào tạo nghề tại tỉnh còn yếu kém.
GDP của Tây Ninh hiện có khoảng cách chênh lệch lớn so với các tỉnh trong khu vực, đặc biệt là với Bình Dương, mặc dù cả hai tỉnh đều có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi Sau 10 năm phát triển, Bình Dương đã vượt xa Tây Ninh và đạt được vị thế cao trong khu vực, trong khi Tây Ninh vẫn chưa thể làm được điều tương tự Nguyên nhân chính nằm ở sự khác biệt trong các chính sách phát triển giữa hai tỉnh Do đó, Tây Ninh cần xác định các chính sách phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh, hướng tới mục tiêu trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2020, với hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, đồng bộ, và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững.
Trong giai đoạn 2011 – 2020, mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân đạt khoảng 15,0 – 15,5% Cụ thể, ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản dự kiến tăng trưởng bình quân từ 5,5 – 6,0%, trong khi ngành công nghiệp và xây dựng có mức tăng trưởng khoảng 20,0 – 21,0% Khu vực dịch vụ cũng được kỳ vọng tăng trưởng từ 14,7 – 15,2% Về cơ cấu kinh tế, nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm khoảng 11 – 12%, công nghiệp và xây dựng chiếm 44,5 – 45%, và khu vực dịch vụ chiếm từ 43 – 43,5%.
Tây Ninh còn nhiều tiềm năng để phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh (NLCT), nhằm đạt được các mục tiêu phát triển và theo kịp các tỉnh trong khu vực Tuy nhiên, đây là một thách thức lớn mà tỉnh phải đối mặt Để giải quyết vấn đề này, tác giả đã chọn nghiên cứu về “Chính sách nâng cao NLCT tỉnh Tây Ninh” nhằm tìm ra những chính sách phù hợp cho giai đoạn phát triển 2011-2020.
Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá những điểm cốt lõi thúc đẩy phát triển kinh tế tỉnh Tây Ninh
- Nhận dạng những rào cản làm cho Tây Ninh chưa phát huy hết tiềm năng phát triển
- Gợi ý một số chính sách để gỡ bỏ những rào cản, nâng cao NLCT của tỉnh
Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Những nhân tố cối lõi quyết định NLCT của tỉnh Tây Ninh?
Câu hỏi 2: Tỉnh Tây Ninh cần có những chính sách nào để nâng cao NLCT?
Phương pháp nghiên cứu
Phân tích định tính dựa trên nền tảng khung lý thuyết về NLCT của Giáo sư Michael E Porter, 2 có điều chỉnh cho phù hợp với tình hình Việt Nam 3
Năng lực cạnh tranh (NLCT) của một nền kinh tế được định nghĩa là khả năng đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế xã hội và nâng cao đời sống người dân NLCT được đánh giá qua năng suất sử dụng các nguồn lực như vốn, con người và tài nguyên thiên nhiên.
Năng suất trong nền kinh tế được hình thành từ sự kết hợp của ba nhóm nhân tố chính: năng lực cạnh tranh vi mô, tập trung vào cấp độ doanh nghiệp; năng lực cạnh tranh vĩ mô, liên quan đến cấp độ địa phương; và các yếu tố lợi thế tự nhiên.
Trong nghiên cứu “Đồng bằng sông Cửu Long: Liên kết để tăng cường năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững” (2011), TS Vũ Thành Tự Anh đã áp dụng 3 khung lý thuyết quan trọng nhằm phân tích và đề xuất các giải pháp cho sự phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực này.
Hình 1 - Khung lý thuyết về NLCT
(Nguồn: Porter (1990), được điều chỉnh bởi TS Vũ Thành Tự Anh (2011))
Nhóm nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp bao gồm các yếu tố tác động trực tiếp đến năng suất, như chất lượng môi trường kinh doanh, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, trình độ phát triển của cụm ngành, cũng như hoạt động và chiến lược của doanh nghiệp.
Môi trường kinh doanh và cơ sở hạ tầng kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất và khả năng đổi mới của doanh nghiệp Nghiên cứu này sử dụng chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với dự án Sáng kiến Năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI) phát triển, dựa trên các tiêu chí đánh giá môi trường kinh doanh và hạ tầng của từng địa phương.
Hoạt động và chiến lược của doanh nghiệp được đánh giá dựa trên các điều kiện nội bộ nhằm tối ưu hóa năng suất và nâng cao khả năng đổi mới sáng tạo Nghiên cứu này phân tích trình độ công nghệ sản xuất công nghiệp của tỉnh thông qua các chỉ số về kỹ thuật, con người, thông tin, tổ chức, và mức đóng góp của công nghệ vào sản xuất.
Cụm ngành thể hiện sự tập trung địa lý của doanh nghiệp và tài sản chuyên môn, phản ánh tác động của liên kết và lan tỏa giữa các tổ chức trong cạnh tranh, từ đó nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động Nhóm nhân tố thứ hai liên quan đến năng lực cạnh tranh ở cấp độ địa phương, bao gồm chất lượng hạ tầng xã hội và các thể chế chính trị, pháp luật, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, cùng với các chính sách kinh tế như chính sách tài khóa và cơ cấu kinh tế Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của hạ tầng xã hội, chính sách tài khóa và cơ cấu kinh tế trong việc phản ánh môi trường hoạt động của doanh nghiệp.
Nội dung bố cục
Trong giai đoạn 2001-2010, tỉnh Tây Ninh đã trải qua sự phát triển kinh tế với các chỉ số như GDP, GDP/đầu người, cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngân sách, FDI, xuất nhập khẩu, khu công nghiệp, du lịch và năng suất lao động Tuy nhiên, khi so sánh với các tỉnh lân cận, đặc biệt là tỉnh Bình Dương, sự phát triển của Tây Ninh vẫn chưa bền vững và chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh.
Phần thứ hai: Thực trạng NLCT tỉnh Tây Ninh
Dựa trên khung lý thuyết và dữ liệu thứ cấp, tác giả đã từng bước khái quát bức tranh năng lực cạnh tranh (NLCT) của tỉnh Tây Ninh, nhằm giải đáp câu hỏi nghiên cứu đầu tiên.
Phần thứ ba: Đánh giá và gợi ý chính sách
Sau khi phân tích và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh (NLCT) của tỉnh, kết hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, tác giả sẽ đề xuất một số chính sách ưu tiên nhằm nâng cao NLCT theo định hướng phát triển của tỉnh, qua đó giải đáp câu hỏi nghiên cứu thứ hai.
Hạn chế của đề tài
Do những hạn chế về năng lực của tác giả, cũng như số liệu từ các tỉnh khu vực Đông Nam Bộ và quy định giới hạn của luận văn, báo cáo, vẫn còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu sâu hơn.
4 Vũ Thành Tự Anh và đ.t.g (2011)
- Chưa đề cập đến hiệu quả hoạt động của các khu kinh tế cửa khẩu
- Chưa đề cập cụ thể đến hiệu quả của khu vực dân doanh
- Chưa đề cập đến vấn đề hợp tác, liên kết trong Vùng
- Chưa phân tích hết các yếu tố trong NLCT (y tế, văn hóa, chính sách tín dụng)
- Một số chỉ tiêu không có so sánh với các tỉnh khác do thiếu số liệu
Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu thứ cấp từ nhiều nguồn khác nhau, tuy đã được tác giả cân nhắc về độ tin cậy, nhưng vẫn có khả năng xuất hiện số liệu không chính xác Do đó, một số nhận định có thể chưa hoàn toàn sát thực tế Tác giả cam kết sẽ tiếp tục nghiên cứu để khắc phục những hạn chế này.
Bối cảnh tình hình phát triển kinh tế tỉnh Tây Ninh
Các chỉ tiêu phản ánh mức độ phát triển kinh tế
2.1.1 Tổng sản phẩm quốc nội và thu nhập bình quân đầu người
2.1.1.1 Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Nền kinh tế tỉnh Tây Ninh đã liên tục tăng trưởng với tốc độ cao trong những năm gần đây, đặc biệt trong giai đoạn 2001-2005, với mức tăng trưởng GDP bình quân đạt 14.1%/năm, vượt xa mức tăng trưởng bình quân của cả nước là 7.56%/năm Tuy nhiên, tốc độ này vẫn thấp hơn so với tỉnh Bình Dương trong Vùng Đông Nam Bộ, nơi có mức tăng trưởng đạt 15.32% So với giai đoạn 1996-2000, Tây Ninh cũng đã có sự cải thiện khi mức tăng trưởng bình quân đạt 13.5%.
Giai đoạn 2006-2010, tỉnh có tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 14.2%, vượt xa mức tăng trưởng GDP bình quân của cả nước là 7.01%/năm Đây là mức tăng GDP cao nhất trong Vùng Đông Nam Bộ trong giai đoạn này, theo sau là tỉnh Bình Dương với 14.1%.
Bảng 1 – GDP tỉnh Tây Ninh qua các năm
Năm GDP (Tr.VND) Tốc độ tăng GDP (%)
(Nguồn: Cục thống kê Tây Ninh (2011), NGTK tỉnh Tây Ninh năm 2010)
Hình 2 - GDP tỉnh Tây Ninh qua các năm
(Nguồn: Cục thống kê Tây Ninh (2011), NGTK tỉnh Tây Ninh năm 2010)
Bảng 2 - Tốc độ tăng trưởng GDP của các tỉnh Vùng ĐNB (giá so sánh)
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các số liệu trong NGTK các tỉnh năm 2010)
Mặc dù GDP của Tây Ninh đã có sự tăng trưởng qua các năm, từ 3,838 tỷ đồng năm 2001 lên 12,989 tỷ đồng vào năm 2010, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với các tỉnh trong Vùng Đông Nam Bộ, ngoại trừ Bình Phước Cụ thể, GDP của Bình Dương đạt 16,370 tỷ đồng vào năm 2010, cho thấy khoảng cách chênh lệch ngày càng lớn Để cải thiện vị thế kinh tế, Tây Ninh cần duy trì tốc độ phát triển bền vững trong tương lai.
Giá thực tế Giá so sánh tăng trưởng GDP cao hơn Bình Dương 1-2%/ mới có thể bắt kịp đà phát triển của Bình Dương trong giai đoạn tới
Bảng 3 - So sánh GDP trong Vùng ĐNB (giá so sánh) – tỷ đồng
Bình Phước 3,274 4,294 4,890 5,387 6,081 Đồng Nai 21,941 25,266 29,172 31,903 36,202 TPHCM 99,672 112,271 124,303 135,053 150,943 Tây Ninh 7,874 9,209 10,491 11,654 12,989
(Nguồn: NGTK các tỉnh năm 2010)
Hình 3 - So sánh GDP Tây Ninh và Bình Dương
(Nguồn: NGTK tỉnh Tây Ninh và Bình Dương năm 2010)
Tây Ninh-Giá thực tế Tây Ninh-Giá so sánhBình Dương-Giá thực tế Bình Dương-Giá so sánh
2.1.1.2 GDP bình quân đầu người
Trong giai đoạn 2001-2010, GDP bình quân đầu người của Tây Ninh đã có sự tăng trưởng đáng kể, đạt 27.1 triệu đồng vào năm 2010, gấp gần 3 lần so với năm 2005 (9.9 triệu đồng) và hơn 6 lần so với năm 2001 (4.5 triệu đồng).
Từ năm 2002 đến 2010, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người của tỉnh Tây Ninh đạt 22,3%, vượt xa mức tăng trưởng toàn quốc là 13,1% Điều này chứng tỏ sự phát triển mạnh mẽ của Tây Ninh trong bối cảnh kinh tế chung của cả nước.
Bảng 4 - GDP bình quân đầu người tỉnh Tây Ninh
GDP bình quân đầu người (triệu VNĐ)
Năm Giá thực tế Giá so sánh Tốc độ tăng
Giá thực tế Giá so sánh
(Nguồn: Cục Thống kê Tây Ninh (2011), NGTK tỉnh Tây Ninh năm 2010)
Năm 2010, để đảm bảo tính chính xác, tác giả đã sử dụng số liệu từ báo cáo của Chủ tịch UBND Tây Ninh, Nguyễn Văn Nên, trong buổi làm việc với Đoàn công tác Chính phủ do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu vào ngày 11/8/2010, do có sự chênh lệch lớn với số liệu ước tính trong NGTK Tây Ninh.
Tác giả đã thực hiện việc tính toán GDP bình quân đầu người của Việt Nam từ năm 2002 đến 2010, dựa trên số liệu được cung cấp bởi Ngân hàng Thế giới Thông tin này có thể được tìm thấy tại trang web chính thức của họ, nơi cung cấp các chỉ số kinh tế quan trọng.
Hình 4 - GDP bình quân đầu người tỉnh Tây Ninh
(Nguồn: Cục Thống kê Tây Ninh (2011), NGTK tỉnh Tây Ninh năm 2010)
Trong giai đoạn 2006-2010, GDP bình quân đầu người của tỉnh Tây Ninh đã có sự phát triển đáng kể, vượt qua mức bình quân cả nước Cụ thể, vào năm 1995, GDP bình quân đầu người của Tây Ninh chỉ đạt 185.8 USD, thấp hơn 32% so với mức trung bình cả nước là 273.9 USD Đến năm 2005, con số này tăng lên 493 USD, nhưng vẫn thấp hơn 23.2% so với mức trung bình của cả nước là 642 USD Tuy nhiên, đến năm 2010, GDP bình quân đầu người của Tây Ninh đã đạt 1390 USD, cao hơn khoảng 19% so với mức trung bình cả nước là 1168 USD Sự tăng trưởng này cho thấy tiềm năng phát triển kinh tế mạnh mẽ của Tây Ninh trong thời gian qua.
Trong giai đoạn 2006-2009, tỉnh Tây Ninh luôn có GDP bình quân đầu người thấp nhất trong khu vực Đông Nam Bộ, ngoại trừ tỉnh Bình Phước, mặc dù tốc độ tăng trưởng của Tây Ninh khá cao Đến năm 2010, GDP bình quân đầu người của Tây Ninh đạt 27,1 triệu đồng, cải thiện khoảng cách so với Bình Dương (30,1 triệu đồng) và Đồng Nai (29,5 triệu đồng), đồng thời tiến gần hơn đến mức bình quân của khu vực.
8 Viện Chiến lược phát triển (2011)
10 Diễn đàn kinh tế Việt Nam (2011)
GDP/đầu người (Triệu VNĐ)
Giá thực tế của ĐNB được xác định là 33 triệu đồng, không bao gồm tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu do ảnh hưởng của yếu tố dầu khí Mức bình quân của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam ước đạt 31.4 triệu đồng.
Mặc dù GDP bình quân đầu người của Tây Ninh không thấp hơn nhiều so với các tỉnh trong khu vực, nhưng giá trị tuyệt đối của GDP (theo giá thực tế) lại chênh lệch đáng kể Nguyên nhân chính là do tốc độ tăng dân số của Tây Ninh thấp nhất trong khu vực, chỉ khoảng 0.7% trong giai đoạn 2007-2010, trong khi Bình Dương đạt 7.7% và Đồng Nai là 2.6%.
Bảng 5 – GDP bình quân đầu người với các tỉnh khu vực ĐNB
GDP/đầu người (triệu VND/người) - theo giá thực tế
(Nguồn: Tác giả tính toán từ số liệu NGTK các tỉnh)
Bảng 6 – Tốc độ tăng dân số các tỉnh khu vực ĐNB
Tốc độ tăng dân số
(Nguồn: Tác giả tính toán từ số liệu NGTK các tỉnh)
11 Tác giả tính bình quân từ GDP bình quân đầu người năm 2010 của 5 tỉnh trong khu vực ĐNB (không kể BR- VT)
12 Tác giả tính toán từ số liệu NGTK các tỉnh và tính bình quân cho vùng Đông Nam bộ
Trong giai đoạn 2001-2010, tỉnh Tây Ninh đã có những bước tiến đáng kể về GDP và GDP bình quân đầu người Tuy nhiên, khoảng cách phát triển so với các tỉnh, thành phố năng động trong khu vực Đông Nam Bộ như TPHCM, Đồng Nai và Bình Dương vẫn còn rất lớn.
So với Bình Dương, khoảng cách về GDP giữa Tây Ninh và Bình Dương ngày càng gia tăng sau 10 năm phát triển Nếu Tây Ninh duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn Bình Dương 1% mỗi năm, thì sau hơn 20 năm nữa, Tây Ninh mới có khả năng bắt kịp sự phát triển của Bình Dương.
2.1.2.1 Cơ cấu kinh tế theo khu vực kinh tế
Cơ cấu kinh tế theo khu vực đang có sự chuyển dịch tích cực, tuy nhiên vẫn chưa đạt được các chỉ tiêu kế hoạch mà tỉnh đã đề ra Đặc biệt, tỷ trọng ngành nông nghiệp vẫn chiếm một phần lớn trong tổng thể cơ cấu kinh tế.
Vào năm 2005, cơ cấu kinh tế của tỉnh bao gồm Nông lâm nghiệp, Công nghiệp xây dựng và Thương mại dịch vụ lần lượt chiếm 38.2%, 25.1% và 36.7% Đến năm 2010, tỷ trọng này đã thay đổi thành 26.80%, 29.0% và 44.20%, trong khi kế hoạch của tỉnh cho năm 2010 dự kiến là 24%, 37% và 39%.
Hình 5 – Cơ cấu kinh tế năm 2005 và 2010
(Nguồn: Cục Thống kê Tây Ninh (2011), NGTK tỉnh Tây Ninh năm 2010)
Một số kết quả kinh tế trung gian
Trị giá xuất khẩu hàng hoá thời kỳ 2000-2010, có tốc độ tăng trưởng bình quân 31.5%/năm; Trong đó: 2001-2005 tăng 35%/năm; 2006-2010 tăng 28.1%/năm Tổng kim ngạch xuất khẩu
Trong giai đoạn 2006-2010, tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt 3.136 tỷ USD, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu Từ năm 2005 đến 2010, khu vực kinh tế nhà nước giảm 4.1% mỗi năm, trong khi khu vực dân doanh tăng trưởng 32.03% và khu vực FDI tăng 28.1% mỗi năm.
Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu hiện nay chủ yếu bao gồm hàng gia công và sơ chế, chiếm hơn 64% tổng giá trị xuất khẩu Trong đó, sản phẩm dệt may dẫn đầu với tỷ trọng 32.94%, tiếp theo là sản phẩm cao su sơ chế Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực còn có giày thể thao, mủ cao su, hạt điều và tinh bột mì.
13 Sở Công thương Tây Ninh (2011, tr 43-53)
Năng suất lao động (triệu đồng/người)
CN chế biến - chế tạo Xây dựng
Thương nghiệp, sửa chữaKhách sạn, nhà hàngVận tải, kho bãi, thông tin
Thị trường xuất khẩu hàng hóa của Tây Ninh đã mở rộng ra 13 thị trường chính, với Mỹ, Trung Quốc, Đài Loan và Hàn Quốc dẫn đầu Bốn thị trường này chiếm từ 68% đến 73,5% tổng giá trị xuất khẩu của tỉnh.
Giai đoạn 2001-2005, kim ngạch nhập khẩu tăng bình quân 34,4%/năm, trong khi giai đoạn 2006-2010, mức tăng trung bình giảm xuống còn 24,0%/năm, với tổng kim ngạch đạt khoảng 1.914 tỷ USD Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu bao gồm nguyên liệu, phụ liệu gia công và máy móc thiết bị Khu vực kinh tế FDI chiếm hơn 90% tổng giá trị nhập khẩu toàn tỉnh.
2.2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tính đến cuối năm 2010, tỉnh Tây Ninh có 206 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 970,9 triệu USD Trong đó, lĩnh vực công nghiệp chiếm khoảng 82% tổng vốn đăng ký, trong khi nông nghiệp chiếm hơn 8%, các ngành khác có tỷ trọng không đáng kể.
Xét về số dự án, giai đoạn 2005-2008 Tây Ninh thu hút được nhiều dự án nhất (trung bình hơn
Từ năm 2005 đến 2010, Tây Ninh chỉ thu hút trung bình 25 dự án mỗi năm, với vốn đầu tư đăng ký đạt gần 100 triệu USD, thấp hơn nhiều so với các tỉnh lân cận như Bình Dương và Đồng Nai Đến cuối năm 2010, Bình Dương đã có 2.170 dự án với tổng vốn đăng ký 14,13 tỷ USD, trong khi Đồng Nai ghi nhận 1.060 dự án với vốn đăng ký 16,79 tỷ USD, cho thấy khoảng cách lớn trong việc thu hút FDI giữa Tây Ninh và các tỉnh này.
Số liệu được sử dụng trong bài viết do Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Tây Ninh cung cấp, tuy nhiên, nó có sự chênh lệch với số liệu được công bố bởi Tổng cục Thống kê trên website chính thức của họ.
(199 dự án và vốn đăng ký 919,2 triệu USD)
15 Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Tây Ninh (2011)
Hình 9 - Số dự án và vốn đăng ký FDI tỉnh Tây Ninh qua các năm
(Nguồn: Sở Kế Hoạch và Đầu Tư Tây Ninh (2011), Danh mục các dự án FDI tại Tây Ninh )
Tỉnh Tây Ninh có suất đầu tư trung bình trên một dự án thấp nhất trong khu vực Đông Nam Bộ, chỉ đạt khoảng 4.7 triệu USD/dự án So với bình quân khu vực là 8.6 triệu USD (không tính các dự án dầu khí tại Bà Rịa - Vũng Tàu), Bình Dương có suất đầu tư 6.5 triệu USD, Đồng Nai đạt 15.8 triệu USD, và bình quân cả nước là 15.6 triệu USD (bao gồm cả dầu khí).
Bảng 8 - Đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo địa phương đến năm 2010 Địa phương Số dự án Vốn đăng ký
Vốn đầu tư/dự án (triệu USD)
(Nguồn: Tổng cục Thống kê (2011), Đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép phân theo địa phương)
Số dự án Vốn đăng ký
Dự án FDI tại Tây Ninh chủ yếu tập trung vào các ngành thâm dụng lao động như may mặc, giày da, dệt nhuộm và chế biến nông sản Tính đến cuối năm 2010, tổng số lao động làm việc trong khu vực FDI đạt khoảng 56,800 người, với mỗi dự án FDI (tổng cộng 149 dự án) trung bình sử dụng khoảng 380 lao động.
Giai đoạn 2006-2010, khu vực FDI đóng góp bình quân 47.6%/năm vào giá trị sản xuất công nghiệp (GTSXCN) của tỉnh, thấp hơn so với khu vực Đông Nam Bộ (55.2%) và các tỉnh như Bình Dương (69.5%) và Đồng Nai (80%) Giá trị xuất khẩu của khu vực FDI chiếm 79.4% tổng xuất khẩu toàn tỉnh, trong khi nhập khẩu chiếm 93.6% Sản phẩm chủ yếu của các doanh nghiệp FDI là hàng xuất khẩu và hàng gia công tạm nhập tái xuất Hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu, phụ liệu gia công và máy móc thiết bị phục vụ cho khu vực FDI Trong năm 2005, khu vực FDI chỉ đóng góp 15.8% vào GDP, và sau 5 năm, tỷ lệ này chỉ tăng lên 18.5%.
Bảng 9 - Tỷ trọng đóng góp vào GTSXCN của khu vực FDI
(Nguồn: tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống kê, 2011)
Các dự án FDI tại Tây Ninh có đặc điểm chủ yếu là quy mô nhỏ và thâm dụng lao động, với mức đầu tư thấp và tỷ trọng đóng góp vào giá trị sản xuất công nghiệp (GTSXCN) và GDP chưa cải thiện đáng kể Mặc dù tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho lao động phổ thông tại tỉnh, nhưng chủ yếu là cho những công việc giản đơn.
Nghiên cứu khoa học cấp tỉnh về việc xác định và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các sản phẩm công nghiệp tại Tây Ninh trong bối cảnh hội nhập đã chỉ ra 17 số liệu quan trọng Những số liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình hiện tại cũng như tiềm năng phát triển của ngành công nghiệp địa phương, từ đó giúp xây dựng các chiến lược hiệu quả nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh và thúc đẩy sự phát triển bền vững cho tỉnh Tây Ninh.
Ninh hiện chưa thể hiện rõ lợi thế cạnh tranh so với các tỉnh lân cận TPHCM, mặc dù có nhiều đặc điểm thuận lợi khác Do đó, tiềm năng của tỉnh này vẫn chưa được khai thác một cách tối ưu.
Đến cuối năm 2010, đã có 05 khu công nghiệp (KCN) hoạt động với tổng diện tích 4326 ha, trong đó 02 khu hoàn chỉnh hạ tầng và tỷ lệ lấp đầy trên 80% Các KCN đã cho thuê 274.73/2162,66 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy 12.7% Tính đến thời điểm này, các KCN thu hút 161 dự án với tổng vốn đăng ký 641.1 triệu USD, trong đó 125 dự án FDI chiếm hơn 80% tổng vốn FDI toàn tỉnh Kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 456 triệu USD (73% toàn tỉnh), trong khi nhập khẩu là 240 triệu USD (63%) Ngành nghề chủ yếu là gia công hàng may mặc, da giày, dệt nhuộm và sản xuất sản phẩm nhựa Khoảng 35 ngàn lao động đang làm việc tại các KCN, với quy mô dự án chủ yếu nhỏ từ 2 đến 4 triệu USD, thâm dụng lao động, tương tự mặt bằng chung về FDI của tỉnh.
Tây Ninh đã quy hoạch 09 khu công nghiệp (KCN) và 21 cụm công nghiệp với tổng diện tích 9.174 ha đến năm 2020, bao gồm các KCN trong khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và Xa Mát Tuy nhiên, tỷ lệ lấp đầy các KCN hiện tại còn thấp và luồng vốn đầu tư đang giảm Do đó, tỉnh cần tập trung hỗ trợ và xúc tiến đầu tư để lấp đầy các KCN hiện tại trước khi mở thêm KCN mới, nhằm tránh lãng phí tài nguyên và nguồn lực.
18 Ban Quản lý khu kinh tế Tây Ninh (2011)
Thực trạng năng lực cạnh tranh tỉnh Tây Ninh
Các yếu tố lợi thế tự nhiên của địa phương
3.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Tây Ninh, tỉnh biên giới giữa Việt Nam và Campuchia, có đường biên dài 240 km và 02 cửa khẩu quốc tế là Mộc Bài và Xa Mát Tỉnh giáp ranh với Bình Dương, Bình Phước, TPHCM và Long An, và thị xã Tây Ninh nằm cách TPHCM 99 km về phía Tây Bắc theo quốc lộ 22.
Tây Ninh đóng vai trò là cửa ngõ giao lưu quốc tế quan trọng giữa Việt Nam và các nước láng giềng như Campuchia, Thái Lan Tỉnh này cũng có vị trí chiến lược trong việc trao đổi hàng hóa giữa các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh kinh tế trọng điểm phía Nam.
Khí hậu Tây Ninh ôn hòa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Khu vực này có chế độ bức xạ dồi dào, nhiệt độ cao và ổn định Nhờ vị trí nằm sâu trong lục địa, Tây Ninh ít chịu ảnh hưởng của bão và các yếu tố thiên nhiên bất lợi khác.
Có 05 loại đất chính với tổng diện tích 402,817 ha; trong đó nhóm đất xám chiếm tỷ trọng lớn nhất khoảng 85.63%, phân bố ở địa hình cao; đặc điểm chung là thành phần cơ giới nhẹ, dễ thoát nước, phù hợp với nhiều loại cây trồng ngắn ngày, dài ngày, lâu năm Đây là một lợi thế để phát triển vùng nguyên liệu cây công nghiệp như cao su, mía, mì, điều…Nhóm đất đỏ vàng cũng đặc biệt phù hợp với cây công nghiệp, trồng rừng nhưng chiếm tỷ trọng không lớn, khoảng 6,850 ha, hay 1.7%, được phân bố vùng đồi núi ở huyện Tân Biên, Tân Châu
Tây Ninh sở hữu tiềm năng đất đai phong phú, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp chế biến nông sản Tuy nhiên, nhiều vùng đất phù hợp cho việc trồng cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao vẫn còn hoang hóa và chưa được khai thác hoặc quy hoạch một cách hợp lý.
Nguồn nước mặt chủ yếu phụ thuộc vào hoạt động của hai con sông lớn là Sông Sài Gòn và Sông Vàm Cỏ Với độ dốc lòng sông nhỏ, cả hai sông này có khả năng gây lũ chậm, ảnh hưởng đến nguồn cung cấp nước cho khu vực.
Hồ chứa nước Dầu Tiếng, nằm trên thượng nguồn sông Sài Gòn, là công trình thủy lợi lớn nhất Việt Nam với dung tích 1,5 tỷ m3 và diện tích 27.000 ha, trong đó 20.000 ha thuộc huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh Hồ Dầu Tiếng có ảnh hưởng đáng kể đến nguồn nước mặt, nước ngầm và môi trường sinh thái của khu vực, đồng thời còn tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển ngành thủy sản, một lĩnh vực chưa được khai thác nhiều.
Nguồn nước ngầm tại địa bàn có sự phân bố rộng rãi, với lưu lượng lớn và chất lượng tốt Trong mùa khô, nước ngầm vẫn có thể được khai thác một cách hiệu quả, đảm bảo đáp ứng nhu cầu cho sinh hoạt và sản xuất.
Tây Ninh sở hữu nguồn nước mặt và nước ngầm dồi dào, chất lượng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt là ngành thủy sản Bên cạnh đó, nguồn nước này còn đáp ứng đủ nhu cầu cho sản xuất công nghiệp và sinh hoạt Hiện tại, hệ thống cấp nước sinh hoạt và sản xuất công nghiệp của Tây Ninh có tổng công suất thiết kế khoảng 12,000 m3/ngày đêm.
Tây Ninh sở hữu nhiều khoáng sản phi kim loại quan trọng như than bùn, đá vôi, cuội, sỏi, cát, sét và đá xây dựng Than bùn có trữ lượng 16 triệu tấn, phân bố dọc sông Vàm Cỏ Đông, chất lượng cao, phục vụ sản xuất phân vi sinh cho nông nghiệp Đá vôi có trữ lượng khoảng 100 triệu tấn, trong khi cuội, sỏi, cát đạt khoảng 10 triệu m3 Đất sét dùng sản xuất gạch ngói có trữ lượng 16 triệu m3, phân bố rộng rãi trong tỉnh Đá laterit và đá xây dựng có trữ lượng lần lượt khoảng 4 triệu m3 và 1.3 – 1.4 triệu m3, chủ yếu tại núi Phụng và núi Bà Đen Với đặc điểm tự nhiên thuận lợi, Tây Ninh có tiềm năng phát triển nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, nhưng cần tận dụng hiệu quả lợi thế này để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh ở cấp độ địa phương
3.2.1 Cơ sở hạ tầng xã hội
3.2.1.1 Lao động và chất lượng nguồn lao động
Dân số trung bình của tỉnh Tây Ninh năm 2010 đạt 1,075,341 người, với cơ cấu dân số trẻ Nhóm tuổi từ 0-14 chiếm 23.8%, trong khi tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động ngày càng tăng, từ 59.8% năm 2001 lên 62.3% năm 2005.
Năm 2010, tỷ lệ lao động ở Việt Nam đạt 68,1%, trong khi tại Bình Dương con số này là 77% Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nguồn nhân lực trong tương lai Tuy nhiên, cơ cấu dân số trẻ cũng đặt ra thách thức lớn, khi số lượng người bước vào độ tuổi lao động hàng năm khá cao Tỉnh Tây Ninh đang đối mặt với những yêu cầu cấp bách trong việc giải quyết vấn đề việc làm, xóa đói giảm nghèo và nâng cao giáo dục, đặc biệt là đào tạo nghề.
Bảng 10 - Quy mô dân số và lực lượng LĐ tỉnh Tây Ninh (giai đoạn 2005-2010)
I Dân số từ 15 tuổi trở lên 79.1% 79.4% 80.0% 76.2% 76.1% -0.08%
1 Số người hoạt động kinh tế 58.2% 58.6% 58.3% 57.7% 57.6% 0.13% 1.1 Có việc làm thường xuyên 57.3% 57.3% 57.5% 56.9% 56.8% 0.20%
1.2 Không có việc làm thường xuyên 0.9% 1.3% 0.8% 0.8% 0.9% -0.07%
2 Số người không hoạt động kinh tế 20.9% 20.9% 21.7% 18.5% 18.5% -0.22%
II Lực lượng trong độ tuổi
III Lực lượng LĐ đang LV 57.3% 57.3% 57.5% 56.9% 56.8% 0.20%
(Nguồn: Cục Thống kê Tây Ninh (2011), NGTK tỉnh Tây Ninh năm 2010)
Từ năm 1999 đến nay, chất lượng nguồn nhân lực của Tây Ninh đã được cải thiện nhưng vẫn còn ở mức thấp Cụ thể, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo giảm từ 73,2% vào năm 1999 xuống 55% vào năm 2010 Ngành nông nghiệp có tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo cao nhất với 63,04%, tiếp theo là ngành công nghiệp với 50,02%, và thấp nhất là ngành dịch vụ với 45,85%.
Cơ cấu giữa các cấp đào tạo hiện tại chưa hợp lý, dẫn đến trình độ kỹ năng của lao động không đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp của tỉnh Cụ thể, năm 2010, chỉ có 6.74% người tốt nghiệp cao đẳng và đại học trở lên, 3.63% tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp, 5.07% tốt nghiệp trung cấp và cao đẳng nghề, cùng với 17.89% có trình độ sơ cấp nghề.
Cơ cấu lao động theo trình độ học vấn đã có sự cải thiện rõ rệt, với tỷ lệ lao động tốt nghiệp trung học cơ sở và trung tâm giáo dục thường xuyên đang tăng lên Đồng thời, tỷ lệ người lao động mù chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học cũng giảm dần qua các năm Cụ thể, vào năm 1999, tỷ lệ lao động có trình độ tốt nghiệp tiểu học chiếm 31,4%.
Tính đến năm 2010, tỷ lệ dân số có trình độ đại học tại Tây Ninh đạt 23.8%, trong khi trình độ trung học cơ sở chiếm 33.21% và trung học phổ thông là 15.91% Đến năm 2010, tỷ lệ này đã tăng lên lần lượt là 43.87% và 27.64% Mặc dù vậy, tỷ lệ biết chữ của dân số từ 15 tuổi trở lên tại tỉnh Tây Ninh chỉ đạt 92.81%, thấp hơn mức trung bình của vùng Đông Nam Bộ là 96.3%.
Hình 10 - Trình độ học vấn của nhân lực Tây Ninh năm 2010
(Nguồn: Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Tây Ninh (2011), Đề án Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Tây Ninh thời kỳ 2011-2020)
Chất lượng đội ngũ lao động ngày càng được cải thiện, tuy nhiên, tốc độ phát triển vẫn còn chậm so với các nước trong khu vực Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo vẫn còn cao, đặc biệt là trong nhóm công nhân kỹ thuật.
Tình hình giáo dục và đào tạo lao động tại Việt Nam hiện nay cho thấy sự chênh lệch trong chất lượng lao động Tỷ lệ lao động chưa biết chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học vẫn còn cao, trong khi tỷ lệ tốt nghiệp tiểu học và trung học cơ sở có sự gia tăng Tuy nhiên, việc đào tạo lao động vẫn chủ yếu tập trung vào trình độ sơ cấp nghề, với mức tăng từ 8.67% năm 2005 lên 17.89% năm 2010, đặc biệt ở các khu vực công nghiệp và dịch vụ Ngược lại, tỷ lệ lao động có trình độ trung cấp, cao đẳng nghề, cao đẳng, đại học và sau đại học lại tăng rất thấp, phản ánh thực trạng công nghệ của các doanh nghiệp còn yếu kém, chủ yếu dựa vào lao động phổ thông.
Nếu không kịp thời khắc phục xu hướng này, tỉnh Tây Ninh sẽ gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế trong những năm tới, dẫn đến tình trạng "thừa nhưng vẫn thiếu lao động." Điều này sẽ chỉ cho phép tồn tại những dự án đầu tư lạc hậu, không mang lại giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế Với chất lượng và trình độ hiện tại, việc làm chủ các phương tiện kỹ thuật và tiếp thu công nghệ tiên tiến sẽ trở nên rất khó khăn.
3.2.1.2 Đào tạo và dạy nghề
Tỉnh hiện chỉ có một trường Cao đẳng Sư phạm và chưa có trường đại học, chủ yếu cung cấp các lớp đại học tại chức và từ xa, nhưng chất lượng chương trình thường kém, dẫn đến đầu ra không đáp ứng được nhu cầu nhân lực có trình độ cho nền kinh tế Ngoài ra, tỉnh có hai trường Trung cấp chuyên nghiệp về Kỹ thuật và Y tế Đến năm 2010, mạng lưới dạy nghề gồm 198 cơ sở chủ yếu là nhỏ và không chuyên nghiệp, với 03 trường trung cấp nghề và 03 trung tâm dạy nghề, trong đó một trung tâm chưa hoạt động do thiếu trang thiết bị Mặc dù cơ sở công lập chỉ chiếm 8.58%, nhưng vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo nghề chính quy Tình hình đào tạo nghề hiện tại khó có thể đáp ứng nhu cầu thị trường lao động.
Trong giai đoạn 2006-2010, ngân sách nhà nước dành cho giáo dục, đào tạo và dạy nghề trung bình đạt 831 tỷ đồng mỗi năm Tuy nhiên, trong tổng vốn đầu tư cho cơ sở vật chất và đào tạo chuyên nghiệp, tỷ lệ chi cho dạy nghề chỉ chiếm 2.8%.
19 Sở Lao động - Thương Binh và Xã hội tỉnh Tây Ninh (2011, tr 18-30)
Tại các trường Trung cấp nghề và trung tâm dạy nghề trong tỉnh, đội ngũ giáo viên gồm 129 giáo viên chính thức, cùng với giáo viên thỉnh giảng và hợp đồng ngắn hạn Tỷ lệ học sinh/giáo viên khoảng 33, dẫn đến tình trạng thiếu hụt và không ổn định về số lượng giáo viên, đồng thời kỹ năng thực hành của họ còn yếu và ít có cơ hội nâng cao trình độ Về chất lượng, chỉ có 3.1% giáo viên có trình độ thạc sĩ, 90.7% có trình độ đại học, và 6.2% có trình độ cao đẳng trở xuống.
Cơ cấu lao động và chất lượng nguồn lao động đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của các tỉnh thành trên toàn quốc Tỉnh Tây Ninh hiện đang đối mặt với những thách thức liên quan đến cơ cấu lao động, cần được cải thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.
Cơ cấu vàng hiện nay mang lại lợi thế lớn cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong khu vực và thu hút các dự án FDI có trình độ công nghệ cao Tuy nhiên, chất lượng lao động và hệ thống đào tạo nghề còn hạn chế, khiến việc cải thiện chất lượng lao động trở nên khó khăn Do đó, tỉnh Tây Ninh cần nhận thức rõ tầm quan trọng của nguồn lao động và triển khai chính sách phù hợp để phát huy lợi thế này, đồng thời thu hút lao động trình độ cao từ các tỉnh lân cận nhằm giải quyết tình trạng cung cầu lao động trình độ thấp hiện tại.
Tổng thu ngân sách của tỉnh đã tăng liên tục qua các năm, với tốc độ tăng trung bình hàng năm giai đoạn 2007-2010 đạt 17.5%, trong đó thu trên địa bàn tỉnh tăng 24.6% mỗi năm Mặc dù cơ cấu ngân sách vẫn phụ thuộc vào trợ cấp từ Trung ương, nhưng tỷ trọng này đã giảm dần từ 30% vào năm 2007, 2008 xuống còn 17% trong năm 2009, 2010 Tuy nhiên, thu ngân sách trên địa bàn vẫn chiếm tỷ trọng khiêm tốn trong tổng nguồn thu ngân sách so với các tỉnh trong khu vực, với tỷ lệ 57% vào năm 2009, trong khi Bình Dương đạt 81%.
Bảng 11 – Cơ cấu thu ngân sách 2007-2010 (tỷ đồng)
Giá trị Tỷ lệ Giá trị Tỷ lệ Giá trị Tỷ lệ Giá trị Tỷ lệ
Thu bổ sung từ NS cấp trên 939 30% 1,156 31% 645 17% 862 17%
(Nguồn: Cục Thống kê Tây Ninh (2011), NGTK tỉnh Tây Ninh năm 2010)
Hình 11 – Cơ cấu thu ngân sách
(Nguồn: Cục Thống kê Tây Ninh (2011), NGTK tỉnh Tây Ninh năm 2010)
Bảng 12 – So sánh cơ cấu thu ngân sách 2009 (tỷ đồng)
Năm 2009 Tây Ninh Bình Dương
Giá trị Tỷ lệ Giá trị Tỷ lệ Tổng thu ngân sách địa phương (triệu đồng) 3,904 100% 17,673 100%
Thu bổ sung từ ngân sách Trung ương 645 17% 262 1%
Huy động đầu tư theo K3, Đ8 Luật NSNN 210 5% 0 0%
Thu kết dư ngân sách 128 3% 2,508 14%
Thu chuyển nguồn ngân sách năm trước 700 18% 685 4%
(Nguồn: Bộ Tài chính (2011), Quyết toán thu chi ngân sách năm 2009 của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương)
Cơ cấu thu ngân sách (tỷ đồng)
Thu trên địa bàn Thu bổ sung từ NS cấp trên Thu khác
Bảng 13 – Cơ cấu thu ngân sách trên địa bàn Tây Ninh (tỷ đồng)
TỔNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
I Thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước 83.8% 59.7% 63.3% 63.5% 66.2%
Thu từ DNNN trung ương 8.2% 4.6% 4.8% 5.0% 6.5%
Thu từ DNNN địa phương 33.8% 7.4% 7.0% 4.5% 6.7%
Thu từ DN có vốn đầu tư nước ngoài 5.3% 4.0% 6.9% 4.7% 4.6% Thu từ khu vực ngoài quốc doanh 13.0% 15.9% 17.1% 16.9% 20.2%
Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao 3.4% 2.8% 3.8% 5.7% 6.4%
II Thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế
TTĐB, VAT hàng NK do Hải quan thu 11.3% 10.4% 9.6% 6.8% 6.3%
III Các khoản thu huy động để lại chi quản lý qua NSNN 29.6% 27.6%
Thu xổ số kiến thiết 24.6% 24.2%
(Nguồn: tác giả tổng hợp từ NGTK Tây Ninh năm 2010 và báo cáo Quyết toán ngân sách năm 2009, 2010 của tỉnh Tây Ninh)
NLCT ở cấp độ DN
3.3.1 Chất lượng môi trường kinh doanh và cơ sở hạ tầng kỹ thuật
3.3.1.1 Chất lượng môi trường kinh doanh
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng chỉ số NLCT cấp tỉnh (PCI) để đánh giá chất lượng môi trường kinh doanh tại các tỉnh Chỉ số PCI được thiết lập nhằm đo lường mức độ thuận lợi của môi trường kinh doanh, chất lượng điều hành kinh tế và nỗ lực cải cách hành chính của chính quyền địa phương, từ đó thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam.
Bảng 16 - Tổng hợp kết quả chỉ số PCI 2007-2011 tỉnh Tây Ninh
Năm Điểm tổng hợp Kết quả xếp hạng Nhóm điều hành
(Nguồn: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2012),
Chỉ số năng lực cạnh tranh tranh cấp tỉnh PCI)
Từ năm 2006 đến 2011, điểm số PCI của Tây Ninh đã có sự gia tăng liên tục, mặc dù thứ hạng lại giảm dần Tỉnh đã tiến bộ từ nhóm Trung bình và Tương đối thấp lên nhóm Khá, và đến năm 2011, đã thuộc nhóm Tốt Điều này cho thấy môi trường kinh doanh tại Tây Ninh đang có những chuyển biến tích cực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế tư nhân.
Theo báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam năm 2012, Tây Ninh ghi nhận một số chỉ số PCI cao như chi phí gia nhập thị trường (đứng thứ 7/63 cả nước), tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất (3/63), và chi phí không chính thức (2/63) Tuy nhiên, một số chỉ số quan trọng khác như đào tạo lao động, tính năng động của lãnh đạo tỉnh, và dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp vẫn nằm dưới mức trung bình Đáng chú ý, một số chỉ số đã có sự cải thiện tích cực như tính minh bạch, tiếp cận thông tin, và thiết chế pháp lý.
Bảng 17 - Tổng hợp kết quả chỉ số thành phần PCI tỉnh Tây Ninh 2006-2011
STT Chỉ số thành phần PCI 2006 PCI 2007 PCI 2008 PCI 2009 PCI 2010 PCI 2011
5 Chi phí không chính thức 6.12 6.99 6.96 7.51 6.66 8.57
10 Ưu đãi DNNN 4.42 4.60 6.56 Điểm tổng 48.35 53.92 45.09 59.03 57.93 60.34
(Nguồn: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2012),
Chỉ số năng lực cạnh tranh tranh cấp tỉnh PCI)
Từ năm 2005 đến nay, Tây Ninh luôn xếp hạng thấp nhất hoặc gần cuối trong khu vực Đông Nam Bộ, chỉ vượt qua tỉnh Bình Phước vào các năm 2007, 2009 và 2010 Điều này cho thấy các tỉnh lân cận đã có sự cải thiện đáng kể trong chất lượng môi trường kinh doanh, tạo ra áp lực cạnh tranh lớn đối với việc thu hút đầu tư vào Tây Ninh.
Bảng 18 – So sánh chỉ số PCI 2007-2011
Tỉnh, thành PCI 2007 PCI 2008 PCI 2009 PCI 2010 PCI 2011 Điểm Xếp hạng Điểm Xếp hạng Điểm Xếp hạng Điểm Xếp hạng Điểm Xếp hạng
Bình Phước 50.37 49 53.71 32 56.15 42 57.24 36 65.87 8 Đồng Nai 62.33 16 59.62 15 63.16 18 59.49 25 64.77 9 Tây Ninh 53.92 35 45.1 56 59.03 28 57.93 33 60.43 25
(Nguồn: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2012),
Chỉ số năng lực cạnh tranh tranh cấp tỉnh PCI)
3.3.1.2 Cơ sở hạ tầng giao thông
Hạ tầng giao thông tỉnh Tây Ninh đã được chú trọng đầu tư trong thời gian qua, nhưng do nguồn lực hạn chế, hệ thống hạ tầng chưa được phát triển đồng bộ và chưa đáp ứng đủ nhu cầu phát triển của địa phương.
Mạng lưới giao thông đường bộ của tỉnh chủ yếu dựa trên 2 tuyến Quốc lộ, 43 tuyến tỉnh lộ,
326 tuyến huyện lộ và mạng đường giao thông nông thôn tạo thành hệ thống các trục dọc và trục ngang phân bố tương đối đều trên toàn tỉnh
Quốc lộ 22 là tuyến đường xuyên Á dài 58,6 km, kết nối quốc lộ 1A từ TP.HCM đến tỉnh Tây Ninh và Campuchia qua cửa khẩu quốc tế Mộc Bài (huyện Bến Cầu) Đường có bề rộng 18 m với 4 làn xe, đạt tiêu chuẩn cấp II Chính phủ đã quy hoạch xây dựng đường cao tốc TP.HCM – Mộc Bài dài 55 km dự kiến hoàn thành vào năm 2020.
Quốc lộ 22B, dài 87.675 km, nằm trong tỉnh Tây Ninh, kết nối quốc lộ 22 tại Thị trấn Gò Dầu đến cửa khẩu quốc tế Xa Mát (huyện Tân Biên) đi Campuchia Tuyến đường này đạt tiêu chuẩn cấp III với 2 làn xe, đóng vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng của địa phương và khu vực Mặc dù có tầm quan trọng lớn, cả hai tuyến quốc lộ vẫn chưa được đầu tư tương xứng Đường quốc lộ 22 là cửa ngõ giao thông duy nhất nối với TPHCM, đồng thời là đầu mối quan trọng cho vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ.
Tỉnh Tây Ninh chưa tận dụng được lợi thế giao thông từ các tỉnh lân cận như Bình Dương, Đồng Nai để kết nối đến các điểm quan trọng như sân bay Long Thành và cảng Cái Mép – Thị Vải Trong khi đó, các tỉnh như Bình Dương, Đồng Nai, và Long An đã khai thác hiệu quả sự phát triển này, nhờ vào vị trí gần các sân bay và cảng lớn Để phát triển hơn nữa, Tây Ninh cần quy hoạch các tuyến đường kết nối đến những khu vực giao thông phát triển, nhằm thu hút đầu tư và thúc đẩy kinh tế địa phương.
Các tuyến tỉnh lộ và huyện lộ kết nối đến các khu công nghiệp (KCN) chưa được triển khai đồng bộ, gây ảnh hưởng đến khả năng thu hút đầu tư Ví dụ, tuyến đường chính vào KCN Bourbon An Hòa vẫn chưa được mở rộng mặc dù KCN đã hoạt động gần 4 năm và thu hút đầu tư rất kém Tình trạng tương tự cũng diễn ra tại các KCN Chà Là, Phước Đông – Bời Lời và các cụm công nghiệp khác.
Tây Ninh không có hệ thống sông ngòi phong phú như các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nhưng vẫn sở hữu hai con sông chính là sông Vàm Cỏ Đông và sông Sài Gòn, giúp kết nối với các tỉnh trong khu vực Mặc dù lòng sông rộng và sâu, thuận lợi cho tàu lớn, nhưng cầu Gò Dầu hiện tại chưa đạt tiêu chuẩn cho tàu lớn, dẫn đến việc chưa khai thác được hết tiềm năng giao thông của sông.
Ngoài ra, còn nhiều bến và cảng sông nhỏ cho phép phương tiện neo đậu và xếp dỡ hàng hóa, chủ yếu phục vụ cho các phương tiện có tải trọng từ 10-20 tấn Tuy nhiên, các bến này vẫn chỉ là tạm thời và chưa có cầu tàu Hiện tại, các bến cảng phục vụ cho các khu công nghiệp vẫn chỉ nằm trong quy hoạch và chưa đáp ứng được nhu cầu cấp thiết.
Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông tại tỉnh Tây Ninh hiện vẫn còn nhiều hạn chế, không tương xứng với vai trò chiến lược của nó trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế.
3.3.2 Trình độ phát triển cụm ngành
Theo định nghĩa của Giáo sư Michael Porter, cụm ngành là “một nhóm công ty và các tổ chức liên kết gần gũi về mặt địa lý trong một lĩnh vực cụ thể, kết nối bởi những điểm tương đồng và hỗ trợ lẫn nhau.” Tuy nhiên, hiện tại, Tây Ninh vẫn chưa phát triển được cụm ngành nào đúng nghĩa.
Tỉnh sở hữu lợi thế về đất đai và khí hậu lý tưởng cho việc phát triển các cây công nghiệp như cao su, điều, mía và mì, cùng với ngành chế biến nông sản Tuy nhiên, hiện tại, sản phẩm chủ yếu chỉ dừng lại ở mức sơ chế như mủ cao su, hạt điều và tinh bột mì, dẫn đến giá trị gia tăng không cao Nếu các ngành này được phát triển mạnh mẽ thành cụm ngành, tỉnh có thể tận dụng hiệu quả hơn những lợi thế từ điều kiện tự nhiên sẵn có.
Tóm lại, nhân tố trình độ phát triển cụm ngành hiện tại vẫn chưa phát triển nhưng đã manh nha và sớm hình thành trong tương lai
3.3.3 Trình độ công nghệ sản xuất công nghiệp 24
Các chỉ số thành phần Kỹ thuật (T), Con người (H), Thông tin (I), và Tổ chức (O) lần lượt đạt giá trị 2.40; 3.57; 4.43; và 4.32 Trong đó, hai thành phần I và O đạt mức Trung bình, trong khi T và H có chỉ số thấp Chỉ số điểm đóng góp của công nghệ (CN) là 3.48, cũng nằm dưới mức trung bình (Xem phụ lục 6, phụ lục 7 và phụ lục 8)
Bảng 19 - Chỉ số công nghệ theo loại hình DN
STT LOẠI HÌNH DN Điểm